Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

Đại học Cần Thơ chào hàng “công nghệ 4.0”

Huỳnh Kim
Chủ Nhật,  13/1/2019, 09:51 


(TBKTSG) - Bước vào năm mới 2019, trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) đã đưa ra lời mời gọi với mong muốn các doanh nghiệp và các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặt hàng nhà trường để ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp và thủy sản trong xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

Trường Đại học Cần Thơ giới thiệu một số mô hình ứng dụng công nghệ 4.0 của nhà trường hôm 28-12-2018. Ảnh: Huỳnh Kim

Tại một hội thảo mới đây về đề tài này, GS.TS. Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng trường ĐHCT, nói: “Chúng tôi sẵn sàng liên kết với các doanh nghiệp và các tỉnh, thành vùng ĐBSCL thực hiện các mô hình, các dự án cụ thể để nông dân có thể ứng dụng được công nghệ 4.0. Mong các địa phương và doanh nghiệp đặt hàng bài bản với ĐHCT”.

Theo GS. Hà Thanh Toàn, nhiều nhà khoa học đã cảnh báo là đất đai vùng ĐBSCL đang trong quá trình thoái hóa do thâm canh nông nghiệp, chạy theo số lượng và sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc hóa học trong thời gian dài. Đây là lý do để ĐHCT đẩy mạnh đào tạo và nghiên cứu ứng dụng công nghệ 4.0 vào nông nghiệp cho ĐBSCL để có chuỗi sản phẩm sạch, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong hệ thống siêu thị trong và ngoài nước, đồng thời gia tăng lợi tức cho nông dân.

Ông cho biết, ĐHCT đã có những mô hình thực tế cả về nông nghiệp, thủy sản và môi trường trong khi nhu cầu của các địa phương đang tăng. Do vậy, đây là lúc các bên cần đẩy mạnh hợp tác để giúp nông dân ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp.

Theo TS. Lương Vinh Quốc Danh (khoa Công nghệ, ĐHCT), quy mô thị trường nông nghiệp thông minh trên thế giới từ 5,1 tỉ đô la Mỹ năm 2016 dự báo sẽ đạt 15,34 tỉ đô la vào năm 2025. Riêng ở Việt Nam, dù Chính phủ đang chủ trương “chuyển từ nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp thông minh” nhưng đa số nông dân vẫn quen canh tác, nuôi trồng theo kinh nghiệm, truyền thống; sự liên kết giữa nghiên cứu, quản lý với chuyển giao, ứng dụng còn rời rạc. Ngoài ra, sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL vẫn là quy mô nhỏ, không tập trung, trên 97% doanh nghiệp là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí rất nhỏ.

Ông Danh cho biết ĐHCT đang cùng một số doanh nghiệp và các địa phương ở ĐBSCL, ở Lâm Đồng ứng dụng hiệu quả nhiều loại hình công nghệ 4.0, thông qua điện thoại thông minh, trong làm vườn, trồng lúa, nuôi tôm cá, chăn nuôi gia súc. Các thiết bị và công nghệ 4.0 do ĐHCT lắp đặt và ứng dụng phần nhiều là “Made in Vietnam”, phù hợp thực tế, giá thấp hơn giá hàng nhập khẩu.

Thí dụ, thiết bị giám sát độ ẩm của đất “từng phút một” để qua đó lập trình thời gian tưới nước cho vườn cam ở Bình Thủy (Cần Thơ) đã tiết kiệm được 25% nước tưới. Thiết bị giám sát thông số môi trường ao nuôi tôm cá từ điện thoại di động đã giúp nhiều người nuôi ven biển ĐBSCL phát hiện sớm nguồn nước ô nhiễm, kịp ngăn thủy sản chết hàng loạt, giúp giảm chi phí nhân công và tiền điện. Thiết bị tự động hóa chăn nuôi gia súc đã giúp một đàn bò ở Lâm Đồng tăng lượng sữa, xử lý thức ăn thừa, khai thác sữa hợp lý. Những công nghệ khác trong trồng rau thủy canh, trồng dưa lưới nhà màng, chiếu sáng đèn LED cho thanh long... giúp tăng sản lượng, chất lượng và rút ngắn thời gian canh tác.

Riêng việc ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV) giám sát ruộng lúa ở Định Thành hợp tác với tập đoàn Lộc Trời (An Giang) từ năm 2015, tuy đem lại nhiều kết quả tốt nhưng theo ông Danh hiện đang gặp khó vì Thông tư 36/CP về quản lý thiết bị UAV, nên phải dừng chương trình ứng dụng này.

Theo PGS.TS. Lê Văn Vàng (Trưởng khoa Nông nghiệp, ĐHCT), nhà trường đã cùng với Công ty Murata (Nhật Bản) sử dụng hệ thống cảm biến tự động quan trắc độ mặn trong đất và nước để phục vụ canh tác. Công việc này đang được làm tại Kiên Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Cà Mau, áp dụng với lúa, cây ăn trái và cả lúa - tôm. Các kết quả quan trắc đã giúp cho bà con nông dân biết quản lý nước, điều chỉnh thời vụ và thời điểm sử dụng nước hiệu quả hơn, từ đó tăng được lợi nhuận.

Riêng với lĩnh vực thủy sản, khoa Thủy sản trường ĐHCT đang ứng dụng công nghệ lọc sinh học và tuần hoàn nước tại một số địa phương ĐBSCL đối với tôm sú, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng, cá tra, cá điêu hồng, cá trê vàng, cá bớp, cá chình, cua biển… Theo GS.TS. Nguyễn Thanh Phương, Phó hiệu trưởng ĐHCT, nhà trường sẵn sàng hợp tác tập huấn, chuyển giao công nghệ tuần hoàn này cho các đơn vị, doanh nghiệp, cả trong sản xuất và nuôi thương phẩm.

Về việc ứng dụng cơ giới hóa trong chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao, theo TS. Trương Chí Thành (Viện Nghiên cứu nông nghiệp Yanmar Việt Nam), ĐHCT và Viện Yanmar đang hợp tác ứng dụng kỹ thuật cấy lúa sử dụng mạ khay mật độ cao; kỹ thuật cấy lúa kết hợp bón vùi phân; sử dụng máy gặt đập liên hợp thế hệ mới với hệ thống định vị thông minh SA-R.

Tất cả những mô hình này, theo GS. Hà Thanh Toàn, trường ĐHCT sẵn sàng thực hiện theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp và địa phương với những ký kết cụ thể, trong đó nhà trường bắt đầu luôn từ việc đào tạo nguồn nhân lực ngay trong thực tế, yếu tố quyết định cho sự thành công.

Về vấn đề này, TS. Lương Vinh Quốc Danh đề nghị các đối tác của mình hợp tác bốn việc: tăng cường đào tạo người biết ứng dụng công nghệ cao, đổi mới giáo trình giảng dạy; tạo điều kiện về vốn, thuế, tập huấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại, hợp tác xã; tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu, quản lý và chuyển giao ứng dụng; tăng đầu tư cho nghiên cứu sử dụng công nghệ phù hợp thực tiễn và hạ giá thành. “Không thể có nông nghiệp 4.0 với nguồn nhân lực 0.4”, ông Danh nhấn mạnh.

* Đã đăng TBKTSG Online 13-1-2019:

Cao Lanh, Hoi An jointly promote local tourism

By Huynh Kim
Monday,  Jan 7, 2019,14:21 (GMT+7)

Prime Minister Nguyen Xuan Phuc (3rd R) visits a mango farm in Cao Lanh City, Dong Thap Province, in August 2017. This year, Cao Lanh City and Hoi An City will collaborate to promote local tourism - PHOTO: HUYNH KIM

CAN THO – Cao Lanh City in Dong Thap Province and Hoi An City in the central province of Quang Nam this year will execute agreements involving tourism, signed by end-2018, Le Thanh Cong, the Cao Lanh City Party chief, told a press briefing held in Cao Lanh on January 5.

The briefing was held to launch “Safe farm produce fair” and “Nga Tu Den Dau Market” (Oil Lamp Intersection Market), with the attendance of Nguyen Su, former Party chief of Hoi An City, who gave practical advice for Dong Thap on ways of developing local tourism effectively, especially community tourism.

Su, who has been following the success of Hoi An tourism, said that Hoi An had achieved considerable success with tourism as the city’s leaders had welcomed all feedback from local residents and selected appropriate opinions that could be applied to developing local tourism.

Su cited some examples of local tourism achievements supported by local residents in Hoi An.

The “Ancient City Night” project, for instance, was realized thanks to feedback from local residents and has attracted many tourists with its local cultural products, said Su. Lanterns, a traditional item in Hoi An, have been shipped to multiple countries or sold on online platforms, helping many sellers become billionaires. Previously, people could only sell lanterns during the Mid-Autumn Festival.

Also, the Cham river islet has emerged as a tourism destination from its origins as a poor island. Last year alone, local residents here earned VND28 billion by selling tourism-related tickets and offering homestay services, with daily tickets sold limited to 3,000. Notably, no plastic bags are seen anywhere on the island.

The former Party chief of Hoi An predicted that culture-based tourism will see more sustainable success in the long run, adding that local authorities and tourism operators should be patient and outline clear and broad roadmaps for developing local tourism successfully.

As for Cao Lanh City, Su recommended that the city develop tourism concepts based on distinct local features to avoid offering generic tourism products similar to those found in other Mekong Delta provinces that provide water-based and fruit garden services to tourists.

Su referenced the 200-year-old temple dedicated to the worship of Do Cong Tuong in Cao Lanh, noting that Dong Thap could consider developing the temple into a tourist destination, as few people have heard of it to date.

According to Phan Van Thuong, chairman of Cao Lanh City’s government, the city plans to promote connectivity tourism this year. Specifically, tourists to Dong Thap will enjoy a wide selection of tourism products, including cultural and spiritual tourism, traditional handicraft villages, flower villages, safe farm produce fairs and various types of accommodations.

* Đã đăng Saigon Times Daily 7-1-2019:

Chủ Nhật, 6 tháng 1, 2019

Bài thơ viết ở Campuchia năm 1985

(Nhân kỷ niệm 40 năm bảo vệ biên giới Tây Nam, 1979 - 2019)
Huỳnh Kim

Ôi đêm nay lại nghe đài báo bão
Tưởng cuối năm rồi thiên tai sẽ qua đi
Có ngờ đâu khúc ruột miền Trung vẫn âm thầm đón đợi
Gánh chịu những cơn đau từ trời đất lạ kỳ.

Đất nước mình hai đầu đang đánh giặc
Đêm mưa ở rừng xa mà nhớ nước quá đỗi gần
Mở đài đợi một tiếng thơ Tổ quốc
Bỗng hun hút dội về tin bão cuối năm

Đâu chỉ mình tôi quê Quảng Nam lo bão
Hay anh Tuấn Bình Trị Thiên nóng ruột đợi tin nhà
Mà thằng Út, thằng Tâm ở Tịnh Biên, Minh Hải
Cũng đau đáu lòng cái tin bão xa

Thằng Út trách ông trời lạ kỳ không có mắt
Mùa nước nổi Tịnh Biên con cá lóc cặp hiên nhà
Đám điên điên vàng bông nồi canh chua thơm phức
Sao miền Trung con nước chẳng hiền hòa

Ai đã viết câu thơ miền Trung như đôi vai oằn hai đầu gánh thóc
Để xốn xang đêm nay lòng dạ chúng tôi

Cuối năm rồi
Sắp sửa vào xuân
Chúng tôi đang dời tổ đài lên phía trước
Đèo Gà ơi, người hãy cùng ta vượt
Cho tan dần cơn bão cuối năm.

Sa-mát-đeng, Campuchia, tháng 12-1985
HK


* Đã đăng Báo Cần Thơ Chủ nhật, 6-1-2019:

Làm du lịch phải có cái nhìn của ông "địa chủ"

Huỳnh Kim
Chủ Nhật,  6/1/2019, 12:03 

(TBKTSG Online) - Từ năm 2019, thành phố Cao Lãnh (Đồng Tháp) và thành phố Hội An (Quảng Nam) sẽ xúc tiến mạnh các nội dung đã ký kết từ cuối năm 2018 về hợp tác phát triển du lịch.


Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thăm một hội quán nông dân chuyên trồng xoài tại Cao Lãnh, Đồng Tháp, tháng 8-2017. Ảnh: Huỳnh Kim

Đó là thông tin do ông Lê Thành Công, Bí thư Thành ủy thành phố Cao Lãnh, cho biết tại cuộc họp báo tại Cao Lãnh ngày 5-1, nhân việc khai trương “Phiên chợ nông sản an toàn” và “Chợ ngã tư đèn dầu” với tư vấn của ông Nguyễn Sự, cựu Bí thư Thành ủy thành phố Hội An.

Ông Lê Thành Công nói với báo giới: “Từ nay Cao Lãnh bắt đầu học làm du lịch từ kinh nghiệm của Hội An, nhất là du lịch cộng đồng. Hai bên đã ký kết hợp tác từ năm 2018".

Ông Nguyễn Sự, người gắn bó với thành công của du lịch Hội An, nói: “Hội An làm được một số việc vì lãnh đạo thành phố biết lắng nghe người dân. Kinh nghiệm của Hội An là học cả cái trúng và cái trật để tránh”.

Ông chia sẻ, từ góp ý của người dân mà Hội An có Đêm phố cổ thu hút du khách bằng sản phẩm văn hóa của chính địa phương. Riêng sản phẩm truyền thống lồng đèn, hồi xưa chỉ bán lẻ tẻ vào mùa Trung thu thì nay hàng vạn người dân đang xuất khẩu qua nhiều nước, bán hàng qua mạng, nhiều người thành tỉ phú.

Hay như đảo Cù Lao Chàm trước kia là đảo nghèo thì năm 2018 người dân ở đây đã thu 28 tỉ đồng tiền bán vé du lịch với các dịch vụ homestay; không bán quá 3.000 vé/ngày và đây là nơi hoàn toàn không xái túi ni lông.

Gần đây là các tour bơi thuyền thúng trong rừng dừa ở xã Cẩm Thanh, Hội An giúp người dân nơi đây thu được 16,5 tỉ đồng tiền vé bán cho du khách trong và ngoài nước trong năm 2018.

Còn ở khu phố cổ Hội An, lúc đầu tiền in vé tốn 57 triệu đồng/năm trong khi tiền bán vé là 52 triệu đồng. Đến năm 2018, người dân khu phố cổ đã thu được gần 300 tỉ đồng tiền vé du lịch.

“Làm du lịch, gắn với văn hóa thì trường tồn, gắn với thực dụng thì chết. Và xin đừng nóng ruột; phải kiên trì, phải có cái nhìn của ông địa chủ, đừng có cái nhìn của ông nông dân chỉ có vài sào ruộng. Có đi thì mới có đến”, ông Nguyễn Sự nói.

Với Cao Lãnh, ông Nguyễn Sự góp ý, cũng như Hội An, nên đi từ đất và người của mình; đừng để sản phẩm trùng lắp với nhiều nơi khác ở miền Tây, cũng sông nước, vườn cây ăn trái… Thí dụ, Cao Lãnh có nhà thờ ông Đỗ Công Tường, ngôi nhà cổ gần 200 năm tuổi (cổ hơn nhà cổ Hội An hơn 100 năm tuổi), nhưng nay vẫn chưa được nhiều người biết tới.

Hay như ở xã Tân Thuận Đông, nơi có những vườn xoài và thiên  nhiên “đẹp mê hồn” như rừng dừa xã Cẩm Thanh của Hội An, nhưng khách đi qua đôi khi lại gặp cảnh người dân đang xử lý thuốc cho cây xoài. Như vậy không thể làm du lịch sinh thái được.

Còn với “làng mê bồ”, nơi có sản phẩm truyền thống độc đáo của người nông dân Đồng Tháp chuyên nghề đan mê bồ trữ lúa thì nay đã dần mất thị trường. Ông Nguyễn Sự góp ý: “Sản phẩm cũ không bán được, tại sao chúng ta không chuyển đổi, làm những sản phẩm mới bán cho du khách cũng từ nguyên liệu tre trúc này?”.

Theo ông Phan Văn Thương, Chủ tịch UBND thành phố Cao Lãnh, từ năm 2019, Cao Lãnh sẽ phát triển du lịch theo hướng kết nối. Du khách trong và ngoài nước đến với Đồng Tháp sẽ sống với không gian du lịch văn hóa tâm linh, làng nghề truyền thống, làng hoa, mô hình “Cây xoài nhà tôi”, “Cây cam nhà mình”, du lịch cộng đồng với các hội quán nông dân, làng hoa Sa Đéc, các phiên chợ nông sản an toàn, khu chợ ẩm thực và nhiều dịch vụ lưu trú khác của thủ phủ vùng đất sen hồng Đồng Tháp.

Một số nội dung ký kết hợp tác du lịch giữa Cao Lãnh và Hội An:

- Hai thành phố thường xuyên chia sẻ, trao đổi thông tin; tham gia các sự kiện, lễ hội về văn hóa, du lịch, thương mại hàng năm tại hai địa phương.


- Hội An chia sẻ kinh nghiệm tổ chức các sự kiện văn hóa, lễ hội; định hướng bảo tồn và phát huy các giá trị làng nghề truyền thống với Cao Lãnh.


- Tạo điều kiện để doanh nghiệp hai thành phố gắn kết, tìm cơ hội hợp tác, liên kết trong đầu tư các lĩnh vực có tiềm năng và lợi thế; hỗ trợ trao đổi các sản phẩm hàng hóa có thế mạnh của mỗi địa phương, nhất là sản phẩm phục vụ du lịch, dịch vụ, thương mại.


- Định kỳ tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm trong lãnh đạo, điều hành về phát triển kinh tế xã hội.


Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2018

Đại học Cần Thơ chào hàng công nghệ 4.0 trong nông nghiệp


Huỳnh Kim
Thứ Sáu,  28/12/2018, 13:51 


(TBKTSG Online) - Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) mong các doanh nghiệp và các địa phương ở ĐBSCL đặt hàng nhà trường trong ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất nông nghiệp.

Các đại biểu tham quan các mô hình ứng dụng công nghệ 4.0 bên ngoài hội thảo tại Đại học Cần Thơ sáng ngày 28-12-2018. Ảnh: Huỳnh Kim

Đó là nhấn mạnh của GS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng trường ĐHCT, tại hội thảo “Ứng dụng công nghệ 4.0 trong nông nghiệp”, tổ chức sáng nay, 28-12. Giáo sư Toàn cho biết tại một hội thảo chuyên đề về đất mới đây ở ĐHCT, các nhà khoa học đã cảnh báo đất đai vùng ĐBSCL đang trong quá trình thoái hóa do thâm canh nông nghiệp, thủy sản chạy theo số lượng và sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc hóa học trong thời gian dài.

Đây là lý do để ĐHCT đẩy mạnh đào tạo và nghiên cứu ứng dụng công nghệ 4.0 vào nông nghiệp bao gồm thủy sản cho ĐBSCL để có chuỗi sản phẩm sạch, chất lượng phục vụ hệ thống siêu thị trong, ngoài nước và gia tăng lợi tức cho nông dân.

“Chúng tôi sẵn sàng liên kết với các doanh nghiệp và các tỉnh, thành vùng ĐBSCL thực hiện các mô hình, dự án cụ thể để nông dân có thể ứng dụng được công nghệ 4.0 nhằm mục đích này. Mong các địa phương và doanh nghiệp đặt hàng bài bản với ĐHCT”, ông Toàn nói.

Theo TS Lương Vinh Quốc Danh (Khoa Công nghệ, ĐHCT), thị trường nông nghiệp thông minh trên thế giới từ 5,1 tỉ đô la Mỹ năm 2016 dự báo sẽ đạt 15,34 tỉ đô la vào năm 2025. Riêng ở Việt Nam, dù Chính phủ đang chủ trương “chuyển từ nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp thông minh” nhưng đa số nông dân vẫn quen canh tác, nuôi trồng theo kinh nghiệm, truyền thống và sự liên kết giữa nghiên cứu, quản lý với chuyển giao, ứng dụng còn rời rạc. Ngoài ra, quy mô sản xuất nhỏ, không tập trung ở ĐBSCL với trên 97% doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ.

Ông Danh cho biết trường ĐHCT đang cùng một số doanh nghiệp và địa phương ở ĐBSCL, Lâm Đồng ứng dụng hiệu quả nhiều loại hình của công nghệ 4.0, thông qua điện thoại thông minh, trong làm vườn, trồng lúa, nuôi tôm cá, chăn nuôi gia súc.

Các thiết bị và công nghệ 4.0 do ĐHCT lắp đặt và ứng dụng phần nhiều được sản xuất tại Việt Nam, phù hợp thực tế, giá thành thấp hơn hàng nhập khẩu. Thí dụ, thiết bị giám sát độ ẩm của đất “từng phút một” để tưới nước từ điện thoại thông minh cho vườn cam ở Bình Thủy (Cần Thơ), đã tiết kiệm được 25% nước tưới.

Thiết bị giám sát thông số môi trường ao nuôi tôm cá từ điện thoại di động đã giúp nhiều người nuôi ven biển ĐBSCL phát hiện sớm nguồn nước ô nhiễm, kịp ngăn thủy sản chết hàng loạt, giúp giảm chi phí nhân công và tiền điện.

Thiết bị tự động hóa chăn nuôi gia súc đã giúp một đàn bò ở Lâm Đồng tăng lượng sữa, xử lý thức ăn thừa, khai thác sữa hợp lý. Những công nghệ khác trong rồng rau thủy canh, trồng dưa lưới nhà màng, chiếu sáng đèn led cho thanh long... giúp tăng sản lượng, chất lượng và rút ngắn thời gian canh tác.

Riêng công nghệ bay không người lái (UAV) giám sát ruộng lúa ở Định Thành hợp tác với Tập đoàn Lộc Trời (An Giang) từ năm 2015, tuy đem lại nhiều kết quả tốt nhưng, theo ông Danh, “gặp khó vì Thông tư 36/CP về quản lý thiết bị UAV, nên chúng tôi phải dừng chương trình ứng dụng này”.

TS Lương Vinh Quốc Danh cũng cho biết trong thực tế, điều khó khăn nhất trong triển khai ứng dụng công nghệ 4.0 của ĐHCT tại nhiều nơi là nguồn nhân lực, cả ở địa phương, doanh nghiệp và nông dân.

Ông kiến nghị 4 việc: tăng cường đào tạo người biết ứng dụng công nghệ cao, đổi mới giáo trình giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng; tạo điều kiện về vốn, thuế, tập huấn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trang trại, hợp tác xã; tăng cường gắn kết giữa nghiên cứu, quản lý và chuyển giao ứng dụng; tăng đầu tư cho nghiên cứu sử dụng công nghệ phù hợp thực tiễn và hạ giá thành.

“Không thể có nông nghiệp 4.0 với nguồn nhân lực 0.4”, TS Danh nhấn mạnh.

* Đã đăng TBKTSG Online 28-12-2018:

Sau một năm thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP: Nhiều việc cần làm ngay


Nghị quyết số 120/NQ-CP (Nghị quyết 120) của Chính phủ về Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, ban hành ngày 17-11-2017, liên quan tới gần 30 bộ, ngành và các tỉnh, thành vùng ĐBSCL. Trước đó, phát biểu tại hội nghị chuyên đề để có Nghị quyết này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh, ĐBSCL phát triển theo hướng “thuận thiên” là chính. Tại một hội thảo mới đây ở Trường Đại học Cần Thơ nhìn lại thực tế một năm thực hiện Nghị quyết này, nhiều ý kiến cho rằng còn rất nhiều việc phải làm.

Huỳnh Kim

Những việc đã làm

Sau một năm thực hiện Nghị quyết 120, từ cấp Chính phủ đến địa phương, nhiều tổ chức quốc tế và trong nước đã triển khai được nhiều việc. Ngày 18-12-2017, Văn phòng Chính phủ có Công văn 13449/VPCP-NN về việc lập kế hoạch triển khai Nghị quyết 120, trong đó giao Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan lập Chương trình hành động tổng thể, báo cáo Thủ tướng phê duyệt trước tháng 2-2018 và yêu cầu các bộ, ban ngành báo cáo tiến độ thực hiện hằng năm. Tháng 12-2017, Bộ TN&MT đề xuất các nhiệm vụ, đề án, dự án triển khai thực hiện Nghị quyết 120. Đến ngày 26-3-2018, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) ban hành Quyết định số 337 về Kế hoạch triển khai Nghị quyết 120, xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”. Quy hoạch này lồng ghép hợp phần 6 của dự án “Chống chịu khí hậu tổng hợp và sinh kế bền vững vùng ĐBSCL” dưới sự tài trợ của Ngân hàng Thế giới.

3 hình minh họa: TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng VIỆN Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Trường Đại học Cần Thơ

Mô hình lúa - tôm, mô hình tôm rừng sinh thái ở vùng ven biển ở Kiên Giang, Cà Mau,
Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh.

Mô hình đa canh kết hợp lúa - màu - chăn nuôi trên các vùng giồng cát, vùng nước lợ
ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre…

Mô hình lúa - màu (sen, rau), lúa - cây ăn trái, kết hợp du lịch ở vùng ngập lũ sâu hoặc lũ nông ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long… (Mô hình đa canh ở vùng ngập lũ).

Trong khi đó, các địa phương vùng ĐBSCL đã lập danh mục các dự án đầu tư phát triển bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trình Bộ TN&MT và Bộ KH&ĐT. Các tỉnh cũng đã liên kết phát triển bền vững ở tiểu vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau và Duyên hải phía Đông; triển khai dự án phát triển du lịch ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu và triển khai các hoạt động sử dụng kinh phí địa phương và gắn kết dự án tài trợ.

Nhiều tổ chức quốc tế và trong nước cũng đã tổ chức nhiều hoạt động. Đại sứ quán Hà Lan, Tổ chức IUCN phối hợp Bộ TN&MT, Hội Nông dân Việt Nam và Trường Đại học Cần Thơ đã tổ chức hội thảo, tập huấn, truyền thông điệp cốt lõi của Kế hoạch ĐBSCL nhằm hỗ trợ triển khai Nghị quyết 120 cho 13 tỉnh, thành ĐBSCL. Trong tháng 11 vừa qua, Đại sứ quán Hà Lan cũng đã làm việc về cơ chế tài chính thực hiện Nghị quyết này.

Tuy nhiên, TS Đặng Kiều Nhân, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL thuộc Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng: “Các dự án mang tính tổng thể, cấp thiết như nội hàm của Nghị quyết 120 thì chưa phát triển”. Về kinh phí thực hiện Nghị quyết 120, vấn đề bao trùm, tại cuộc họp của Quốc hội hồi tháng 11-2018, Thủ tướng nói Chính phủ sẽ dành 12.000 tỉ đồng cho phát triển bền vững ĐBSCL, nhưng chưa rõ giai đoạn nào?...

Và nhiều việc cần làm ngay

Theo GS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, ĐBSCL đang đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện, lâu dài, cấp bách để phát triển bền vững. “Trường Đại học Cần Thơ cam kết đồng hành với các tỉnh, thành vùng ĐBSCL và sẵn sàng làm đầu mối trong công cuộc phát triển ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu”. 

Ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, cho rằng sớm có một ban điều hành hay ban điều phối cho cả vùng ĐBSCL để thực hiện Nghị quyết 120. Từ đó, theo ông, cần thống nhất sớm hiện thực hóa quan điểm của Nghị quyết này là chuyển từ “tư duy sản xuất nông nghiệp” sang “tư duy kinh tế nông nghiệp”. “Để làm được điều này, cần có đội ngũ các chuyên gia, nhà khoa học kết nối với cộng đồng doanh nghiệp để dẫn dắt người nông dân thay đổi cách làm ăn. Trường Đại học Cần Thơ hoàn toàn có thể hỗ trợ về khoa học công nghệ để làm được việc này” - ông Hoan kỳ vọng.

Nhiều ý kiến của các chuyên gia, nhà quản lý cho rằng để thực hiện Nghị quyết 120, cần thống nhất những vấn đề lớn liên quan đến nhận thức về mặn - hạn - lũ; về quản lý khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên. Cần có đề án liên kết bốn tiểu vùng tại ĐBSCL. Cần cập nhật và hệ thống hóa số liệu, dữ liệu; thực hiện công tác điều tra cơ bản; hoàn thiện và bổ sung hệ thống cơ chế, chính sách; rà soát, hoàn thiện và xây dựng các phương án quy hoạch. Ngoài ra, phải điều tra cơ bản về tài nguyên và môi trường vùng ĐBSCL. Điều tra tổng hợp tài nguyên, môi trường vùng biển Tây Nam bộ phục vụ phát triển kinh tế biển. Xây dựng các điểm quan trắc, giám sát, cảnh báo và dự báo môi trường; hệ thống giám sát nguồn nước; dự báo, cảnh báo hạn hán và xâm nhập mặn. Tham gia cập nhật, hoàn thiện và công bố định kỳ kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho đồng bằng.

Các quyết sách thực hiện Nghị quyết 120 cần phù hợp với kiến thức bản địa và cần áp dụng khoa học tiên tiến mà không gây hối tiếc hoặc chỉ hối tiếc thấp. Bởi  thực tế nông dân ĐBSCL đã tự tìm được nhiều giải pháp thích ứng hợp với tinh thần “thuận thiên” của Nghị quyết 120. Như mô hình lúa - tôm; mô hình tôm - rừng sinh thái ven biển ở Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh; mô hình đa canh kết hợp lúa - màu - chăn nuôi trên các vùng giồng cát, vùng nước lợ ở Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre; lúa - cây ăn trái kết hợp du lịch ở vùng ngập lũ sâu hoặc lũ nông ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long…

Chính phủ cần sớm ban hành chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội trong nước và nước ngoài cho đầu tư, phát triển vùng ĐBSCL, tập trung vào hạ tầng giao thông, thủy lợi. Đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, triển khai các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu chung cho toàn vùng...

* Đã đăng Báo Cần Thơ Online 25-12-2018: