Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

ĐBSCL trước những thách thức về phát triển bền vững

Nguyễn Hữu Thiện

(TBKTSG Online) - Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với ba thách thức lớn do tác động của biến đổi khí hậu, phát triển thiếu bền vững và thủy điện Mêkông. TBKTSG Online giới thiếu bài viết của chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL Nguyễn Hữu Thiện, phân tích ba thách thức trên và đề xuất định hướng chiến lược vì sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL.

Nông dân đang giăng lưới bắt cá trong mùa lũ ở Tiền Giang. Ảnh: Trung Chánh

Trụ cột kinh tế và hệ sinh thái ĐBSCL

ĐBSCL có hai trụ cột kinh tế chính là nông nghiệp và thủy sản, gồm thủy sản nuôi và thủy sản tự nhiên, nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Tất cả những hợp phần kinh tế khác ở ĐBSCL như công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều từ 2 trụ cột kinh tế này xây lên. Hai trụ cột kinh tế chính này lại dựa vào nền tảng chính là đất và nước. Đất và nước của ĐBSCL phụ thuộc vào dòng chảy và quá trình vận chuyển phù sa sông Mêkông, nước mưa và sự tương tác với biển, thủy triều.

Trong quá khứ, ở ĐBSCL không có từ “mùa lũ” mà chỉ có từ “mùa nước nổi” để chỉ mùa nước dâng do nước từ phía thượng nguồn sông Mêkông đổ về, từ tháng 6-7 đến tháng 12 hàng năm. Lũ ở ĐBSCL lên chậm và rút chậm “hiền hòa” hơn so với ở miền Trung và miền Bắc, do có hệ thống điều hòa tự nhiên gồm 3 “túi nước” có khả năng hấp thu nước, điều hòa dòng chảy: hồ Tonle Sap ở Campuchia, vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười. Các khối nước khổng lồ được hấp thu, tạm trữ trong các vùng trũng này điều hòa dòng chảy, giảm ngập cho phía hạ lưu trong mùa lũ và bổ sung dòng chảy vào mùa khô, giúp cân bằng mặn-ngọt cho vùng ven biển.

ĐBSCL có vị trí đặc biệt nhất trong toàn bộ lưu vực Mêkông vì tiếp giáp với biển. ĐBSCL chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều từ Biển Đông, tạo nên chế độ thủy văn nội địa và dòng chảy độc đáo. Dòng chảy đảo chiều và mực nước thay đổi trong ngày gọi là “nước ròng, nước lớn”; thay đổi 2 lần trong tháng theo âm lịch gọi là “nước rong, nước kém”; và hai mùa gọi là “mùa khô và mùa nước nổi”.

Chế độ thủy triều độc đáo với nước ròng, nước lớn hàng ngày, nước rong nước kém hàng tháng, và mùa khô, mùa nước là vô cùng quan trọng cho sự hình thành và tồn tại của ĐBSCL. Chế độ thủy văn này hình thành sinh thái, văn hóa, lối sống và sinh kế của người dân ĐBSCL. Chế độ thủy triều cũng có tác dụng súc rửa, tự làm sạch cho đồng bằng.

Về sinh thái và kinh tế, ĐBSCL bao gồm một vùng nước ven bờ biển gọi là Mekong Plume.

Trong khoảng 160 triệu tấn phù sa mịn của sông Mêkông, khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước này hàng năm, chưa tính lượng cát, sỏi. Lượng phù sa và cát sỏi này có vai trò rất lớn về địa mạo, giúp bồi lấn ra biển và duy trì bờ biển, tạo nên năng suất thủy sản ven biển, với lượng khai thác khoảng 500.000-726.000 tấn hàng năm.


Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu về mối tương quan giữa lượng phù sa và năng suất thủy sản biển và hình thái địa mạo bờ biển, tầm quan trọng của vùng nước này bị xem nhẹ trong những quy hoạch phát triển ĐBSCL. Thông thường, từ góc nhìn nông nghiệp, nước ngọt ở nội địa, đặc biệt từ góc nhìn ưu tiên cây lúa, nước ngọt chảy ra biển bị xem là phí. Nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nước ngọt chảy ra biển là một quá trình tự nhiên, có vai trò lớn cho vùng ven biển vì nó ảnh hưởng địa mạo, độ mặn, độ đục, và năng suất thủy sản. Vì vậy, vùng nước ven biển này (Mekong Plume) cần được xem là một phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển ĐBSCL.

Phát triển thiếu bền vững

Gia tăng ngập và hạn-mặn

Trong 20 năm qua, rất nhiều diện tích ở 2 túi nước Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã bị bao đê khép kín để canh tác lúa vụ ba.

Trong 11 năm (2000-2012) diện tích lúa vụ 3 ở 4 tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An tăng 7 lần, từ 53.500 ha lên 403.500 ha, đặc biệt ở An Giang và Đồng Tháp. Tăng mạnh nhất năm 2005, chững lại vào 2006-2008, tăng lại vào 2009-2012. Năm 2017, tổng diện tích lúa vụ ba trong mùa lũ trên toàn đồng bằng lên đến 810.000 ha.

Những khối nước khổng lồ ngoài các ô đê bao khép kín này không được hấp thu vào các vùng đồng ngập lũ đã gây gia tăng ngập ở các vùng hạ lưu và chảy hết ra biển trong mùa lũ. Đến mùa khô, hai vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười không có nước để bổ sung cho dòng chính đẩy mặn ra, làm gia tăng xâm nhập mặn vùng ven biển.

Theo Trung tâm quản lý môi trường quốc tế (ICEM), sự tăng diện tích ô đê bao khép kín riêng ở vùng Tứ giác Long Xuyên đã làm giảm khả năng hấp thu lũ của vùng này từ 9,2 tỉ mét khối năm 2000 xuống còn 4,5 tỉ mét khối năm 2011. Lượng nước bị choáng chỗ đã làm tăng ngập ở Thành phố Cần Thơ năm 2011 thêm 4cm. Đê bao khép kín vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã làm tăng mực nước ở Cần Thơ 5cm,ở Mỹ Thuận 3cm.

Canh tác lúa ba vụ trong đê bao khép kín cũng làm cạn kiệt nguồn thủy sản tự nhiên, là nguồn dinh dưỡng quan trọng của người dân nông thôn, và nguồn thu nhập cho những người nghèo không đất ở nông thôn.

Đê bao khép kín cũng ngăn không cho nước lũ vào đồng. Kinh nghiệm cho thấy sau khoảng 20-25 năm, đất đai sẽ cạn kiệt chất dinh dưỡng và chi phí canh tác tăng cao. Một khảo sát của IUCN năm 2014 tại Đồng Tháp cho thấy với một hộ gia đình 5 người canh tác lúa ba vụ, nếu diện tích đất dưới 1 ha thì thu nhập không đủ sinh sống và buộc phải di cư đi nơi khác tìm việc làm. Một nghiên cứu kinh tế đã cho thấy canh tác lúa ba vụ liên tục trong 15 năm trên diện tích 1 ha, nếu cộng cả chi phí đắp, duy tuy, bảo dưỡng đê và các chi phí khác, xã hội sẽ bị lỗ 47,8 triệu đồng. Hay nói cách khác, càng canh tác lúa ba vụ,sẽ càng nghèo thêm.


Khai thác nước ngầm, ô nhiễm nước mặt, sụt lún đất

Báo cáo của Đại học Utrectch, Hà Lan cho biết sự sụt lún liên quan đến khai thác nước ngầm đã tăng dần. Trong 25 năm (1991-2016), ĐBSCL đã sụt lún trung bình 18cm do khai thác nước ngầm. Tốc độ sụt lún trung bình hiện nay do khai thác nước ngầm là 1,1cm/năm, có những nơi sụt lún 2,5cm/năm, cao hơn 10 lần so với tốc độ nước biển dâng.


Trong 25 năm qua, những vùng lớn của ĐBSCL đã bị hạ mực nước ngầm hơn 5m. Tầng nước càng sâu càng sụt giảm nhiều và những vùng sụt giảm mạnh là ở xung quanh các đô thị lớn, các khu công nghiệp có khai thác nước ngầm nhiều như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Tân An. TPHCM có những vùng sụt giảm hình nón đối với tất cả các tầng nước, với mực nước ngầm giảm hơn 20m, có nơi hơn 40m. Báo cáo cũng dự báo rằng với xu hướng nhu cầu nước ngầm ngày càng tăng ở ĐBSCL, tốc độ sụt lún sẽ càng gia tăng trong tương lai gần.

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự phụ thuộc vào nước ngầm. Đối với vùng ven biển, nước ngọt cho sinh hoạt và thủy sản thâm canh chủ yếu dựa duy nhất vào nước ngầm. Đối với vùng nội địa, trên phần lớn ĐBSCL, kể cả ở vùng nông thôn nhiều sông rạch, nguồn nước cho sinh hoạt cũng chủ yếu là nước ngầm do nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng từ nhiều nguồn gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản và quan trọng nhất là nước thải từ nông nghiệp canh tác thâm canh ba vụ lúa một năm chứa nhiều dư lượng phân bón, nông dược.

Việc làm này dẫn tới sự phụ thuộc vào hóa chất nông nghiệp vì đê bao ngăn cản phù sa vào đồng ruộng, làm đất đai bạc màu, chi phí canh tác tăng. Ước tính mỗi năm ĐBSCL tiêu thụ 1,5-2 triệu tấn phân bón và 100.000 tấn nông dược, chưa tính lượng hóa chất sử dụng cho thủy sản và vườn cây ăn trái, tổng cộng 700.000 ha.

Bên cạnh đó, khoảng 100 triệu mét khối nước thải sinh hoạt, 600.000 mét khối chất thải rắn không xử lý đã được xả thẳng ra môi trường nước. Nhiều nhà máy công nghiệp cũng xả thẳng nước thải và chất thải rắn ra sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

Như vậy, vấn đề sụt lún của ĐBSCL đáng lo ngại hơn nhiều so với nước biển dâng (trung bình chỉ khoảng 3mm/năm). Để cứu ĐBSCL khỏi bị chìm nhanh, chỉ có  cách duy nhất là phải giảm khai thác nước ngầm. Đối với vùng ven biển có thể áp dụng các công nghệ lọc nước biển như màng Nano và RO. Đối với vùng nội địa, cần phải khôi phục chất lượng nước mặt bằng cách giảm ô nhiễm từ hai nguồn lớn là công nghiệp và nông nghiệp thâm canh. Cần thay đổi chiến lược nông nghiệp ĐBSCL sang hướng nông nghiệp sạch, giảm thâm canh, chú trọng chất lượng và đầu tư vào chuỗi giá trị nông sản. Công nghiệp cho ĐBSCL nên theo hướng công nghiệp chế biến, hỗ trợ cho nông nghiệp, áo dụng công nghệ hiện đại, giảm ô nhiễm. 

Sạt lở bờ sông, bờ biển do thủy điện và khai thác cát

ĐBSCL do quá trình bồi đắp của phù sa, cát sỏi tạo nên trong quá trình “kiến tạo đồng bằng”. Trong quá trình đó, sạt lở và bồi đắp là một quá trình tự nhiên.

Tuy nhiên, trong quá khứ (trước năm 1992 khi các đập dòng chính sông Mêkông bắt đầu được xây dựng ở Trung Quốc), trong quá trình kiến tạo đồng bằng, tổng lượng bồi đắp của ĐBSCL lớn hơn tổng lượng sạt lở. Trong quá khứ không có hiện tượng sạt lở trên diện rộng và trung bình trong 6.000 năm qua, đồng bằng được mở rộng về phía đông với tốc độ 26m/năm và về hướng mũi Cà Mau với tốc độ 16m/năm, tức là khuynh hướng bồi luôn trội hơn khuynh hướng lở.

Trong 25 năm vừa qua, khuynh hướng sạt lở có khuynh hướng trội hơn khuynh hướng bồi đắp, nhất là trong 10 năm và 5 năm gần đây nhất, sạt lở càng gia tăng. Hiện nay, hơn 50% tổng chiều dài bờ biển của ĐBSCL đang bị sạt lở dữ dội, có nơi bờ biển thụt lùi đến hơn 50m, và trung bình mỗi năm mất khoảng 500 ha đất ven biển. Sạt lở bờ sông cũng đang diễn ra dữ dội trên diện rộng. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờ biển ĐBSCL là 891km.

Có 2 nguyên nhân chính có biến động đáng kể từ sau 1992 làm tăng sạt lở là tải lượng phù sa mịn và lượng cát bị mất đi do khai thác cát trên sông Mêkông. Số liệu của MRC cho biết, so giữa 1992 và năm 2014, tải lượng phù sa mịn sông Mêkông đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm. Số liệu phù sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông.

Trong 10 năm (1998-2008), cát trên sông Tiền và sông Hậu đã bị khai thác rất nhiều. Báo cáo của giáo sư Bravard (Đại học Lyon) và tiến sĩ Goichot (WWF) cho biết, từ 1998 đến 2008 sông Tiền đã mất khoảng 90 triệu tấn vật liệu đáy sông, sông Hậu mất 110 triệu tấn. Tốc độ khai thác hàng năm khoảng 27 triệu mét khối (57 triệu tấn) trong khoảng 2008-2012.

Dự báo sau khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, tải lượng phù sa mịn sẽ giảm 50% một lần nữa, còn 42 triệu tấn, tức ¼ lượng cũ trước năm 1992 và 100% lượng cát sỏi di chuyển ở đáy sông sẽ hoàn toàn bị các đập giữ lại. Khi đó, sạt lở sẽ diễn ra dữ dội hơn, khó có biện pháp tại chỗ nào ở ĐBSCL, công trình hay phi công trình, có thể cưỡng lại được khuynh hướng này.

Các hố xoáy tự nhiên hoàn toàn không phải là nguyên nhân gây sạt lở, vì các hố xoáy là một phần tự nhiên của hệ thống sông Mêkông. Trên toàn sông Mêkông có đến gần 500 hố, có hố sâu đến 90,5m, hố dài nhất đến 17,5km. Ở ĐBSCL có 22 hố tự nhiên đã được khảo sát. Sự thiếu hụt cát mới là nguyên nhân chính làm các hố sâu dịch chuyển và mở rộng.

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, El Nino, La Nina

Biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng mọi mặt đời sống và sản xuất ở ĐBSCL với các biểu hiện như tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưa trái mùa, tăng tần suất các sự kiện cực đoan.

Về nước biển dâng ở ĐBSCL, kịch bản 2016 về nước biển dâng của Bộ TN&MT, dự báo đến cuối thế kỷ 21 là 53cm,  và 55 cm cho vùng Biển Đông và Biển Tây.

Từ sau trận lũ lớn năm 2011, nước lũ về ĐBSCL thường là lũ trung bình và thấp. Đỉnh điểm là lũ thấp cực đoan năm 2015 dẫn đến tình trạng hạn mặn mùa khô 2016. Năm 2016 lũ có về, nhưng vẫn thấp hơn đỉnh trung bình nhiều năm, nên gây ra cảm nhận rằng từ nay ĐBSCL không còn lũ do các đập thủy điện chặn dòng.

Trước tiên nên xét nguyên nhân gây ra lũ thấp. ĐBSCL phụ thuộc lượng nước Mêkông, tổng dòng chảy trung bình 475 tỉ mét khối mỗi năm, trong đó phần Trung Quốc đóng góp 16%, Myanmar 2%, còn lại 82% từ biên giới Lào-Trung Quốc trở xuống, trong đó mưa ở Lào, đông bắc Thái Lan, và Campuchia quan trọng nhất. Mưa tại chỗ ở ĐBSCL khoảng 1,400-2.000mm/năm đóng góp 11%.

Về thủy điện, các đập Trung Quốc và các đập chi lưu là các đập có hồ chứa lớn, trữ nước mùa lũ, xả ra phát điện trong mùa lũ và mùa khô. Còn 11 đập dự kiến trên dòng chính ở Lào và Campuchia vận hành theo ngày, tích nước khoảng 16 giờ, xả ra khoảng 8 giờ.

Trong những năm bình thường, các đập ở Trung Quốc không có khả năng nhiều trong việc kiểm soát nguồn nước do phần đóng góp ít và vì các đập cũng phải xả ra để phát điện. Trong những năm khô hạn, các đập này gia tăng trữ nước và làm tồi tệ thêm tình hình. Năm ngoái, một El Nino cực đoan làm mưa ít kỷ lục trên toàn lưu vực, dẫn đến mực nước mùa lũ thấp kỷ lục, mặn xâm nhập gay gắt ở ĐBSCL. Vậy, nguyên nhân ban đầu của hạn-mặn ĐBSCL là El Nino; thủy điện là tác nhân thứ hai gây tồi tệ thêm chứ không phải là nguyên nhân ban đầu.

El Nino là hiện tượng xảy ra theo chu kỳ 2-7 năm một lần, và có những lần cực đoan dẫn đến khô hạn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các sự kiện cực đoan được dự báo sẽ diễn ra thường xuyên hơ; ví dụ từ 100 năm một lần xuống còn 20-25 năm một lần, nhưng dù sao cũng không phải là tình hình chung cho tất cả các năm. Ngược với El Nino là La Nina có thể dẫn đến mưa lũ nhiều, theo quy luật bù trừ, vì vậy đang khi hạn mặn do El Nino phải luôn luôn dè chừng La Nina sau đó.

Còn 11 đập ở hạ lưu vực, tới nay có 3 đập đã khởi công nhưng chưa hoàn tất, nên chưa phải là nguyên nhân. Sau này khi hoàn tất, trong những năm bình thường các đập này không ảnh hưởng lớn đến mực nước ĐBSCL, nhưng những năm khô hạn mỗi đập có khả năng giữ nước từ 1,5 đến 18 ngày, làm nước về chậm cả tháng khi đi qua chuỗi đập. Khi đó, tình hình sẽ nghiêm trọng.

Tác động của thủy điện Mêkông

Nằm ở phía cuối của lưu vực Mêkông, ĐBSCL chịu tác động rất lớn của sự phát triển thủy điện ở lưu vực Mêkông.

Giảm phù sa mịn

Hiện tượng này gây bạc màu đất, ảnh hưởng nông nghiệp; gây ra hiện tượng “nước đói phù sa” dẫn đến sạt lở bờ sông, bờ biển; giảm lượng dinh dưỡng mang ra biển, ảnh hưởng năng suất thủy sản ven biển trong vùng Mekong Plume. Thiếu phù sa trong vùng nước biển ven bờ, giảm bồi đắp và gia tăng sạt lở bờ biển, nhất là đoạn bờ biển bùn phía Biển Đông từ Sóc Trăng đến mũi Cà Mau và phía Biển Tây từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên. Thiếu dinh dưỡng cho hệ sinh thái thủy sinh, ảnh hưởng đến năng suất thủy sản nước ngọt.

Theo Ủy hội Mêkông quốc tế, so giữa 1992 và 2014, tải lượng phù sa mịn sông Mêkông đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm. Số liệu phù sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông, ước lượng khoảng 30 triệu tấn/năm. Dự báo sau khi 11 đập ở hạ lưu vực xây dựng xong, lượng phù sa mịn còn lại sẽ bị giảm 50% một lần nữa xuống còn 42 triệu tấn/năm.

Chặn toàn bộ cát, sỏi về ĐBSCL

Hiện nay toàn bộ cát sỏi từ phía thượng lưu vực đã bị chặn. Sau khi 11 đập ở hạ lưu vực hoàn tất, 100% cát, sỏi sẽ bị chặn tiếp. Khi đó sạt lở sẽ diễn ra dữ dội đối với bờ sông Tiền, sông Hậu và bờ biển, nhất là đoạn bờ biển cát dài 250km ở vùng cửa sông Cửu Long từ Tiền Giang qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng đến Bạc Liêu.

Mất 100% cá trắng

Khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, 100% lượng cá trắng, tức các loài cá phải di cư ngược dòng hàng năm để sinh sản, sẽ hoàn toàn biến mất. Sự tổn thất cá trắng sẽ ảnh hưởng lớn đến dinh dưỡng và thu nhập của người dân ĐBSCL, nhất là người nghèo nông thôn và ảnh hưởng đến các loài ăn cá và tác động dây chuyền đến toàn bộ hệ sinh thái ĐBSCL.

Ảnh hưởng thủy sản biển

Trong160 triệu tấn tải lượng phù sa mịn sông Mêkông vận chuyển hằng năm, một phần được bồi lắng ở các cánh đồng ngập lũ ở Campuchia và ở ĐBSCL, còn lại khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước ven biển ĐBSCL (vùng Mekong Plume). Khi lượng phù sa và dinh dưỡng này giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất thủy sản vùng ven biển ĐBSCL trong vùng Mekong Plume.

Ảnh hưởng dòng chảy

Đối với ảnh hưởng dòng chảy của các đập thủy điện Mêkông, cần phân biệt giữa các đập ở Trung Quốc và 11 đập ở hạ lưu vực và phân biệt giữa những năm bình thường và những năm đặc biệt khô hạn.

Các đập ở phần Trung Quốc là các đập có hồ chứa lớn, có khả năng tích nước trong mùa lũ, xả ra để phát điện trong mùa khô. Theo lý thuyết, các đập này sẽ làm tăng dòng chảy mùa khô đối với ĐBSCL trong những năm bình thường. Do lượng nước đóng góp vào lưu vực của phần Trung Quốc là nhỏ, chỉ 16% nên các đập này ảnh hưởng không lớn về lượng nước đối với ĐBSCL. Tuy nhiên, trong những năm đặc biệt khô hạn, như năm 2016, các đập này có thể gia tăng trữ nước và làm tình hình khô hạn trầm trọng hơn.

11 đập ở phía hạ lưu vực, về lý thuyết cho nước chảy qua trong ngày (trung bình đóng đập 8 giờ và xả ra phát điện 16 giờ). Trong những năm bình thường, các đập này sẽ không ảnh hưởng lớn về lượng nước và mực nước ở ĐBSCL. Tuy nhiên trong những năm đặc biệt khô hạn, mỗi đập có khả năng lưu nước từ 1,5 ngày đến 18 ngày làm chậm đáng kể dòng chảy đi qua chuỗi đập, làm cho tình trạng hạn-mặn ở ĐBSCL tồi tệ hơn một cách nghiêm trọng.

Kiến nghị chiến lược ứng phó và phát triển

Với biến đổi khí hậu

Do tất cả các dự báo đều hàm chứa sự không chắn chắn, có thể thay đổi, cập nhật trong tương lai, nên áp dụng “Nguyên tắc không hối tiếc” (no-regrets principle) hay còn gọi là “Nguyên tắc cẩn trọng” (precautionary principle), trong đó ưu tiên các hành động thích ứng ít rủi ro tác động ngược, có thể sửa đổi được khi nhận ra sai lầm. Không nên đi vào con đường dẫn vào ngõ cụt, không có đường lùi. Hành động thích ứng phải có cái nhìn tổng thể về không gian, thời gian, đa ngành; tính đến tác động tổng thể lên toàn đồng bằng, tác động đến nơi khác, ngành khác, và về lâu dài.

Cụ thể, nên hạn chế các biện pháp công trình lớn như đắp cửa sông và ngọt hóa, vừa kém hiệu quả, vừa đảo lộn điều kiện tự nhiên, không thể cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất được. Tác động lớn nhất của các công trình ngăn sông, ngăn mặn ở ĐBSCL là làm mất chế độ thủy triều, tạo thành vùng nước tù ô nhiễm, mất sự trao đổi sinh thái với biển, ảnh hưởng sinh thái nội địa và sinh thái biển.

Với công nghiệp

Vì vùng ĐBSCL rất nhạy cảm về môi trường, nhất là môi trường nước, công nghiệp của ĐBSCL chỉ nên ưu tiên đầu tư công nghiệp chế biến để hỗ trợ cho nền nông nghiệp chuyển hướng sang nông nghiệp sạch để nâng cao giá trị của chuỗi giá trị và tránh ô nhiễm nguồn nước mặt.

Với nông nghiệp

Nên chuyển hướng chiến lược sang nông nghiệp bền vững, chú trọng giá trị hơn số lượng để phục hồi đất đai, nguồn nước, và sức chống chịu của đồng bằng. Cần xem xét lại khái niệm và chiến lược an ninh lương thực.

Với sụt lún

Đây là vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều so với nước biển dâng và không thể giải quyết bằng biện pháp công trình. Con đường duy nhất để cứu ĐBSCL là phải giảm sử dụng nước ngầm. Cụ thể, đối với vùng ven biển sử dụng công nghệ (Nano, RO...). Với vùng nội địa, giảm ô nhiễm nước mặt (công nghiệp, nông nghiệp thâm canh).

Với sạt lở

Nguyên nhân chính của tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển trên diện rộng của ĐBSCL là do thiếu hụt phù sa mịn và cát, sỏi gây mất cân bằng trên toàn hệ thống. Dự báo khuynh hướng sạt lở sẽ diễn biến trầm trọng hơn và sẽ không có biện pháp nào ở nội tại ĐBSCL có thể cưỡng lại khuynh hướng này. Chúng tôi kiến nghị những việc cần làm ngay và những việc không nên làm:

- Lập bản đồ cảnh báo độ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân, tránh thiệt hại tài sản, tính mạng.

- Quản lý khai thác cát chặt chẽ để đảm bảo duy trì bờ sông, bờ biển, cần biết rằng trong tương lai không còn nguồn cung cấp cát từ sông Mêkông nữa sau khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất.

- Không nên lấp các hố sâu tự nhiên, vì rất tốn kém và không hiệu quả. Các hố sâu này được hình thành theo quy luật tự nhiên, có vai trò cân bằng động lực, khi lấp các hố này sẽ xuất hiện các hố sâu khác.

- Không nên tiêu tốn nguồn lực vào những biện pháp công trình lãng phí và kém hiệu quả. Các biện pháp công trình như bờ kè, chỉ nên tiến hành ở những nơi tối cần thiết để bảo vệ tài sản, tính mạng người dân trong ngắn hạn. Các biện pháp công trình như bờ kè có thể tạo cảm giác an toàn giả, đến khi bờ kè sụp đổ, thiệt hại sẽ lớn hơn. Bất cứ công trình nào cũng đều có tuổi thọ và chi phí duy tu sẽ tăng theo thời gian.

- Trồng và phục hồi rừng ven biển là rất cần thiết. Tuy nhiên, trồng rừng chỉ khả thi ở những nơi bồi và còn đủ phù sa trong nước. Ở những nơi đang sạt lở và đặc biệt trong tương lai khi phù sa trong nước giảm mạnh, việc trồng rừng sẽ không khả thi.

Quan trọng hơn là cần phải tiếp cận tổng thể ĐBSCL trong thực hiện chiến lược này. Vì hệ tự nhiên ĐBSCL vận hành theo quy luật tự nhiên, nằm trong tổng thể nhất quán. Hành động của một địa phương có thể ảnh hưởng địa phương khác. Hành động của một ngành đơn lẻ có thể ảnh hưởng đến ngành khác. Hành động ngày hôm nay có thể ảnh hưởng đến dài hạn.

Cần đẩy mạnh thực hiện liên kết vùng theo Quyết định 593 của Chính phủ. Cần tính đến vùng nước biển ven bờ, có liên hệ chặt chẽ về sinh thái với ĐBSCL và là một phần quan trọng của nền kinh tế ĐBSCL. Tránh cách làm cục bộ theo địa phương; làm theo kiểu “uống thuốc giảm đau”, thấy đâu trị đó, ngắn hạn mà cần phục hồi sức khỏe của cả hệ thống kinh tế, xã hội, môi trường.

* Đã đăng TBKTSG Online 19-9-2017:

Bệnh viện Quốc tế Phương Châu mở hội nghị khoa học 2017

Huỳnh Kim

Saigon Times Daily

Hội nghị khoa học thường niên năm 2017 của Bệnh viện Quốc tế Phương Châu (Annual Conference of Phuong Chau Internationan Hospital – ACP 2017) tổ chức ở TP Cần Thơ ngày 17-9 đã cập nhật những đề tài mới về sản phụ khoa, hiếm muộn, nhi khoa, nội khoa, ngoại khoa và thẩm mỹ.

Trong một phiên thảo luận tại Annual Conference of Phuong Chau International Hospital vào sáng ngày 17-9-2017 - Ảnh: HUỲNH KIM
Riêng hai vấn đề an toàn sơ sinh và vai trò của người điều dưỡng được xem là trọng điểm của hội nghị năm nay.

Tại 6 phiên thảo luận ở 3 hội trường, hơn 600 đại biểu trong và ngoài nước đã chia sẻ 30 báo cáo khoa học của các bác sĩ và chuyên gia đến từ các bệnh viện ở TPHCM, Hà Nội, Cần Thơ và Jakarta (Indonesia).

Đáng chú ý có các báo cáo: An toàn cho trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh (BV Đại học Y dược TPHCM); Hiệu quả chăm sóc theo phương pháp Kangaroo đối với trẻ non tháng (BV Phụ sản Cần Thơ); Siêu âm Doppler trong chẩn đoán thai chậm tăng trưởng – FRG (Chi hội Siêu âm Việt Nam); Bú mẹ sớm trong sinh mổ; Kiểm soát nhiễm khuẩn trong đơn nguyên sơ sinh; Quản lý rủi ro trong phẫu thuật sản khoa (BV Phương Châu); Sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT – Noninvasive Prenatal Genetic Tesing (BV Hùng Vương); Cập nhật xử lý thai chậm tăng trưởng trong tử cung (BV Từ Dũ); Dị tật bẩm sinh và một số bệnh ngoại khoa sơ sinh (BV Nhi đồng TPHCM); Cập nhật điều trị xuất tinh sớm (BV Bình Dân); Ung thư đại tràng đồng phát – Synchronous Colorectal Cancer (BV Đại học Y dược Cần Thơ); Giải pháp trẻ hóa âm đạo bằng laser (của Dr. Fransiska Mochtar đến từ Promec Clinic, Indonesia)…

Trao đổi với Daily, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hồ, Giám đốc điều hành Bệnh viện Quốc tế Phương Châu, tin tưởng rằng hội nghị này sẽ góp phần phát triển chuỗi giá trị chăm sóc khép kín và toàn diện mà bệnh viện Phương Châu đang thực hiện.

“Đó là chuỗi phục vụ bệnh nhân vùng ĐBSCL khép kín từ chẩn đoán, điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng; kết hợp giữa các chuyên khoa hiếm muộn, nam học, sản – phụ khoa, nhi – sơ sinh và đa khoa cho cả nam và nữ do đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn và trách nhiệm cao phụ trách”, bà Ngọc Hồ nói.

* Đã đăng Saigon Times Daily 18-9-2017:

Doanh nghiệp Nhật muốn đầu tư xử lý môi trường tại ĐBSCL

Huỳnh Kim
Tại buổi làm việc giữa đoàn doanh nghiệp tỉnh Hiroshima và TP Cần Thơ ngày 13-9. Ảnh: Huỳnh Kim

(TBKTSG Online) - Tiếp tục sự hợp tác từ năm 2014, đoàn đại diện của 8 doanh nghiệp tỉnh Hiroshima (Nhật Bản) đã ký kết bản ghi nhớ (MoU) với thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng về việc hợp tác xử lý môi trường tại hai địa phương này và cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Bản ghi nhớ này được ký kết ngay sau khi đoàn doanh nghiệp Hiroshima cùng hơn 200 đại diện doanh nghiệp và nhà quản lý ở ĐBSCL dự hội thảo “Kết nối doanh nghiệp về xử lý môi trường giữa khu vực ĐBSCL và tỉnh Hiroshima - Nhật Bản” tổ chức tại Cần Thơ hôm qua, 12-9.

Ngày 13-9, làm việc tiếp với UBND TP Cần Thơ, đoàn doanh nghiệp Hiroshima cho biết sẽ cùng Cần Thơ, Sóc Trăng và các tỉnh ĐBSCL khác xúc tiến việc hợp tác đầu tư các dự án xử lý rác thải, nước thải, an toàn vệ sinh thực phẩm bao gồm cả tín dụng cho các dự án này, bằng công nghệ Nhật Bản để làm sạch môi trường, nhất là tại các doanh nghiệp và khu công nghiệp.

Ông Kazunari Kawaguchi, đại diện chính quyền tỉnh Hiroshima, trưởng đoàn, cho biết việc thảo luận tại hội thảo với hàng chục doanh nghiệp và lãnh đạo ngành tài nguyên và môi trường các tỉnh ĐBSCL vào ngày 12-9 cho thấy nhu cầu giữa hai bên về xử lý môi trường là rất lớn.

“Dựa vào bản ghi nhớ đã được ký kết, chúng ta sẽ mở ra nhiều cơ hội xúc tiến đầu tư giữa doanh nghiệp Hiroshima với Cần Thơ, Sóc Trăng và nhiều tỉnh ĐBSCL khác”, ông Kawaguchi nói.

Riêng với Cần Thơ, các doanh nghiệp Hiroshima đề nghị sớm hình thành các dự án hợp tác xử lý môi trường bằng công nghệ và cả nguồn vốn từ phía Nhật Bản, cho các doanh nghiệp cả ở trong các khu công nghiệp, về xử lý rác thải, nước thải, bùn thải và vệ sinh thực phẩm.

Phía Nhật Bản cũng đề nghị các doanh nghiệp ĐBSCL nên tái chế nguồn vỏ trấu thành chất đốt thay vì bỏ đi hàng trăm tấn trấu sau mỗi mùa lúa. Họ cũng đề nghị doanh nghiệp Việt Nam nên tái chế rác thải, nước thải, bùn thải thành nguyên liệu hữu ích chứ không chỉ làm sạch môi trường.

Ông Kawaguchi cho biết các doanh nghiệp Hiroshima có đủ kinh nghiệm và công nghệ tiên tiên để hợp tác cùng Cần Thơ và cả vùng ĐBSCL thực hiện các dự án này.

Theo đại diện hai ngân hàng Nhật Bản trong đoàn doanh nghiệp này, phía Hiroshima cũng sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp ĐBSCL về vốn vay để thực hiện dự án.

Ông Takaaki Nishikawa, Trợ lý giám đốc Phòng Kinh doanh quốc tế (Assistant Manager International Business Deparment) Ngân hàng Hiroshima, cho biết đang có hơn 100 doanh nghiệp Nhật Bản làm thủ tục đầu tư vào Việt Nam (90% sản xuất, 10% thương mại).

Theo ông Nishikawa, đa số doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư tại Hà Nội, Hải Phòng và TPHCM với thủ tục thường chỉ mất 1-2 tuần là có giấy phép. Nay các doanh nghiệp Nhật Bản đang muốn mở rộng đầu tư vào ĐBSCL, Gia Lai và các tỉnh quanh Hà Nội nhưng lại ngại thủ tục ở những nơi này vì thường phải mất gần 2  tháng.

“Khi các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Cần Thơ và vùng ĐBSCL, họ mong chính quyền sở tại hỗ trợ thủ tục nhanh như ở Hà Nội, TPHCM. Các doanh nghiệp Nhật Bản cũng rất mong tuyển được nhân viên biết tiếng Nhật”, ông Nishikawa nói.

Trao đổi về các đề nghị này, ông Đào Anh Dũng, Phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho biết chính quyền TP Cần Thơ sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để hỗ trợ các doanh nghiệp hai bên sớm hình thành và thực hiện các dự án xử lý môi trường như đã ký kết.

Ông Dũng giao Sở Tài nguyên và Môi trường TP Cần Thơ làm đầu mối giúp các doanh nghiệp thực hiện việc này, đặc biệt với các đề xuất của phía Nhật Bản về xử lý chất đốt từ vỏ trấu và xử lý nước thải, rác thải, bùn thải thành nguyên liệu hữu cơ.


Về thủ tục đầu tư, ông Dũng nói: “Chúng tôi đang cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là cấp phép đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài. Chúng tôi sẵn sàng tạo điều kiện để các doanh nghiệp Hiroshima triển khai các dự án tại TP Cần Thơ sớm nhất”.

Hợp tác giữa  tỉnh Hiroshima với Cần Thơ và Sóc Trăng từ năm 2014 đến nay

- Tháng 11-2014, Công ty Emax và Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng ký bản ghi nhớ và thực hiện sử dụng máy làm sạch nước loại nhỏ của Nhật.

- Công ty Hinomaru Sangyo và doanh nghiệp ở Sóc Trăng ký kết bản ghi nhớ và thực hiện thử nghiệm chất làm sạch nước tại trang trại nuôi tôm.

- Tứ tháng 3-2016, Công ty Nihon Mikuniya và UBND TP Cần Thơ thực hiện thí nghiệm chứng thực về việc giảm thể tích bùn của hệ thống cống rãnh.

- Từ tháng 4-2016, Công ty Fukukawa xuất khẩu nguyên liệu nhựa tái sinh từ nhựa công nghệp cho các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng.

Nguồn: Tài liệu của đoàn doanh nghiệp Hiroshima họp tại Cần Thơ

* Đã đăng TBKTSG Online 13-9-2017:

* Và tại Saigon Times Daily 14-9-2017:

Khơi thông “điểm nghẽn” để đất… “chín Rồng” cất cánh

Huỳnh Kim

ĐBSCL – vùng đất được mệnh danh là “chín Rồng”, đang rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. Động lực mới cho các mô hình mới này cần phải được bắt đầu chính từ nội lực của vùng, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học, công nghệ và từ doanh nghiệp (DN). 

Nhìn từ góc độ của khu vực kinh tế tư nhân (KTTN), 3 “điểm nghẽn” khiến họ dù có tâm huyết nhưng cũng khó có thể toại nguyện đó là chính sách đất đai chưa phù hợp, tiếp cận vốn còn khó khăn và sự phân bổ thiếu công bằng các nguồn lực tự nhiên.

Theo ông Trần Hữu Hiệp, Ủy viên chuyên trách về kinh tế, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, theo tinh thần  Nghị quyết TƯ5 Khóa XII, đất “chín rồng” sẽ… cất cánh khi “điểm nghẽn” được khơi thông, KTTN sớm được định vị là “động lực quan trọng” của nền kinh tế…


Theo ông Trần Hữu Hiệp, sau hơn 30 năm đổi mới, ĐBSCL đã hình thành các yếu tố của thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, tiền tệ; thị trường lao động và khoa học - công nghệ với sự đóng góp quan trọng của KTTN, trở thành một động lực phát triển của kinh tế vùng. Thời điểm cả châu Á rơi vào cơn “bão tài chính” vào cuối thập niên 1990, nhờ tăng nguồn lực đầu tư, chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát huy vai trò KTTN, vùng ĐBSCL cùng với cả nước đã vượt qua khó khăn.

Sau thế mạnh cây lúa, Đồng bằng sông Cửu Long cần dồn sức đầu tư nhiều cho nông nghiệp công nghệ cao, tạo các chuỗi nông sản chủ lực.  Ảnh CTV

Giai đoạn 2007-2011, khi cả thế giới oằn mình gánh chịu suy thoái kinh tế, tác động mạnh mẽ đến khu vực công nghiệp và dịch vụ, thì một lần nữa, khu vực nông nghiệp và KTTN lại phát huy vai trò “trụ đỡ nền kinh tế” và tính năng động, sáng tạo của mình. Các mô hình sản xuất tư nhân, đặc biệt là “Cánh đồng lớn” và các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị lúa gạo, trái cây, thủy sản được khu vực tư nhân đầu tư phát triển với quy mô lớn hơn, ngày càng gắn kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ.

Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới, nông hộ ở ĐBSCL đã thoát “vòng vây ngăn sông cấm chợ”, vươn lên trở thành những đơn vị “kinh tế nông hộ” năng động; thì tiếp sau đó và cho đến nay, toàn khu vực KTTN đã thể hiện sự nổi trội của mình so với các khu vực quốc doanh và HTX. KTTN, nhất là khối DN dân doanh đã đóng vai trò quyết định trong tạo việc làm, đầu tư, tăng trưởng kinh tế và sự phát triển chung của kinh tế vùng.

Tuy nhiên, công tâm mà nhìn nhận, nền nông nghiệp nhỏ lẻ đang đứng trước thách thức mới, thiếu kết nối sản xuất - thị trường, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu kém của hàng nông sản dẫn đến vòng luẩn quẩn của nông sản "trúng mùa, rớt giá”, thì nông nghiệp đang dần mất đi lợi thế và động lực phát triển.

Tăng trưởng kinh tế thiếu vững chắc, tiềm năng và lợi thế của vùng chưa được đầu tư, khai thác đúng mức. Kinh tế phát triển chủ yếu theo chiều rộng. Việc đầu tư và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tạo ra giá trị gia tăng thấp. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiếu đồng bộ. Mức đầu tư cho vùng ĐBSCL còn thấp, đặc biệt là vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp so với tổng đầu tư toàn xã hội. Hệ thống cơ chế, chính sách cho KTTN còn bất cập đã ảnh hưởng đến sức hút đầu tư của các DN trong và ngoài nước.

Nguồn lực lao động trong nông thôn đang có xu hướng giảm, một bộ phận lao động trẻ ở nông thôn rời bỏ ruộng vườn đến làm việc tại các thành phố lớn ngày càng tăng…
Theo ông Trần Hữu Hiệp, để phát triển, ĐBSCL rất cần những nguồn lực mới, những mô hình phát triển mới với hiệu quả cao hơn, năng suất lao động cao hơn. “Động lực mới cho các mô hình mới này cần phải được bắt đầu chính từ nội lực của vùng, từ nguồn nhân lực bậc cao, từ khoa học và công nghệ và từ DN. Khu vực KTTN cần được định vị là “động lực quan trọng” của nền kinh tế. Nó cần những chính sách mới năng động và quyết liệt để biến các nguồn lực từ yếu tố sản xuất, trở thành nội lực mới từ thị trường bằng mô hình tăng trưởng mới...” ông Hiệp nói.

Khi gia nhập vào Cộng đồng kinh tế ASEAN và hội nhập quốc tế sâu rộng, sẽ có thêm nhiều áp lực cạnh tranh từ bên ngoài, đòi hỏi nâng cao năng lực cạnh tranh nông nghiệp từ bên trong; rất cần sự tham gia mang tính quyết định của nông dân và DN.
Trên cơ sở đó, để phát huy vai trò và phát triển KTTN trong giai đoạn mới, cần tập trung tháo gỡ 3 “điểm nghẽn” lớn là chính sách đất đai, tiếp cận vốn và sự phân bổ công bằng các nguồn lực tự nhiên, xã hội để tạo sự cạnh tranh bình đẳng giữa KTTN với các thành phần kinh tế và chính sách đầu tư phát triển để cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực KTTN.

Từ nhìn nhận này, ông Trần Hữu Hiệp có các đề xuất. Trước tiên,  ĐBSCL cần quy hoạch lại theo hướng tích hợp vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cầu thị trường. Các địa phương cần tạo môi trường thuận lợi để tăng cường các mối liên kết giữa DN với DN, giữa DN với người dân, giữa người dân với người dân, nhằm tổ chức, hình thành mối liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, phát triển mạnh công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ. Trên cơ sở đó giải quyết các “điểm nghẽn” về đất đai cho đầu tư tư nhân, tiếp cận vốn, “đặt hàng” cho việc đào tạo nguồn nhân lực có địa chỉ sử dụng.

Tiếp đến, đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc nông nghiệp ĐBSCL phải theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc cải tiến, đổi mới cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, ưu tiên cho chuỗi nông sản chủ lực lúa gạo, trái cây, tôm, cá tra. Theo ông Hiệp, đây là nền tảng để thu hút KTTN đầu tư phát triển theo hướng phát huy lợi thế vùng.


Điều được xem như đòi hỏi tất yếu chính là việc tăng cường năng lực hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các địa phương trong vùng, giữa ĐBSCL với các vùng miền khác trong cả nước và quốc tế. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm. Gắn với xây dựng và thí điểm các khu nông nghiệp công nghệ cao dựa vào những tiến bộ khoa học - công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học, các mô hình liên kết, quản lý theo tiêu chí hiện đại dựa vào tri thức mới.

Đã đăng Báo CAND:

STF và PNJ trao học bổng cho sinh viên Đại học Cần Thơ

Trung Chánh
Ông Huỳnh Kim Huynh, đại diện STF (trái) và ông Nguyễn Bảo Giang Châu, Giám đốc khối Maketing của PNJ (phải) trao học bổng cho sinh viên Đại học Cần Thơ. Ảnh: Trung Chánh

(TBKTSG Online) - Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation – STF) và Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ) đã trao 10 suất học bổng STF-PNJ cho 10 sinh viên của Đại học Cần Thơ vào chiều tối hôm nay, 11-9.

Thông cáo báo chí của PNJ cho biết, 10 suất học bổng có tổng trị giá 50 triệu đồng được trao cho 10 sinh viên Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên của Đại học Cần Thơ.

Phát biểu tại buổi lễ trao học bổng diễn ra tối nay, 11-9, ông La Quan Lợi, Giám đốc PNJ khu vực miền Tây cho biết, trong những năm qua, đơn vị này đã thực hiện nhiều chương trình hỗ trợ như: chương trình mái ấm cho người neo đơn, có hoàn cảnh khó khăn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL); chương trình học bổng cho các em học sinh tiểu học nghèo. Đặc biệt, là chương trình trao học bổng cho sinh viên Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên của Đại học Cần Thơ, có hoàn cảnh khó khăn, nhưng kết quả học tập tốt.

“Dù giá trị không lớn (5 triệu đồng/suất), nhưng tôi tin tấm lòng của PNJ muốn gửi đến các bạn sẽ là nguồn động viên giúp các bạn chăm lo việc học được tốt hơn”, ông Lợi cho biết.

Trong năm học 2017-2018, PNJ quyết định tài trợ số tiền 200 triệu đồng để cấp học bổng cho 40 sinh viên thuộc Khoa Môi trường và Tài nguyên của 4 trường đại học, gồm Cần Thơ, Bách khoa – Đại học Quốc gia TPHCM, Tôn Đức Thắng và Nông Lâm TPHCM.

Ngoài ra, PNJ cũng sẽ tài trợ cho sinh viên 4 trường đại học nói trên thực hiện 5 đề án nghiên cứu về môi trường.

Thông tin từ STF cho biết, từ năm 2012 đến nay, PNJ đã tài trợ tổng số tiền 850 triệu đồng để thực hiện 4 đề tài nghiên cứu và cấp học bổng cho 215 học sinh, sinh viên tại các trường trung học phổ thông và đại học tại các tỉnh, thành phố, gồm Quảng Ngãi, Cần Thơ và TPHCM.

STF là tổ chức xã hội, phi lợi nhuận do Saigon Times Group và các doanh nhân thân hữu thành lập. Các chương trình học bổng do STF vận động tài trợ từ các nhà hảo tâm và doanh nghiệp từ năm 2002 đến nay đã cấp tổng số tiền hơn 13,7 tỉ đồng cho hơn 7.100 học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường tiểu học, trung học và đại học trong nước.

 Đã đăng TBKTSG Online 11-9-2017:

Nâng cấp Đại học Cần Thơ bằng vốn ODA của Nhật

Huỳnh Kim
Lễ khai giảng năm học mới 2017-2018 của trường Đại học Cần Thơ ngày 9-9.
 Ảnh: Huỳnh Kim
(TBKTSG Online) - Năm năm tới là thời gian trường Đại học Cần Thơ thực hiện xong dự án “Nâng cấp trường Đại học Cần Thơ” bằng nguồn vốn ODA vay trị giá 105,9 triệu đô la Mỹ của Nhật Bản.

Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản cũng viện trợ không hoàn lại 3,5 triệu đô la Mỹ cho dự án hợp tác kỹ thuật với trường Đại học Cần Thơ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Đây cũng là cơ sở để Đại học Cần Thơ nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học nhằm bảo đảm trên 90% sinh viên tốt nghiệp từ đại học này sẽ có việc làm trong vòng năm năm tới.

Trong phát biểu khai giảng năm học mới ngày 9-9, PGS.TS Hà Thanh Toàn, người vừa được tái bổ nhiệm chức Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ, khẳng định sẽ nâng tỷ lệ sinh viên sau khi tốt nghiệp có việc làm đạt trên 90% trong nhiệm kỳ 2017-2022.

Trước đó, trong phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Bùi Văn Ga nhấn mạnh, nếu tiếp tục đào tạo theo mô hình cũ, chương trình cũ thì sinh viên ra trường sẽ thất nghiệp ngày càng nhiều là điều tất yếu. Do vậy, ông Ga yêu cầu trường Đại học Cần Thơ phải thiết kế lại chương trình đào tạo trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm đổi mới chương trình của các trường đại học trên thế giới.

Ông Ga nói: “Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, kiến thức, kỹ năng của sinh viên đào tạo ở các trường đại học của Việt Nam cũng phải tương thích với các đại học thế giới thì sinh viên tốt nghiệp mới có cơ hội tìm được việc làm”.

Trao đổi với TBKTSG Online, Hiệu trưởng Hà Thanh Toàn nói: “Đại học Cần Thơ sẽ đổi mới cơ chế hoạt động của trường theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm; tạo động lực cho đội ngũ viên chức, người lao động và người học phát huy tối đa trí tuệ và tính sáng tạo để nâng chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học”.

Theo ông Toàn, Đại học Cần Thơ sẽ cố gắng đào tạo sát nhu cầu thực tế của vùng ĐBSCL và cả nước; mở ít nhất 7 chương trình đào tạo chất lượng cao bậc đại học, 16 chương trình sau đại học và có thêm ít nhất 3 chương trình đào tạo quốc tế hoặc đào tạo bằng tiếng nước ngoài; tăng chương trình giao lưu, trao đổi sinh viên quốc tế.

Ông Toàn cho biết Đại học Cần Thơ sẽ tập trung vào các lĩnh vực ứng dựng công nghệ cao trong nông nghiệp, thủy sản và môi trường; nghiên cứu về giáo dục, xã hội và nhân văn; kỹ thuật công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông; quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững; nghiên cứu phát triển kinh tế và thị trường.


Đại học Cần Thơ hiện là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực gồm 16 khoa, 3 viện nghiên cứu, 19 trung tâm, 15 phòng ban và một công ty với 1.913 viên chức, trong đó có 1.137 giảng viên. Trường đang đào tạo 98 ngành bậc đại học với 33.228 sinh viên chính quy và hơn 20.000 sinh viên ngoài chính quy; 43 chuyên ngành thạc sĩ với 3.100 học viên và 16 chuyên ngành tiến sĩ cho 400 nghiên cứu sinh.

Năm học 2016-2017 đã có 12.562 sinh viên tốt nghiệp từ các ngành đào tạo này. Riêng năm học mới 2017-2018 vừa khài giảng, Đại học Cần Thơ đón thêm hơn 8.000 tân sinh viên.


* Đã đăng TBKTSG Online 9-9-2017: