Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009

Qua dãy Trường Sơn



Một tháng rưỡi sau cơn bão số 9 gây lũ lụt tàn phá miền Trung, chúng tôi theo quốc lộ 1A ra Quảng Trị rồi vòng vô huyện Drakrong, theo đường Hồ Chí Minh vượt gần 200 cây số trên dãy Trường Sơn vào huyện Tây Giang của tỉnh Quảng Nam để cấp học bổng cho học sinh vùng bão lụt. Đêm cuối cùng ở Đà Nẵng, chuyến đi đọng lại trong lòng những hình ảnh sạt lở dọc đường Hồ Chí Minh và cảnh co ro đến trường của các em học sinh tiểu học.


Một điểm sạt lở trên đường Hồ Chí Minh

Tôi đếm được hơn 200 điểm sạt lở lớn nhỏ trên suốt chặng đường. Nhiều nhất là đoạn từ A Lưới (Thừa Thiên – Huế) vào Tây Giang (Quảng Nam). Đường cong, đèo dốc, càng lên cao trời càng mù mịt trong mưa rét đầu mùa. Có nơi chưa đầy trăm mét đã không còn nhìn thấy khúc cua trước mặt. Bỗng lù lù hiện ra bờ vực sâu bên trái, bên phải thì đỏ lòm một vách núi vừa sạt lở, đất đỏ nhão nhoẹt tràn xuống mặt đường. Chiếc xe bảy chỗ xoay tít bánh vẫn nằm ì, mọi người phải nhảy xuống cho xe nhẹ bớt mới vượt được bãi lầy. Năm lần “chiến đấu” như vậy ở những điểm mới sạt lở. Có nơi, một thân cây to dường như vừa trôi xuống. Có nơi, bên kia bờ vực, gần một nửa vách núi sạt hẳn, ngổn ngang như sau cơn động đất. Chiều đã xuống, núi rừng Trường Sơn càng mờ mịt. Không một bóng xe, không một bóng người qua lại. Lâu lâu gặp một chốt làm đường với những mái lều che tăng bạt hay một chiếc xe ủi nằm im re giữa đèo mưa gió. Thỉnh thoảng nhìn thấy bóng dáng vài anh công nhân “khắc phục sạt lở” cuộn mền nằm trong lều hay dầm mưa bê từng hòn đá nhỏ kè lại bờ núi lở.


Học sinh dân tộc Cà Tu (Tây Giang – Quảng Nam)
trên đường Hồ Chí Minh

Dễ hiểu vì sao vắng bóng xe cộ lưu thông trên đường Hồ Chí Minh bây giờ. Nhớ mùa mưa bão năm 2004, nhiều tài xế né lũ trên quốc lộ 1A lên đây đã kinh hoàng vì nạn sạt lở làm ách tắc giao thông cả ngày. Họ nói, chỉ có núi rừng, không gặp dân cư; mà đèo dốc thì phải chạy chậm hao tốn nhiên liệu và không khéo thì lao xuống vực sâu, thà quay trở lại đường 1A.


Hôm 6-11-2009, Quốc hội nghe báo cáo về các công trình trọng điểm quốc gia như nhà máy lọc dầu Dung Quốc, đường Hồ Chí Minh, thủy điện Sơn La… thì riêng dự án đường Hồ Chí Minh kinh phí đã vượt 3.148 tỷ đồng so với dự tính, nâng tổng mức đầu tư lên 44.168 tỷ đồng (không bao gồm kinh phí xây dựng 436 ki lô mét đi trùng đã và đang được đầu tư bằng dự án khác). Mà đây mới chỉ là giai đoạn 1, tới năm 2010. Giai đoạn 2 đến hết năm 2020, dự án này còn tính nâng cấp lên thành đường cao tốc, nối Cao Bằng với Cà Mau. Riêng với 16 tỉnh giai đoạn 1 con đường đi qua (chủ yếu là dọc dãy Trường Sơn), cần có gần 120.000 tỉ đồng xây dựng thêm 13 khu công nghiệp và 103 cụm công nghiệp để… khai thác hiệu quả đường Hồ Chí Minh!


Học sinh dân tộc Vân Kiều ở Trường tiểu học Ba Lòng
(huyện Drakrong – Quảng Trị)


Trong khi đó, học sinh tiểu học người dân tộc Vân Kiều ở Quảng Trị hay người Cà Tu ở Quảng Nam mà chúng tôi gặp và trao học bổng, hầu như ít em nào biết được con đường Hồ Chí Minh đang gắn bó với mình ra sao. Ngoài hiên trường tiểu học Ba Lòng có để cái trống thủng một lỗ to ở giữa, cô giáo đánh trống ra chơi phải đánh vào mép trống. Gần đó, hỏi ba lần, em Hồ Thị Lành, người Vân Kiều, mới lí nhí xưng đúng tên của mình. Thầy Phan Quang Đức ở Phòng Giáo dục huyện, nói các em còn nhát lắm, chỉ quen sống với bản làng thôi. Rồi thầy Đức chỉ lên mực nước lũ còn ngấn trên tường gần mái tầng hai trường Ba Lòng, nói đêm 29-9 lũ tràn tới đây sau khi cuốn trôi hoa màu nhà cửa của bà con ở hai bên sông. Mà dân ở đây chỉ biết trồng chuối, đậu phộng… kiếm ăn chứ không được đi rừng đốn gỗ như mấy năm trước. Hôm đó ở hai bên bờ sông Ba Lòng dọc đường Hồ Chí Minh, chỉ nhìn thấy những cảnh sống xác xơ. Trên lộ, cao cách mặt sông gần 10 mét, có chỗ đang còn chồng chất xác mấy chiếc thuyền do nước lũ tấp lên.


Dọc đường Hồ Chí Minh thuộc xã Ba Lòng
(huyện Dakrong – tỉnh Quảng Trị),
cao cách mặt sông Ba Lòng gần 10m, là xác những con thuyền
của ngư dân bị lũ sau bão số 9 đánh giạt lên.


Ở trường PTCS Nguyễn Văn Trỗi thuộc “huyện nghèo nhất nước” Tây Giang, tỉnh Quảng Nam, học sinh dân tộc Cà Tu có vẻ lanh lẹ hơn, nhưng phần nhiều các em vẫn nhìn chiếc ô tô và ba người khách một cách lạ lẫm. Nghe nói các em người Cà Tu học tiếng Anh giỏi hơn tiếng Việt, tôi hỏi vì sao, cả lớp 40 em chỉ có một em giơ tay trả lời là dễ đọc. Rồi em nắn nót viết vào sổ tay của tôi: “Coor Thị Bim, 13 tuổi, lớp 7, nhà cách trường hai tiếng đi bộ, học giỏi tiếng Anh, lớn lên thích làm bác sĩ”.

Ông A Rất Hơn, Chủ tịch Hội Khuyến học huyện Tây Giang, nói đợt lũ vừa rồi, Tây Giang bị cô lập nửa tháng. May mà ở hơn 100 thôn đều có trữ lương thực chứ không thì đói rồi. Mà Tây Giang, có ngọn núi cao cách mặt biển 1.500 mét. Ông cũng nói, món quà học bổng của Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (500.000 đồng/suất) là “rất quý” vì gia đình các em chỉ biết dựa vào núi rừng để sống.

“Chỉ biết dựa vào núi rừng”. Vậy mà dãy Trường Sơn hùng vĩ thì cứ mỗi mùa mưa bão lại sạt lở dần, như chặng đường chúng tôi vừa đi qua. Thì thật đáng lo!

(16 & 17.11.2009)

________________________________

Bài đã đăng tại Thời báo Kinh tế Sài Gòn: http://www.thesaigontimes.vn/epaper/TB-KTSG/So49-2009(989)/28306/

________________________________

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2009

Qua sông


Hay tin anh bạn trung niên rời bỏ Cần Thơ quảy ba lô về Sài Gòn “nhận nhiệm vụ mới”, bạn bè miền Tây thấy lạ. Con bạn Cà Mau gởi email đổi giọng, kêu anh bằng chú: “Chú đi mạnh giỏi. Sài Gòn nó sẽ vắt kiệt sức cho chú biết mặt!”. Thằng bạn doanh nhân Cần Thơ hăm: “Mày ở được ba lần bảy hăm mốt ngày! Cái tạng của mày chỉ khoái nhà quê, lên trển là chết ngắt với chuyện lô cốt, kẹt xe!”. Bữa soạn đồ cho anh, bà vợ đang xếp cái áo thì vụt đứng lên đi rửa mặt; anh nhìn thằng con trai hai mươi tuổi, nheo mắt: “Hai năm nữa ra trường, có khi con cũng đi làm xa như ba vậy!”.


Khi vượt sông Hậu trên phà Cần Thơ, có một người bạn trẻ, hai mươi bảy tuổi, nhắn qua điện thoại, về Sài Gòn sẽ tặng anh cuốn sách “Thấy Phật”. Gặp nhau, bạn lẳng lặng đưa sách, chẳng nói gì. Bạn đã lăn lộn mấy năm với một công ty nước ngoài, bây giờ về làm ở một tổ chức từ thiện. Anh tự nhủ: “Cuộc đời như dòng sông trôi chảy. Sông thì phải chảy trôi”.


Tuần lễ đầu tiên làm việc ở Sài Gòn, anh viết email cho vợ: “Anh nhập môn bộ máy. Gặp bất nhẫn, buồn một chút. Gặp vô cảm, lạ lùng hai chút. Gặp hoang tưởng thông minh, bàng hoàng ba bốn chút”. Nhưng rồi cái bộ máy “lạnh lùng” ấy nó lại giúp anh làm được những công việc mà trước đó, một mình anh, khó làm xong.

Tuần lễ thứ mười, anh gởi email cho bạn: “Thấy Phật là đối diện với chính mình. Để tự hiểu mình đang sống trong từng sát-na cuộc sống”. Vẫn nhớ những con đường rợp mát, những bờ sông đầy gió Cần Thơ, nhưng anh không bức bối trong dòng xe cộ Sài Gòn chật chội. Vẫn bịt khẩu trang như người Sài Gòn, nhưng anh lại thấy hơi thở của mình nhẹ nhàng như đang trên phố Cần Thơ. Kẹt xe, kẹt phà, anh thầm lặng ngắm nhìn từng hình ảnh, từng chuyển động vây quanh. Thầm lặng ngắm cả những dòng xe đang chen lấn trên lề.





Mỗi ngày anh qua lại phà Thủ Thiêm mấy lượt. Một bữa, lạ lùng thay, anh thấy có một cây lúa hoang mọc vượt lên ngay dưới chân cái mâm phà rỉ sét. Khi cái mâm phà hạ xuống để đưa đón khách, cây lúa lộn đầu xuống nước, khi mâm phà nâng lên, cây lúa lại đứng lên. Một sức sống mạnh mẽ hồn nhiên giữa rừng người, rừng âm thanh cuồng nộ. Nhìn dòng sông Sài Gòn trôi lặng lẽ dưới mưa hôm ấy, anh lại nhớ dòng sông Hậu mà mình đã đi qua không biết bao nhiêu lần trong cuộc đời. Bữa đó, anh viết bài thơ Qua sông.

Qua phà Thủ Thiêm sáng nay anh gặp cây lúa hoang

Mọc hồn nhiên dưới chân mâm phà sét rỉ

Nơi mà mỗi lần mâm phà hạ xuống

Hàng trăm khách qua phà lũ lượt tràn lên

Thì cây lúa hoang lộn đầu xuống sông Sài Gòn

Không ai thấy nữa

Mâm phà kéo lên

Cây lúa hoang xanh rì

Lại nhón chân sét rỉ

Ngó trời xanh

Sông Sài Gòn mong manh

Có cây lúa hoang cô đơn làm bạn

Lúa từ đâu tới

Sao hạt lúa không rơi vào giề lục bình

Vừa trôi vừa trổ bông

Sao hạt lúa không ở lại đồng xanh

Mà bay vào nội ô thành phố

Những tòa building bên kia bờ Quận nhất

Đã bao giờ có nhau

Lúa hồn nhiên như cây cỏ mọc lên

Như sông Sài Gòn trôi đi mải miết

Không phải như đêm qua

Mưa dầm da diết

Anh một mình

Nhớ em

@@@





Thứ Năm, 18 tháng 6, 2009

Kỉ niệm nghề báo

(Đăng lại bài in trong tập sách “Nhà báo viết về nghề báo” – NXB Trẻ & TBKTSG – vừa phát hành, nhân ngày báo chí cách mạng Việt Nam 21-6 năm nay; riêng phần “Tai nạn nghề nghiệp” thì không có trong tập sách này).


* Học nghề

Chuyển từ lính pháo binh sang làm báo Quân khu 9 từ năm 1985, tới giờ, tôi học nghề báo từ nhiều nguồn: những bài báo của mình đã được biên tập, những bài báo hay của đồng nghiệp, những khóa đào tạo chính qui, và những bài học từ cuộc sống.

Năm 1985, nước nhà đang còn chiến tranh ở biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam. Tại một khóa học viết báo ở Hà Nội, đại tá Phạm Phú Bằng, tức nhà báo Phạm Hồng - trưởng phòng Văn hóa văn nghệ báo Quân đội nhân dân, không giảng nhiều về lý thuyết, chỉ yêu cầu tôi đọc và có nhận xét về mỗi số báo Quân đội nhân dân ra hằng ngày. Ông chia sẻ ý kiến sau khi lắng nghe tôi nhận xét về một bản tin, tấm ảnh hoặc một bài phóng sự. Ông nói: “Để khi tác nghiệp, anh có thể tìm ra cách thể hiện của riêng mình”.

Đợt đó, đi thực tế một tuần lễ tại biên giới tỉnh Hà Giang, tôi viết phóng sự “Gửi về đồng đội phía Nam” đăng báo Quân đội nhân dân. Cái “riêng” tôi tải được trong bài báo này là thông điệp về sự khác nhau và giống nhau giữa cuộc chiến của quân dân ta ở địa đầu phương Bắc và cuộc chiến của quân tình nguyện Việt Nam chống quân diệt chủng Pôn Pốt ở Campuchia.

Hôm rời điểm tựa Một Ngàn, tôi đi cùng chuyến xe đưa một tử sĩ trở về thị xã Hà Giang. Xe phóng điên cuồng trên con đường độc đạo để né đạn pháo rót qua từ hướng Bắc. Mỗi lần quan tài xóc lên là máu từ bên trong lại lặng lẽ ứa ra. Ba người lính đưa bạn về, nom dữ dằn và lạnh lùng như… người rừng. Và đã xảy ra một chút xô xát ở trạm gác cuối cùng trước khi vào hậu cứ, vì người lính gác đòi kiểm tra xe coi có ai bỏ ngũ hay không. Tôi bị ám ảnh về cái sự lạnh lùng khủng khiếp đó giữa những người đồng đội ở ngay trong cuộc chiến. Nhưng không thể nào tải được trong một bài báo, lại đăng trên báo quân đội. Tôi “chuyển thể” qua tuần báoVăn Nghệ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam. Bài thơ văn xuôi “Chiến tranh và tôi” ra đời trong dịp đó. Tôi xin chép ra đây, như một kỉ niệm làm báo, của một thời thiếu mất hòa bình:

Chiếc xe Gát chở thi hài người lính lao điên cuồng xuống Hà Giang trên con đường độc đạo bị nã pháo suốt ngày đêm. Ba người lính đưa bạn về, mặt mày nhăn nhó lạnh lùng giận dữ. Tôi quặn người sau những cú xốc đứt hơi nẩy lửa – mà mỗi lần, máu từ kẽ ván quan tài lại nhứt nhối ứa ra! Tôi lặng lẽ khóc thầm giữ chặt đầu quan tài và hãi hùng nhìn khuôn mặt ba người lính vẫn lạnh lùng giận dữ.

Xe thoát chết dừng trước barie trạm gác. Hai người lính mang quân phục chỉnh tề lạnh lùng đòi thi hành phận sự kiểm tra. Một người lính rách bươm trên xe tôi lạnh lùng chỉ tay quát tháo: “Này kẻ tuyến sau! Bay muốn kiểm tra xương máu hay muốn hóa máu xương?”. Tôi kinh hoàng buốt nhói trong tim.

Trời ơi chiến tranh! Sao mi nỡ làm con dao hai lưỡi? Mi tôi luyện cho ta dũng cảm phi thường giữa trận đánh quyết tử sáng nay. Mi lại hóa ta lạnh lùng chai đá trước máu của chính bạn mình giữa chập choạng tối nay. Rồi đây hẳn là ta sẽ dạn dày trước kẻ ăn xin, trước người hát rong và trước cả mẹ của ta khi người đã già nua lâm trọng bịnh. (Hà Giang, tháng 7-1985).

Cuối khóa đào tạo phóng viên quân đội vào giữa năm 1987 tại Bắc Ninh, tôi đi thực tế nửa tháng trên biên giới Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn với hành trang là lời nhắn gởi của thầy Phạm Hồng: “Nghề báo, nên hỏi mười để viết một”.
Mặt trận Lạng Sơn hoàn toàn khác mặt trận Hà Giang đầy lửa đạn: bên đây bộ đội ta phải đối mặt với một cuộc chiến tranh tâm lý. Ngày ngày, loa phóng thanh từ bên kia biên giới ra rả những chương trình phát thanh “hậu phương quân đội” chĩa vào các điểm tựa của bộ đội ta. Giọng của cô “Ngọc Ánh” lúc nào cũng ngọt ngào: “Các đồng hương Bắc Ninh thân mến”, trong khi có những trung đội của ta, cả năm trời chưa ai về phép vì phải bám trụ ngày đêm trên từng điểm cao biên giới. Chưa kể, hàng tuần có những chiếc máy bay nhỏ không người lái bay lòng vòng trên các điểm chốt để thả những “túi quà” tỉ như những chiếc khăn tay vẽ lã lướt hình các cô gái Trung Quốc.
Chuyến này, tôi đã “hỏi” đầy một cuốn sổ tay và mấy cuộn phim để hoàn thành bài phóng sự đăng hai kỳ trên báo Quân đội nhân dân: “Yên tĩnh ở hướng Chi Ma”.
Tôi cũng học nghề từ một người thầy khác, dù ông không dạy tôi giờ nào trên giảng đường. Đó là nhà văn Sơn Nam, tác giả tập truyện ngắn nổi tiếng “Hương rừng Cà Mau”.
Năm 1993, Hội Văn nghệ tỉnh An Giang mở trại viết. Nhà văn Sơn Nam nói chuyện về kinh nghiệm viết văn, xong ông theo một tốp đi thực tế ở vùng tứ giác Long Xuyên. Ngồi xe ôm, ông luôn nhắc: “Chạy chậm thôi nghen”, vì ông không biết chạy xe hai bánh mà chỉ thích đi bộ.
Ở xã Tây Phú thuộc huyện Thoại Sơn, trong khi chúng tôi cứ loay hoay với mấy cái báo cáo sơ kết, tổng kết về chuyện đi khai hoang vùng tứ giác, thì nhà văn Sơn Nam đã lội lòng vòng quanh chợ xã. Quay về, ông chỉ hỏi anh bí thơ xã mấy câu mà nghe xong thấy… quá nể: “Có gái giang hồ vào tứ giác tìm tình yêu hay không?”; “Có người nông dân bất mãn? Có anh cán bộ cường hào?”; “Điện thoại bàn đã gọi ra quốc tế nhưng sách báo về xã sao thấy còn ít quá?”…

Nghe anh bí thơ xã kể chuyện bà con nông dân lập miếu Thần Nông, 17 tháng 3 âm lịch hằng năm họ cúng tạ ơn trời đất, tổ tiên và cây lúa, nhà văn Sơn Nam nói: “Đó là đạo. Làm ruộng là đạo, giữ đất là đạo. Khuyến nông tức là cách giữ đạo làm nông, thì dân mới giàu mạnh được. Tôi lội chợ Tây Phú, thấy có đánh bi-da, có tiệm vàng, có cái kéo rèn từ Phú Tân đưa qua, có bộ xa-lông tre lấy mẫu từ Mộc Hóa, có cô bán quán quê Đồng Tháp, có thầy giáo quê Thanh Hóa… Người tứ xứ đã về vùng tứ giác này sinh cơ lập nghiệp, thì ta cần giữ cái đạo làm người. Có như vậy kinh tế thị trường ở đây mới nên bộ mặt nông thôn mới”.

Khi ghé thăm chùa, thăm khu di chỉ văn hóa Óc-Eo, trong lúc cánh nhà báo chúng tôi lăng xăng hỏi nhà chùa đủ chuyện thì nhà văn Sơn Nam lặng lẽ thắp nhang trước bàn thờ Phật, cúng dường nhà chùa và bố thí cho người nghèo chung quanh chùa.

Chuyến đi đó, chúng tôi học được từ nhà văn Sơn Nam nhiều chuyện. Cả trong chuyện viết báo, mà cho tới giờ, với tôi, ông là người thầy với lời dạy ngắn gọn, dễ nhớ nhưng khó thực hành: “Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin”.

Cái chuyện “viết ngắn, có thông tin” này thực sự là chuyện hấp dẫn. Đợt tham gia hai tuần lễ học làm phim, chụp ảnh và viết phóng sự xuyên biên giới ở sáu nước hạ lưu sông Mekong, do tổ chức Inter Press Sevice (IPS) của Mỹ mở tại Thái Lan (9-2006) và kết tại Campuchia (3-2007), tôi càng “ngộ” ra điều này. 40 nhà báo từ Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Myanmar, Lào và Trung Quốc dự khóa học, dù thảo luận và tác chiến nhiều đề tài khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm: phải biết cách làm cô đọng câu chuyện mà vẫn tải được nhiều thông tin. Các tác phẩm báo viết được chọn in trong tuyển tập cuối khóa, thấy rõ mỗi người một vẻ nhưng lại có cái chung là câu văn ngắn, đoạn văn ngắn và ăm ắp thông tin.

Cũng tại khóa học này, chúng tôi chia sẻ tâm huyết với nhau những đề tài xuyên biên giới. Một tác phẩm báo chí giá trị trong thời buổi này luôn có tính “xuyên quốc gia”. Từ chuyện cúm gia cầm, mại dâm, ma túy, phá rừng, khai thác sông Mekong, giáo dục, du lịch… đến chuyện mậu dịch biên cương, các nhà báo đều nhận thấy: nếu không biết hợp tác để cùng phát triển thì không một quốc gia riêng lẻ nào trong vùng giải cho tốt được những bài toán đó.

* Tai nạn nghề nghiệp

Lần đầu vào tháng 10-1989, sau khi phát hành báo Quân khu 9 số đặc biệt nhân dịp rút quân tình nguyện Việt Nam về nước sau 10 năm giúp bạn Campuchia. Trước đó khi ở Mặt trận 979, nhờ một đồng nghiệp Campuchia phiên dịch, tôi đã phỏng vấn Đại tướng Bu-Thoong, lúc đó là ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Campuchia - Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội cách mạng Campuchia. Nội dung bài báo được cấp trên ở Hà Nội cho là “phỏng vấn theo luận điệu BBC”. Số báo đó được lệnh phải thu hồi nhưng không kịp vì nó đã đến tay bộ đội hơn một tuần lễ. Tôi bị khiển trách và sau đó, ít được cử đi tác chiến những đề tài hấp dẫn như vậy. Thực ra bài báo ấy ra đời không có chuẩn bị trước mà do tôi tình cờ gặp Đại tướng Bu-Thoong ở gần Phnôm Pênh, lúc bộ đội Việt Nam sắp rút về nước. Bây giờ đọc lại, thấy cái không khí thời sự lúc đó quả là “nóng” thật, thí dụ mở đầu cuộc phỏng vấn, nó đã như vầy:

- Liệu quân Pôn Pốt có thể gây ra nội chiến không sau khi quân tình nguyện Việt Nam đã rút hết?
- Nội chiến lớn thì không thể xảy ra. Chúng chỉ có thể đánh lẻ tẻ, như phục kích, gài mìn, gây chiến tranh tâm lí ở nội địa. Ở biên giới thì chúng mở hành lang, đánh điểm tựa như hiện nay. Cũng có điểm tựa bị đánh chiếm, nhưng bộ đội chúng tôi đánh lấy lại được, không để mất.
- Thế còn lòng dân, họ có còn sợ quân Pôn Pốt không?
- Dân ở những nơi hẻo lánh thì còn sợ. Ví dụ chúng có ập vào nhà giữa đêm thì họ sợ. Nó xin gạo, xin bò-hóc, họ có thể cho gạo, cho bò-hóc, nhưng sau đó họ tìm cách đánh lại hoặc tố giác với chính quyền. Chớ còn dân ở các phum xã khác thì không sợ vì họ đã thấy được thế và lực của mình hiện nay. Mấy trận vừa rồi ở Bần-tia Miên-chây, Xiêm Riệp đã chứng tỏ điều đó, quần chúng đã cùng với bộ đội của mình bắt sống hơn 70 tên địch. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn luôn luôn đề phòng, có kế hoạch sẵn sàng đánh thắng mọi âm mưu của địch.

Lần thứ hai, tôi “gặp nạn” sau khi báo Tuổi Trẻ Xuân 1992 đăng bài “Về đâu chất xám miền Tây?” chỉ vì có một đoạn mở đầu như thế này: “Hồi cuối năm về Minh Hải, tôi nhận được một thông tin buồn: tỉnh không cho Đài Phát thanh & truyền hình Minh Hải phát bài nói của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại Đại hội Đảng bộ tỉnh vòng 2. Ông Võ Văn Kiệt đã nhận xét thẳng những nguyên nhân ảnh hưởng sự phát triển của Minh Hải, trong đó có việc Minh Hải chưa biết trọng dụng chất xám. “Một đất nước muốn phát triển, không thể không trọng dụng những trí thức, trọng dụng nhân tài, cả chuyên gia trong nước và ngoài nước” – ông Kiệt nhấn mạnh”.

Lúc đó, đây là cơn sóng gió trong làng báo Minh Hải mà người tạo ra sự kiện cấm đoán ấy chính là ông Bí thư Tỉnh ủy Minh Hải. Với tư cách Khu ủy viên Quân khu 9, ông đã yêu cầu Quân khu điều tra quá trình tác nghiệp của tôi và động cơ tôi viết bài ấy cho báo Tuổi Trẻ. Báo Quân khu 9 đã cử người đi Minh Hải tìm hiểu và xác nhận đó là sự thật. Tuy nhiên tôi vẫn bị “hành” rất mệt mấy tháng liền vì đã cộng tác “tự do” với báo chí ngoài quân đội. Còn với báo Tuổi Trẻ thì anh Nam Đồng, lúc đó là Phó Tổng biên tập, đã tính cử người về Minh Hải làm việc để “bảo vệ cộng tác viên” nhưng sau lại thôi.

Đã hơn 16 năm trôi qua từ sự kiện ấy, giờ đây, tôi nghĩ, những chuyện kiểu như vậy khó có thể xảy ra trong làng báo chí nước nhà.

Lần thứ ba, tôi bị kỉ luật nặng: cảnh cáo, giam quân hàm một năm vì đã “viết báo để lộ bí mật quốc phòng”. Đó là bài “Nhìn lại cuộc diễn tập phòng chống biểu tình gây rối, bạo loạn ở TP. Cần Thơ” đăng báo Quân khu 9 (số 343 tháng 7-1992). Bây giờ đọc lại bài này, tôi thấy mình thật ngây ngô và đáng trách. Viết cái gì mà như là tường trình lại toàn bộ “bí quyết” của cuộc diễn tập phòng chống biểu tình gây rối, bạo loạn – chuyện mà khi đó, chưa thấy tờ báo nào ở trong nước đả động tới.

Thí dụ một đoạn “nhẹ” nhất trong bài, ghi lại ý kiến tại cuộc rút kinh nghiệm diễn tập hôm 5-7-1992: “Phòng chống biểu tình gây rối bạo loạn” là loại hình và nội dung diễn tập. Nhưng các đại biểu nhấn mạnh chưa thấy phòng, chỉ diễn tập chống. Đồng chí Bùi Hữu Trí, Chủ tịch huyện Thốt Nốt (Cần Thơ) nói: “Cần phân biệt rõ việc quần chúng đấu tranh vì quyền lợi chính đáng (ví dụ vì đất đai, cháy chợ Cần Thơ; vì chính sách hậu phương ta làm chưa tốt…) với việc kích động đấu tranh, xuyên tạc sự thật của kẻ xấu. Những tình huống đặt ra về đối tượng gây rối, nội dung gây rối… diễn tập này làm chưa rõ. Như vậy dễ dẫn đến xử trí nhập cục kẻ xấu với quần chúng, sai chủ trương của Đảng, làm phản tác dụng diễn tập. Bình thường, ta phải có chủ trương đúng, giải quyết dứt điểm các kiến nghị của quần chúng, chăm lo tốt đến đối tượng chính sách, sửa kịp thời những sai trái trong quản lí nhà nước của địa phương”.

Khi đó, sau mấy cuộc họp kiểm điểm, tôi đã nhận hoàn toàn trách nhiệm về mình, dù có thanh minh rằng, tôi viết theo chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan chủ quản báo Quân khu 9 - đại tá Nguyễn Dân Nam, Phó Chủ nhiệm Cục Chính trị Quân khu 9, người đã cùng tôi theo dõi trọn hai ngày diễn tập. Bài học tôi thấm thía sau vụ này: anh là nhà báo, tự anh phải hiểu luật; không thể dựa vào ý kiến của thủ trưởng để cho đó là chân lý.

Sau những kỉ niệm này, tôi tự rút ra một “cẩm nang viết báo” cho chính mình với mấy lời độc thoại nôm na như thế này:
- Báo chí là gì?
- Báo chí là thông tin.
- Thông tin cái gì?
- Thông tin sự thật.
- Thông tin như thế nào?
- Thông tin kịp thời và bổ ích.
- Viết như thế nào?
- Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin.

* “Tác chiến” ở Miền Tây

Miền Tây Nam bộ của Việt Nam chằng chịt sông rạch, đầy ắp nắng gió, nghĩa tình và... rượu đế. Có lẽ vì vậy nên cánh nhà báo chúng tôi, sau mỗi chuyến đi công tác, thường nghe trong con người mình nó lâng lâng tình cảm. Những tình cảm cay đắng ngọt bùi.

Nhớ hồi năm 1993, tôi cỡi xe Honda cánh én "phi" một mạch từ Cần Thơ tới Châu Đốc, vượt sông Hậu rồi sông Tiền ra biên giới Tây Nam thuộc tỉnh Đồng Tháp để viết phóng sự về huyện mới Tân Hồng ở dọc biên giới với Campuchia. Làm việc xong với UBND huyện, tôi ôm một mớ số liệu về diện tích khai hoang và năng suất làm lúa thuộc hạng nhất nhì vùng biên giới Tây Nam hồi ấy. Lại cắt đường ruộng từ thị trấn Xa Rài ra cửa khẩu Dinh Bà trong lãng đãng không khí nghèo khó và buôn lậu. Cái háo hức lúc đầu về thành tích khai hoang làm lúa trúng mùa ở biên giới tự dưng tan dần trước cảnh dân tình nghèo khó dù chỗ nào đi qua cũng thấy lúa tràn đồng.

Trên đường rời cửa khẩu về, xe bị xì bánh sau. Gần bốn giờ chiều mà trời biên giới vẫn nắng gắt. Ngặt một cái, xóm làng hai bên đìu hiu, khô khốc và suốt hơn bốn cây số đường quê, không có chỗ nào vá xe. Dẫn bộ rã người mới hiểu ra rằng, thiếu dịch vụ tới mức này thì cái điều người dân nói với mình từ sáng tới giờ quả là "chân lý": dù có làm lúa trúng cũng không cứu nổi cái nghèo.

Về gần tới thị trấn, có một điểm vá xe. Nhà như chòi. Chỉ có ông chủ gầy gò đeo kiếng cận và con chó vàng đang nằm thiêm thiếp ngủ dưới cái vỏ xe treo lủng lẳng. Té ra ông chủ từng là thầy giáo từ Cao Lãnh lên đây dạy học cả chục năm rồi. Vợ và đứa con gái nhỏ đi ruộng chưa về. Tôi khoe về những con số khai hoang của huyện. Ông chủ lầm lì vá xe. Nửa giờ sau tôi chia tay ông thầy giáo già trước tuổi. Ông đòi tôi phải uống với ông một ly "xây chừng" rượu đế, rồi nói: "Tôi quý chú em. Nhớ ly rượu này, đừng có say xỉn mà nghèo đói. Tôi chỉ xin lưu ý chú em một chuyện mà lâu nay tôi ngẫm nghĩ hoài, chắc là trúng: xứ sở mình có làm lúa giỏi tới đâu cũng khó giàu có được".
Chuyến công tác đó, rời vùng Đồng Tháp Mười, tôi đi tiếp ba ngày nữa về vùng tứ giác Long Xuyên thuộc hai tỉnh An Giang và Kiên Giang. Xong tôi viết bài “Đồng bằng ơi!” gửi đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn. Tôi nhớ cái "tứ" tôi gửi gắm trong bài báo đó là đồng bằng sông Cửu Long ơi, người ở đâu trong đất nước mình khi mà đi đâu cũng chỉ thấy người ta ca... "bài ca cây lúa"?

Còn đây là chuyện tác nghiệp trong mùa lũ lụt đồng bằng.

Lụt lội ở miền Tây không giống như ở miền Trung quê tôi. Quê Quảng Nam của tôi, tới mùa lũ lụt, chỉ cần qua một đêm nước dâng tràn bờ sông Thu Bồn, là đã thấy "đỉnh lũ" và bao nhiêu cảnh tang thương kéo dài hàng tháng trời. Mùa lụt lội ở miền Tây, dân địa phương kêu là mùa nước nổi. Con nước từ sông Mekong tràn đồng Campuchia rồi tràn qua biên giới Tây Nam và... lừ đừ tràn ngập ruộng đồng các tỉnh trong vùng từ hai dòng sông Tiền, sông Hậu, kéo dài vài tháng. Các tỉnh ở thượng nguồn ngập trước, An Giang, Đồng Tháp, Long An... rồi tới Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang. Năm lụt lớn, thậm chí mấy tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau cũng bị nước tấn công.

Tôi nhớ nhất kỷ niệm tác chiến trong hai mùa nước nổi ở miền Tây. Năm 1994, báo Tuổi Trẻ nhờ tôi "làm gấp" một bài khi hay tin nước đã tràn đồng mấy huyện đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu. Tôi đón xe đò tới Châu Đốc vào quãng 11 giờ trưa. Nhìn cảnh nước đã lé đé bờ sông thị xã và mênh mông trước mặt, tôi tạt vào bưu điện Châu Đốc fax về (lúc đó chưa có e-mail) đề nghị tòa soạn cho "rao" trước, mời bạn đọc đón xem phóng sự trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật bài “Lũ lụt ở hướng An Giang".

Sau đó, tôi vọt qua huyện An Phú, cùng mấy anh ở huyện đội chạy vỏ lãi khắp nơi, chỗ nào cũng mênh mông đồng nước, không biết đâu là sông Tiền, sông Hậu, đâu là ruộng vườn trước đó. Thích nhất là gặp được một đám cưới trên hai chiếc vỏ lãi đang ngược lên biên giới. Giữa trùng trùng nước lụt đỏ ngầu phù sa, bà con mình vẫn thảnh thơi che dù đỏ, dù xanh, rộn ràng mâm lễ đi rước dâu bằng vỏ lãi.

Tối bữa đó trời mưa tầm tã, tôi về tới Sài Gòn khoảng gần 11 giờ khuya và thức viết xong bài phóng sự kèm với chùm ảnh rước dâu, kịp sáng bữa sau gửi Tuổi Trẻ Chủ Nhật như đã hứa.

Tới mùa nước nổi năm 2000, miền Tây Nam bộ chịu một trận lụt tồi tệ; nước "ngâm" từ tháng 7 tới tháng 12. Cả đồng bằng chịu không thấu, tỉnh nào cũng chờ cứu trợ. Tôi kể lại câu chuyện này để chia sẻ một kinh nghiệm nho nhỏ: tác chiến ở miền Tây Nam bộ, xin các bạn chớ chủ quan khi đi ghe xuồng, nhất là vỏ lãi (tắc ráng), một loại ghe nhỏ có gắn “máy đuôi tôm” rất thông dụng của người dân miền Tây sông nước.
Lần đó vào quãng tháng 10-2000, chúng tôi đi cứu trợ ở huyện Hòn Đất trong vùng tứ giác Long Xuyên thuộc tỉnh Kiên Giang. Như mấy lần trước, chúng tôi thuê vỏ lãi để đi tới những trường tiểu học đang lênh láng giữa đồng nước.

Đi chung đợt này, ngoài cánh nhà báo còn có một anh bạn doanh nhân làm cho một công ty liên doanh với Đức. Anh chàng này mê nghề báo và lúc nào cũng lủng lẳng máy chụp ảnh trước ngực, giống như tôi. Ra tới giữa kinh Mướp Giăng đang cuồn cuộn chảy, thấy chiếc vỏ lãi mình thuê nhỏ quá, sợ không an toàn, chúng tôi quyết định tấp vào bờ đổi vỏ lãi lớn hơn.

Tôi và nhà doanh nghiệp này sang ghe sau cùng. Anh bạn tưởng vỏ lãi trống người là khó lật, anh đứng chồm ra mé ngoài vỏ lãi để chụp hình. Đứng bên này, tôi chỉ kịp la lên "Coi chừng lật vỏ!" thì chiếc vỏ lãi đã nghiêng úp về phía anh bạn. Nhờ gốc con nhà lính, tôi kịp phản xạ phóng mình lộn một vòng qua chiếc vỏ lãi lớn đang áp mạn kề bên. Khi đứng lên, tuy hơi ê người, tôi đã kịp đưa máy ảnh bấm được một kiểu, cảnh anh bạn đang… lủm chủm lội vô bờ.

Cái tin ảnh hi hữu đó, tôi gửi đăng trên tờ Saigon Times Weekly. Sau đó, anh bạn tôi nhận được e-mail từ Úc của một người bạn, bảo rằng, trong lũ lụt miền Tây, hổng ngờ có nhà doanh nghiệp quá ư là... lãng mạn.

Còn bạn tôi thì trả học phí một chầu rượu đế cho bài học: không phải chiếc ghe nào ở xứ mình cũng giống… chiếc ghe nào! ./.

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2009

Chuyện ở Sao Biển



(TBKTSG Online) - Hai tuần trước có việc ra Phú Quốc, như mọi lần tôi nghỉ lại ở Sao Biển, một khu resort trên bãi biển cạnh chân đồi Bà Kèo, trông ra vịnh Thái Lan.

Marillyn và Alan

Tại đây, tôi có dịp trò chuyện với hai vợ chồng Marillyn và Alan, du khách Anh Quốc. Là người dân của xứ sở bao bọc tứ bề là biển cả mênh mông, nhưng cả hai đều tỏ ra rất thích thú với khí hậu, thiên nhiên và con người ở Phú Quốc.


Bữa đó, dù sắp rời Sao Biển vào chuyến bay cuối giờ buổi sáng nhưng vẫn thấy cả hai phơi trần trên cát nằm đọc sách, tôi hỏi họ về Phú Quốc và Sao Biển. Hai vợ chồng trao đổi nhau một chút rồi chị Marilyn ghi vào sổ tay của tôi mấy dòng này:

“Tôi không nghĩ rằng mọi người Việt Nam đã nhận ra đất nước mình đẹp đến mức nào, vì nếu họ nhận ra thì họ đã giữ cho nó sạch sẽ hơn; ở Phú Quốc, chỗ nào cũng gặp rác. Tôi hy vọng nơi này sẽ không phát triển theo hướng “Tây phương hóa” và làm biến dạng nó. Nên giữ cho các khu nghỉ dưỡng nhỏ vừa phải, phù hợp với bản sắc của đất nước mình.

Tôi cho rằng Sao Biển là một khu nghỉ dưỡng tốt và chắc chắn chúng tôi sẽ quay lại đây lần nữa, để thư giãn thoải mái trên ghế tắm nắng mà thấy tiện nghi như ở trong phòng. Nhưng trên hết, đây là một nơi cực kỳ thanh bình với những nhân viên thân thiện và nồng hậu như biển cả”.



Đảo Phú Quốc bây giờ đang có hàng chục khu nghỉ dưỡng như Sao Biển, rộng chừng hai héc ta trở lên. Chỉ tiếc là một số nơi có xu hướng “bê-tông hóa” những dãy bungalow, không còn được nhẹ nhàng tự nhiên như Sao Biển.




Hôm nghỉ ở đây, tôi gặp cảnh ba cặp khách Tây ghé Sao Biển chơi rồi trở về dời chỗ từ một bungalow gần đó sang đây nghỉ nốt những ngày còn lại. Hỏi chuyện, một người đáp gọn lỏn: “Ở đây thanh bình hơn”.





Lạ là, như mọi năm bắt đầu vào mùa mưa thì du khách Tây giảm hẳn, nhưng năm nay theo lời anh Phạm Mỹ, chủ nhân khu Sao Biển, khách Tây vẫn tiếp tục đặt phòng. Điều này làm anh vui, nhưng dường như cũng khiến anh nghĩ ngợi nhiều.


Anh Mỹ đang phân vân trước một sự lựa chọn: có nên liên doanh với một nhà đầu tư nước ngoài để nâng cấp Sao Biển hiện đại hơn, trong đó có xây thêm hồ bơi? Anh còn có dự định mở thêm một tour mới, ngoài mấy tour lặn biển và câu mực, do một người bạn đảm trách lâu nay. Đó là tour khám phá vườn rừng trên đồi Bà Kèo.

Nơi đó, gia đình anh còn một mẫu vườn rừng trồng chen nào dừa, xoài, mít… giữa hằng hà đá núi nhỏ to, cảnh vật còn hoang dã.

Khách Tây chỉ cần trả 10 đô la, vắt theo một cái võng, lội bộ chừng 15 phút cùng một người làm vườn lên thăm rẫy trồng cây ăn quả và khám phá hệ sinh thái rừng của Phú Quốc; sau đó lại "hạ sơn" để ngâm mình trong sóng biển.

Đồi Bà Kèo

Ông Nguyễn Văn Bé - cha vợ của anh Phạm Mỹ

Anh Mỹ thổ lộ chuyện này với vài người bạn; nhiều người khuyên anh nên liên doanh đầu tư phát triển cơ ngơi, nhưng cũng không ít ý kiến e dè, nghi ngại.

Riêng chuyện mở thêm tour mới thì mọi người trong gia đình và bạn bè đều đồng tình ủng hộ. Bởi vì chỉ giới thiệu tour, khách thích thì làm, không thì thôi, không ảnh hưởng mấy tới thiên nhiên và môi trường sống. Còn chuyện nâng cấp khu nghỉ dưỡng như nhiều nơi đang làm trên đảo thì… khó tính quá!

Anh Phạm Mỹ

Hôm rồi, tôi chợt nghĩ tới Marilyn và Alan và gởi email, kể lại câu chuyện này với họ. Marilyn hồi âm với những lời góp ý như từ một người bạn:

“Với những bungalow thì có thể chăm chút thêm một ít cho nội thất là đạt được sự hoàn hảo. Tại sao cần phải xây thêm một cái hồ bơi khi mà mình chỉ ở cách biển ấm áp có vài bước chân? Những resort lớn ở Phú Quốc nhìn cứ y như nhau, chẳng có được cái cảm giác là mình đang ở đâu; nhưng Sea Star thì lại đặc biệt, nó hoà hợp với chung quanh, nó đơn giản mà nổi bật. Nó làm cho mình cảm thấy tràn ngập sự yên bình. Thế nên, xin đừng làm cho nó giống như ở những nơi khác.


Không phải tất cả du khách phương Tây đều thích hồ bơi, quán bar, cây thông... Rất nhiều người trong chúng tôi muốn cảm nhận được những điều mà các bạn có ở Việt Nam, một xứ sở đẹp nổi bật với những con người có lẽ là tốt nhất trên thế giới. Còn về chuyện rác thải, nó có khắp nơi ở Việt Nam.

Tôi thấu hiểu cuộc sống vất vả như thế nào của nhiều người Việt Nam, nhưng họ lại thật sự may mắn khi sống ở một trong những đất nước đẹp nhất mà chúng tôi từng đặt chân đến”.

══════════════
Ảnh: Mỹ Xuyên
══════════════

Bài đã đăng tại Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
URL: http://www.thesaigontimes.vn/Home/
vanhoadulich/dulich/18937/


Mời xem thêm:


Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2009

Tôi nghĩ đến sự phát triển bền vững

Anh tên Trịnh Công Phát, năm nay 48 tuổi, quê gốc Chợ Gạo, Tiền Giang, nhưng cuộc sống đẩy đưa khiến anh chọn Phú Quốc làm nơi lập nghiệp. Sau nhiều năm gắn bó với nghề làm dịch vụ du lịch, sản xuất rượu mang nhãn hiệu Sim Sơn, bây giờ anh lại say mê với dự án “Xây dựng mô hình bảo tồn, nghiên cứu phát triển cây sim rừng đảo Phú Quốc”. TTCT vừa có cuộc trò chuyện thân tình với anh...

Hoa sim

Khởi nghiệp từ... rau


* Cơ duyên gì khiến anh, một nông dân gốc Tiền Giang, lại trở thành doanh nhân gắn bó với đảo Phú Quốc?

- Năm 1979 tôi đang đi học thì chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra. Tôi được tuyển vào quân chủng hải quân về công tác tại Vùng 5 hải quân đóng ở Phú Quốc. Năm 1983 tôi chuyển ngành về dạy học trên đảo Phú Quốc và ở lại lập nghiệp luôn tới bây giờ.

* Nhưng khởi nghiệp của anh hình như đâu phải từ cây sim Phú Quốc?

- Đúng, tôi khởi nghiệp từ... vườn rau. Cuối những năm 1980 kinh tế rất khó khăn, tôi và bà xã dạy học trên đảo lương không đủ sống nên tụi tôi phải trồng rau màu, chăn nuôi gà bán để cải thiện kinh tế gia đình. Vừa làm nông dân vừa làm thầy giáo, lúc đó có hai chú nhóc chào đời nên phải tích cực tăng gia cải thiện.



Nhà hàng và món ngon của Vườn Táo

Trong một lần về Tiền Giang thăm gia đình, thấy bà con trồng táo tốt quá nên tôi mua 200 cây về trồng trong vườn nhà. Ngày táo có trái dân trên đảo vô thăm vườn rất đông vì trên đảo không có ai trồng loại trái cây này. Từ vườn táo tụi tôi trồng thêm vườn mận, vườn ổi, vườn sim. Khách vô tham quan ngày một đông, lại có nhu cầu giải khát tại chỗ nên tụi tôi bán thêm dừa tươi, nước đá chanh, nước ổi cho khách. Sau này khách đòi mua gà nuôi trong vườn nấu cháo, mình bán luôn. Từ đó hình thành quán Vườn Táo lúc nào không hay. Nói là quán cho oai chứ thật ra khách muốn ăn cháo gà phải cùng chủ xắn quần rượt gà để bắt rồi phụ nhổ lông làm thịt, sau đó trải chiếu ngoài gốc cây ăn chứ đâu có nhà ăn như bây giờ.
* Từ táo qua sim... phải có nguyên nhân gì đó chứ?

- Anh đến Phú Quốc rồi chắc cũng thấy rừng sim giống như chiếc áo đẹp khoác lên hòn đảo. Tháng chín tháng mười là mùa sim trổ hoa, trên sườn núi, dọc các con suối trong rừng và hai bên đường đâu đâu cũng tím ngắt một màu hoa.

Dưới góc nhìn kinh doanh, rừng sim còn là nơi cung cấp nguyên liệu cho nghề sản xuất rượu sim, một loại rượu độc đáo của Phú Quốc. Rừng sim cũng là nơi hàng ngàn nông dân nghèo trên đảo kiếm sống mỗi khi mùa sim chín, họ thu hoạch trái bán cho những nhà sản xuất rượu trên đảo mà không phải bỏ vốn đầu tư hay bỏ công chăm sóc... Thấy nhiều nước nổi tiếng với nghề trồng nho để sản xuất rượu cung cấp cho cả thế giới, tôi nghĩ vì sao chúng ta không làm cho Phú Quốc trở thành nơi trồng sim, sản xuất rượu sim và các loại rượu làm từ trái sim rừng của Việt Nam. Tôi tin là nó sẽ chinh phục thế giới như rượu nho của châu Âu.

... và giấc mơ sim

Trái sim
“Tôi thấy cây sim rừng của Phú Quốc rất đặc biệt, khác những loại sim trong đất liền ở miền Trung và miền Bắc. Nhiều sản phẩm độc đáo chỉ Phú Quốc mới có được từ cây sim và dân nghèo cũng nhờ cây sim để thoát nghèo. Vì vậy tôi đã giúp anh Trịnh Công Phát xây dựng đề án “Xây dựng mô hình bảo tồn, nghiên cứu phát triển cây sim rừng đảo Phú Quốc”. Chủ yếu lập ra cho được một kiểu sử dụng đất rừng Phú Quốc, vừa bảo vệ môi trường rừng vừa tạo ra của cải phi gỗ để giúp dân xóa đói giảm nghèo, vừa sản xuất ra đặc sản Phú Quốc đem lại nguồn thu cho ngân sách”. GSTS VÕ TÒNG XUÂN


* Dự án bảo tồn rừng sim của anh cũng xuất phát từ ý định này?


- Dự án này nhằm mục đích bảo tồn và phát triển những khu rừng sim hiện có, nghiên cứu toàn diện giống sim rừng ở Phú Quốc, phân lập, xác định những giống cho năng suất, chất lượng cao để bảo tồn và phát triển giống, xây dựng mô hình thâm canh, xen canh cây sim với các loại cây khác có giá trị kinh tế cao, sau đó chuyển giao quy trình sản suất cho nông dân trong vùng.

Mô hình này là sự hợp tác của bốn “nhà”: Nhà nước xây dựng chủ trương chính sách quản lý phát triển rừng; nhà khoa học nghiên cứu chuyển giao công nghệ; nhà doanh nghiệp định hướng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm; nhà nông trồng và xây dựng vùng nguyên liệu trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học đã đạt được.

* Nông dân có được lợi gì từ dự án này không?

Hái sim

- Có chứ, đó là lợi ích từ một loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, vốn đầu tư thấp phù hợp năng lực tài chính của các hộ nông dân nghèo trên đảo. Môi trường cảnh quan thiên nhiên trên đảo được bảo vệ và phát triển bền vững. Doanh nghiệp có được một vùng nguyên liệu tập trung rộng lớn nhưng ít vốn đầu tư. Nhà nước có thêm nguồn thu ngân sách lớn từ thuế tiêu thụ đặc biệt của rượu sim. Những cánh rừng sim này được người dân tự quản lý vì rừng chính là nguồn thu nhập của họ.

* Được đánh giá cao tại hội thảo của Trung tâm Khuyến nông khuyến ngư quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tổ chức ở Phú Quốc tháng 3-2009, dự án đã tiến triển tới đâu rồi?

- Hiện nay các nhà khoa học và tôi đã thỏa thuận thống nhất một số đề tài sẽ triển khai nghiên cứu trong thời gian tới, bao gồm nghiên cứu cây sim rừng, định hướng nghiên cứu một số sản phẩm khác ngoài rượu, nhằm mục tiêu đa dạng hóa các sản phẩm từ cây sim. Đối với chính quyền địa phương, sau hội thảo tại Phú Quốc hôm 6-3, ngành chức năng tỉnh Kiên Giang và huyện đảo Phú Quốc đang xúc tiến các thủ tục pháp lý để thực hiện dự án. Các nhà khoa học cũng bắt tay vào thực hiện theo các chương trình riêng của họ.

Nụ hoa sim

Chúng tôi đã mua 6ha đất để trồng sim và chuẩn bị xây dựng một trung tâm nghiên cứu ở ấp Rạch Hàm, xã Hàm Ninh làm nhiệm vụ nghiên cứu giống, quy trình công nghệ sau thu hoạch, quy trình trồng trọt thâm canh và xen canh cây sim trên nền đất rừng của Phú Quốc. Những kết quả nghiên cứu ở đây sẽ được chuyển giao cho các hộ nông dân về kỹ thuật, nhằm hình thành vùng chuyên canh cây sim cho Phú Quốc để phục vụ ngành công nghiệp rượu sim trong tương lai.

* Nghe đâu anh còn mời được GSTS Võ Tòng Xuân ở Đại học An Giang viết dự án và sau đó một số nhà khoa học ở Đại học Cần Thơ tham gia dự án?

- Tôi gặp thầy Xuân một lần ở Cần Thơ qua sự giới thiệu của một người bạn nhân dịp tôi vào quảng bá các món ăn đặc sản của Phú Quốc và rượu Sim Sơn. Khi chuẩn bị xây dựng vùng nguyên liệu cho rượu sim Phú Quốc, tôi tìm đến thầy Xuân để trình bày ý tưởng, sau đó mời thầy ra Phú Quốc tìm hiểu thực tế. Qua khảo sát thực tế, đánh giá tiềm năng cũng như lợi ích mà cây sim mang lại cho nông dân nghèo trên đảo và cho ngân sách địa phương, thầy Xuân đã đồng ý cùng tôi xây dựng dự án này, đồng thời giới thiệu một số nhà khoa học khác để cùng kết hợp nghiên cứu một số đề tài phục vụ việc xây dựng mô hình nghiên cứu phát triển cây sim sắp tới.

* Anh tính bao nhiêu năm sẽ thu hồi vốn và có lãi?

Phân loại sim để ủ

- Đó là cái lợi bền vững, không phải có được trong ngày một ngày hai. Tôi muốn san sẻ một phần lợi nhuận từ việc kinh doanh của gia đình mình cho bà con nông dân nghèo tại đảo qua việc đầu tư và phát triển mô hình nông nghiệp mới này. Tôi cũng muốn thông qua dự án này làm cho rừng ở Phú Quốc được bảo tồn tốt hơn, trên cơ sở cộng đồng dân cư tại địa phương cùng tham gia bảo vệ và cùng chia sẻ lợi ích từ rừng mang lại. Như vậy, Công ty cổ phần sản xuất thương mại và dịch vụ Sơn Phát không phải bỏ ra một số vốn lớn để xây dựng vùng nguyên liệu khắp đảo cho rượu sim, nhưng vẫn có nguyên liệu ổn định do chúng tôi cùng những người nông dân Phú Quốc đồng hành trong chương trình này.

* Xin tò mò một chút về thương hiệu rượu Sim Sơn trong chuỗi kinh doanh nhà hàng - công ty cung cấp dịch vụ hậu cần của gia đình anh trên đảo?

- Trước đây chúng tôi sản xuất rượu chủ yếu phục vụ trong nhà hàng Vườn Táo của mình. Sau này do nhu cầu phát triển, du khách mua về làm quà tặng nên cần có thương hiệu cho sản phẩm rượu sim. Một người bạn của tôi trong đất liền đã đề nghị lấy tên bà xã tôi ghép với chữ sim thành chữ Sim Sơn để làm tên cho loại rượu này.

* Ở tuổi này với cơ ngơi này, rõ ràng anh là một người thành đạt. Anh nghĩ gì về chặng đường đã qua và sắp tới?

Ông Trịnh Công Phát và TS Nguyễn Minh Thủy (ĐHCT)

- Gần đây tôi nghĩ nhiều về sự phát triển bền vững và tuân thủ pháp luật trong kinh doanh. Theo tôi, cuộc sống này giống như một ngôi trường mà mỗi người chúng ta phải đến để học cả đời. Có người thi đậu cũng có kẻ thi rớt, người thành công kẻ thất bại, nhưng cuối cùng cũng cảm ơn cuộc sống này vì đã cho ta cơ hội được làm người.

* Cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.


Ảnh: Dương Thế Lộc, Mỹ Xuyên

■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■

Bài đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần số ra ngày 24.4.2009
URL: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=313669&