Chủ Nhật, 8 tháng 10, 2017

“Thuận thiên” với bốn “miệt” đồng bằng

PGS.TS. Nguyễn Văn Sánh (*)

Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ
(TBKTSG) - Kết luận Hội nghị phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Cần Thơ tuần rồi, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh rằng ĐBSCL phải phát triển “thuận thiên” là chính.

Phát triển “thuận thiên” là phát triển hài hòa với đất - nước - con người ĐBSCL. Hài hòa với các giá trị văn hóa riêng của ĐBSCL đã hình thành từ hàng trăm năm nay trong tiến trình khai khẩn vùng đất non trẻ đầy tiềm năng và nhiều thử thách này, không phải đến thời BĐKH thì mình mới kể ra. Đó là giá trị văn hóa cốt lõi về bốn “miệt” - theo cách nói dân dã của người dân miền Tây Nam bộ: miệt đồng, miệt vườn, miệt bưng, miệt biển. Từ xưa, bốn miệt này đã rất hài hòa về đất - nước - con người theo lợi thế của năm tiểu vùng sinh thái.

Miệt bưng

Miệt bưng mang ý nghĩa là “túi chứa nước” hay còn gọi là “má khỉ” của ĐBSCL, do 10% lượng nước sông Mê Kông chảy vào sông Tiền, sông Hậu cùng với lượng nước mưa hàng năm, sau khi san sẻ với hệ thống kênh rạch chằng chịt, đã đổ vào hai túi nước khổng lồ là vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên. Trước năm 1980, Đồng Tháp Mười chứa khoảng 9,5 triệu mét khối/năm và Tứ Giác Long Xuyên chứa khoảng 9 triệu mét khối/năm (nay chỉ còn khoảng một nửa).

Từ xưa, miệt bưng này là vùng đầm lầy và trũng. Người dân khai thác thủy sản tự nhiên và nguồn lợi đa dạng sinh học từ rừng tự nhiên hoặc chăn nuôi theo nguồn cỏ tự nhiên (ví dụ mùa len trâu). Đó là các cơ hội sinh kế chính của họ. Vì thế người dân miệt bưng rất quý giá trị sinh thái đất ngập nước và đa dạng sinh học.

Nhưng rồi vì nhu cầu kinh tế - xã hội thời nay, miệt bưng này được khai thác phát triển trồng lúa và thủy sản (cá tra) là chính để đóng góp cho an ninh lương thực và xuất khẩu. Miệt bưng đang mất đi tính tự nhiên của vùng chứa, điều tiết nước và đa dạng sinh học. Đất đai dần bị xói mòn và ô nhiễm môi trường đã tác động rất lớn đến sinh kế của người dân.

Miệt bưng này được chia thành hai tiểu vùng sinh thái rất rõ là Tứ giác Long Xuyên (đồng lụt mở) bao gồm An Giang, một phần Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang và Đồng Tháp Mười (đồng lụt kín) bao gồm ba tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang và Long An.
Với tiểu vùng Đồng Tháp Mười, tuần rồi, chính quyền ba tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang và Long An đã cùng các nhà khoa học ở Đại học Cần Thơ và TPHCM hội thảo bàn chuyện liên kết để cố gắng bảo tồn các giá trị về hệ sinh thái và văn hóa thích ứng với BĐKH, nhằm phục vụ đời sống người dân và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Lãnh đạo ba tỉnh này đã đồng thuận về quy hoạch không gian - tích hợp - liên ngành với bốn chương trình hành động. Cụ thể, phải biết phát triển sản phẩm chủ lực và sản phẩm bản địa, phải dựa vào nhu cầu thị trường và sinh thái đất ngập nước - đa dạng sinh học - du lịch để phát triển kinh tế - xã hội. Phải biết quản lý và sử dụng nước hiệu quả cho nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và dân sinh. Và phải biết phát triển cơ sở hạ tầng tổng hợp để thích ứng với BĐKH.

Từ đó, ba tỉnh đang làm tiếp việc tạo ra cơ chế, tổ chức và chính sách thích hợp để liên kết với doanh nghiệp và người dân theo ngành hàng. Rồi liên kết giữa chính quyền ba tỉnh với trung ương và giới khoa học; liên kết trong vùng ĐBSCL với TPHCM và ra nước ngoài.

Tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên cũng đang vận hành tương tự như vậy để liên kết hai vùng miệt bưng này nhằm góp sức “ổn định vùng lũ thượng nguồn ĐBSCL”, một nội dung lớn mà Hội nghị phát triển bền vững ĐBSCL vừa đặt ra.

Miệt biển

Là vùng bán đảo Cà Mau, bao gồm ba tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu và vùng ven biển Đông thuộc các tỉnh Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng. Từ lâu, người dân ở đây sống bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản tự nhiên là chính. Họ hiểu rõ nước mặn, nước lợ, nước ngọt cùng với đất đai và đa dạng sinh học vùng này đã giúp họ sinh tồn ra sao.

Họ đã nuôi trồng các loại thủy sản khác nhau tùy nước ngọt, mặn, lợ theo mùa. Họ hiểu rừng ngập mặn và biết chung sống tự nhiên, hài hòa với hai mùa mưa nắng ở đây. Độc đáo là người dân biết giá trị của nước mặn và nước ngọt để khai thác phục vụ sinh kế của mình. Ví dụ, bà con đã trồng lúa trong mùa mưa và nuôi tôm trong mùa khô trên cùng một cánh đồng; hoặc làm mô hình lúa - cá đồng... Họ biết tính toán sử dụng nước mưa hoàn hảo qua việc phát triển các mô hình vườn dừa, vườn cây ăn trái dựa hoàn toàn vào nước trời ở vùng mặn; hoặc trữ nước mưa xài quanh năm cho sinh hoạt hàng ngày bằng giếng tròn, lu, khạp, mái... Đồng thời, họ khai thác kinh tế biển như phát triển nuôi trồng, đánh bắt, làm dịch vụ biển, du lịch biển.

Do vậy, ai bảo vệ tài nguyên tổng hợp ven biển và trên biển để nâng cao sinh kế của người dân thì người dân rất vui và sẵn sàng chia sẻ.

Miệt vườn

Có năm “tiểu vùng giữa”, là những tiểu vùng trù phú về cây ăn trái cặp sông Tiền, sông Hậu thuộc Tiền Giang, Vĩnh Long và thành phố Cần Thơ. Dân số và đời sống vật chất, văn hóa ở năm tiểu vùng này phát triển cao hơn các tiểu vùng khác vì từ thời kỳ đầu khai hoang, người dân đã biết chọn chỗ có nước ngọt quanh năm và những vùng trù phú ven sông để sống.

Miệt đồng

Còn gọi là miệt ruộng, là tiểu vùng của nghề trồng lúa là chính. Trong đó, nơi nào ngập sâu (60 cen ti mét) thì nông dân trồng “lúa mùa muộn - cấy hai lần”, gặt lúa sau Tết hàng năm. Nơi nào ngập vừa (30-40 cen ti mét) thì nông dân cấy “lúa mùa trung” và gặt ngay Tết. Nơi nào đất nông thì trồng “lúa mùa sớm” và gặt trước Tết. Nơi nào gần sông và thuận tưới tiêu thì phát triển “lúa cao sản” như IR8; IR5...

Ở miệt đồng này, người dân miền Tây Nam bộ đã làm nên một nền văn hóa lúa nước vật thể và phi vật thể. Đặc biệt, đã có hơn 2.000 giống lúa mùa với gen rất quý cho chọn tạo giống chống chịu với BĐKH.

Cần nói thêm giá trị cốt lõi về ngành hàng chủ lực ở bốn miệt thuộc năm tiểu vùng sinh thái ĐBSCL hiện nay. Năm 1985, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của ĐBSCL chỉ đạt 400 triệu đô la Mỹ. Đến năm 2012 là 15,4 tỉ đô la Mỹ, trong đó, nông sản 7,8 tỉ đô la Mỹ, thủy sản 4,2 tỉ đô la Mỹ, lâm sản 2,74 tỉ đô la Mỹ. So với cả nước, riêng lúa gạo, đồng bằng này đã sản xuất hơn 50% sản lượng, với hơn 90% xuất khẩu, thu 3 tỉ đô la Mỹ/năm; thủy sản hơn 60% sản lượng và góp khoảng 80% xuất khẩu, thu trên 3 tỉ đô la Mỹ/năm. Ngành chăn nuôi, trồng cây ăn trái và rau màu đã cung cấp một lượng lớn cho thị trường trong và ngoài nước.

Tuy vậy, hiện nay miệt đồng đã không còn rõ về ranh giới sinh thái như ông bà để lại. Vì phải phục vụ cho an ninh lương thực, việc phát triển thủy lợi và xây dựng đê bao nay đã lấn sâu vào vùng bưng và cả vùng biển để trồng lúa.

Người dân ĐBSCL đã đóng góp rất lớn cho an ninh lương thực và xuất khẩu, nhưng hiện có khoảng 1,4 triệu hộ trồng lúa đang bị tổn thương vì nghèo khó khi sống trong miệt đồng này. Cần sớm có chính sách cụ thể để nâng cao sinh kế của họ. Qua đó, tái tạo được các giá trị cốt lõi của các tiểu vùng sinh thái trong bốn miệt bưng - biển - vườn - đồng như vừa nêu.

Phát triển “thuận thiên” là phát triển hài hòa với đất - nước - con người ĐBSCL. Hài hòa với các giá trị văn hóa riêng của ĐBSCL đã hình thành từ hàng trăm năm nay trong tiến trình khai khẩn vùng đất non trẻ đầy tiềm năng và nhiều thử thách này. 

(*) Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL - Đại học Cần Thơ

* Đã đăng TBKTSG Online 8-10-2017:

Thủ tướng: ĐBSCL phải phát triển “thuận thiên”

Huỳnh Kim - Trung Chánh

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu kết luận hội nghị về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu tại Cần Thơ chiều tối 27-9. Ảnh: Trung Chánh
(TBKTSG Online) - Kết thúc hai ngày Hội nghị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Cần Thơ, chiều tối 27-9, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã phát biểu kết luận, nhấn mạnh ĐBSCL cần phát triển “thuận thiên”.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ ba quan điểm phát triển ĐBSCL của Chính phủ tới năm 2050.

Một là kiến tạo phát triển bền vững, thịnh vượng trên cơ sở chủ động thích ứng, chuyển hóa được những thách thức, biến thách thức thành cơ hội, bảo đảm được cuộc sống ổn định và khá giả của người dân cũng như bảo tồn được những giá trị văn hóa truyền thống của ĐBSCL.

Hai là thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy kinh tế nông nghiệp từ số lượng sang chất lượng gắn với chuỗi giá trị; từ sản xuất hóa học sang nông nghiệp hữu cơ và công nghệ cao; chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp. Lương thực không phải là chống đói mà phải là lương thực phòng chữa bệnh với những thương hiệu nổi tiếng.

Ba là tôn trọng quy luật tự nhiên, chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, thuận thiên là chính, tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Phát triển bền vững theo phương châm chủ động sống chung với lũ, với hạn, mặn, thiếu nước, phù hợp với điều kiện thực tế. Quá trình đó phải có sự tham gia của các bên liên quan, đảm bảo sự gắn kết hữu cơ trong nội vùng cũng như liên kết chặt chẽ với phát triển Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Tiểu vùng sông Mê Công.

Thủ tướng nói: “Phải giữ được đất, nước và con người thì mới thích ứng với thiên nhiên ĐBSCL. Nơi này không chỉ là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam mà còn là nền nông nghiệp thông minh bền vững có giá trị giá tăng cao ở khu vực và ở châu Á trong tương lai”.

Theo Thủ tướng, chiến lược phát triển ĐBSCL là lấy con người làm trung tâm, chú trọng về chất lượng hơn số lượng; tiếp cận chủ động, linh hoạt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) với việc khai thác sử dụng nguồn nước trên thượng nguồn sông Mê Công và các điều kiện tự nhiên khác.

Xác định BĐKH và nước biển dâng là xu thế tất yếu, Thủ tướng nói: “Phải sống chung và thích nghi; biến thách thức thành cơ hội. Phải coi nước lợ, nước mặn cũng là một nguồn lực của tài nguyên bên cạnh nguồn tài nguyên nước ngọt. Phải tăng cường quản lý tài nguyên nước, đất đai và các tài nguyên khác trong vùng. Chú trọng phát triển vùng duyên hải, vùng đặc quyền kinh tế và vị trí địa chính trị của đồng bằng; áp dụng công nghệ mới để thuyết phục nhân tai và đối phó với thiên tai”.

Việc chuyển đổi mô hình phát triển phải bảo đảm hài hòa với điều kiện tự nhiên về đất, về nước, về đa dạng sinh học và văn hóa và tri thức bản địa phù hợp với quy luật tự nhiên, chú trọng ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ. Chú trọng liên kết phát triển trong vùng và giữa ĐBSCL với TPHCM, miền Đông Nam bộ, giữa Việt Nam và các nước, trước hết là các nước tiểu vùng sông Mê Công.

Mọi hoạt động đầu tư phải liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm; trong đó ưu tiên cho các công trình cấp bách trước mắt có tính chất “không hối tiếc”. “Phải chú trọng chủ yếu là giải pháp phi công trình như các nhà khoa học đã nêu chứ không phải cứ làm những con đê dài là được”, Thủ tướng nói.

Giải pháp hàng đầu, Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải làm xong quy hoạch phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. “Quy hoạch mới phải làm từ sống chung với lũ sang chủ động sống chung với lũ, mặn, ngập; sử dụng tiết kiệm và hiệu quả cao nguồn nước ngọt, nước lợ, nước mặn. Quy hoạch phát triển ĐBSCL phải làm cả cho vùng nước biển xa bờ. Mọi dự án chương trình phải tính toán được - mất trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường”, Thủ tướng nói.

Riêng với nông nghiệp, Thủ tướng yêu cầu phải chọn cây trồng ít sử dụng nước và không tiếp tục gia tăng diện tích trồng lúa nhiều như hiện nay. Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp ĐBSCL theo hướng liên vùng, sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả, bền vững, cạnh tranh cao, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu.

“Dứt khoát giảm diện tích lúa ba vụ, không chọn cây trồng sử dụng nước nhiều nhưng giá trị thương mại rất thấp. Và phải có doanh nghiệp tham gia từ đầu vào quá trình này”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Trong phiên họp buổi sáng 27-9 tại hội nghị này, một số đại biểu quốc tế đã nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc quản lý ĐBSCL thích ứng với BĐKH và sự hợp tác với Việt Nam.

Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức tại Việt Nam, Christian Berger, khẳng định vì sự phát triển của ĐBSCL, Chính phủ Đức sẽ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam để giải quyết những thách thức từ BĐKH, nhất là trong tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp; thực hiện các dự án chống sạt lở, sụt lún; thu hút đầu tư, quản lý hiệu quả nguồn nước; huy động, sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả. Ông cũng đồng tình với việc thành lập Hội đồng phát triển vùng để điều phối chung sự hợp tác này.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, đề nghị phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa trung ương và địa phương, giữa chính quyền với khu vực tư nhân để đáp ứng linh hoạt với thực tế và tìm được giải pháp thu hút, phân bổ, sử dụng hiệu quả các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ này, kể cả việc xây dựng quỹ phát triển ĐBSCL.
Bà Louise Chamberlain, Giám đốc quốc gia Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tại Việt Nam, kiến nghị đẩy mạnh hợp tác liên chính phủ; xây dựng cách tiếp cận tổng thể và chiến lược, tránh trùng lặp chính sách; có cách tiếp cận về tài chính phù hợp giữa công và tư; huy động mạnh hơn các nguồn vốn nước ngoài và tư nhân; đẩy mạnh chia sẻ thông tin; xây dựng mô hình thích ứng rủi ro; sử dụng hiệu quả nguồn nước ngầm; ngăn chặn hạn hán, xâm nhập mặn; phát huy được các tiềm năng, lợi thế so sánh của vùng; chú trọng tới nhóm người dễ bị tổn thương.

Ông Phạm Tuấn Phan, Giám đốc điều hành Ủy hội sông Mê Công, nhấn mạnh các giải pháp sử dụng hiệu quả lâu dài tài nguyên nước; thực hiện Hiệp định sông Mê Công về phân phối, chia sẻ nguồn nước; điều chỉnh phát triển ĐBSCL phù hợp với sự phát triển của lưu vực; sử dụng hiệu quả các sáng kiến của Ủy hội về phát triển bền vững sông Mê Kông.

Những tác động đến ĐBSCL

Báo cáo kết quả tổng kết của phiên thảo luận tại hội nghị toàn thể “Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu” dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc diễn ra hôm 27-9 tại thành phố Cần Thơ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, khu vực ĐBSCL đang chịu tác động tổng hợp giữa các nhân tố “đất, nước và con người” ở quy mô toàn cầu, khu vực và cả địa phương. Điều này, đang tạo ra các xu hướng chuyển đổi lớn, có ảnh hưởng toàn diện và sâu rộng đến toàn bộ hệ thống tự nhiên, môi trường, đa dạng sinh học và cả kinh tế, sinh kế của người dân.

Theo ông Hà, tổng dòng chảy vào ĐBSCL có xu hướng giảm với trung bình mỗi năm khoảng 1,87 tỉ m3 (tương đương khoảng 120 m3/giây), gây sụt giảm lượng nước trữ trong mùa khô. Ngoài ra, tổng lượng lũ giảm và thời gian lũ có thể kéo dài hơn khiến nhiều nơi sẽ không có lũ hoặc có nhưng không đáng kể.

Dưới tác động của các đập thủy điện ở thượng nguồn, dự báo sẽ dẫn đến tài nguyên nước ngọt giảm, nước mặn, lợ tăng. Đặc biệt, tổng lượng trầm tích về ĐBSCL có thể giảm đến 70-90% của tổng lượng trầm tích được chuyển về ĐBSCL hàng năm là 160 triệu tấn khi tất cả các đập thủy điện được xây dựng.

Các vấn đề sụt lún đất, mất rừng ngập mặn, xói lở bở biển, bờ sông cũng được Bộ Tài nguyên và Môi trường dự báo sẽ gia tăng. Song song đó, kinh tế, sinh kế dựa vào hệ sinh thái nước ngọt giảm và nước mặn tăng lên, dẫn đến di cư ra khỏi ĐBSCL tăng.

Ngoài ra, theo ông Hà, suy thoái đa dạng sinh học sẽ có xu hướng tăng mà cụ thể là các vùng đất ngập nước tự nhiên bị thu hẹp nhanh về diện tích. Trong khi đó, đất nhiễm phèn thời gian tới sẽ tăng mạnh và dự báo xảy ra ở những khu vực thuộc các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Long An, Tiền Giang và Trà Vinh do bản chất đất ở các khu vực này có chứa các vật liệu sinh phèn dưới tác động của quá trình canh tác nông nghiệp.

Tại phiên thảo luận, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết, những tác động tiêu cực như trên có tính chất liên ngành, vượt qua phạm vi ranh giới hành chính của một địa phương. “Tuy nhiên, các chương trình, dự án, quy hoạch, kế hoạch và giải pháp đã, đang được thực hiện lại theo góc nhìn riêng lẻ của từng bộ, ngành, địa phương…, không dựa trên xem xét tổng thể về không gian, thời gian, liên ngành, liên vùng”, ông cho biết.

Dẫn chứng cho điều này, theo ông Dũng, khu vực ĐBSCL hiện có đến 2.500 quy hoạch độc lập, trong đó quy hoạch cấp vùng có đến 22 bản quy hoạch.

Ông Dũng nói rằng, việc lập quy hoạch riêng lẻ nhiều, nhưng thiếu tầm nhìn, không gắn với khả năng cân đối nguồn lực sẽ dẫn đến thiếu tính khả thi khi thực hiện, thậm chí cản trở việc đầu tư, sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, người dân, gây lãng phí cơ hội và nguồn lực của đất nước.

Vì vậy, để đảm bảo cho phát triển bền vững của ĐBSCL, thích ứng biến đổi khí hậu, ông Dũng nhấn mạnh: “Phải xử lý vấn đề một cách tổng thể dựa trên quy hoạch vùng theo hướng tích hợp”.

Trước đó, trong phiên thảo luận diễn ra hôm 26-9, ông Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đề xuất khu vực ĐBSCL nên hướng tới quy hoạch tích hợp, thay vì là quy hoạch riêng lẻ như hiện nay. Theo ông, việc tiến tới quy hoạch tích hợp sẽ giúp ĐBSCL ứng phó tốt hơn với biến đối khí hậu và đây cũng được xem là một giải pháp giúp vùng huy động nguồn lực thực hiện hiệu quả hơn.

ĐBSCL dễ bị tổn thương

Báo cáo kết quả, ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, sau 30 năm đổi mới, ĐBSCL từ vùng nông nghiệp đơn gian đã hình được một trung tâm nông nghiệp lớn trong cả nước. “Đây là vùng trọng điểm tạo ra các sản phẩm xuất khẩu, có đóng góp chung cho kim ngạch toàn ngành nông nghiệp đến nay đạt khoảng 32 tỉ đô la Mỹ”, ông cho biết.

Tuy nhiên, theo nhìn nhận của ông Cường, hiện ĐBSCL lại đối mặt với nhiều thách thức do biến đổi khí hậu gây nên. “Ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng với địa hình thấp và trong bối cảnh biến đổi khí hậu như vậy sẽ là một trong những nơi bị tổn thương lớn nhất ở nước ta”, ông cho biết.

Ông Cường cho rằng những vấn đề nêu trên có tác động trực tiếp đến sinh kế và mọi mặt đời sống xã hội, trong đó, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân sẽ bị tổn thương lớn nhất.

“Bởi vì sao?”, ông Cường nêu câu hỏi và giải thích do 80% dân cư hiện sống ở khu vục nông thôn và 36% tổng sản phẩm nội địa (GDP) là từ khu vực nông nghiệp. “Do đó, đây là khu vực sẽ bị tổn thương đầu tiên”, ông nhấn mạnh.

Theo ông Cường, trong bối cảnh như vậy, nếu các bên liên quan không có hành động tích cực và thống nhất với nhau, vùng này sẽ không còn là vùng trù phú về nông nghiệp, dẫn đến sinh kế của nông dân bị ảnh hưởng, kinh tế phát triển chậm lại. “Thậm chí, các hình thái biên giới như ở Cà Mau cũng sẽ khác đi vì sạt lở”, ông nói.

Tuy nhiên, ông Cường nói rằng ông có niềm tin rất lớn là ĐBSCL sẽ ứng phó được và vùng này tiếp tục trở thành vùng trù phú về nông nghiệp.


Theo dẫn chứng của ông Cường, một số quốc gia trên thế giới đã chứng minh được điều ông đã đặt niềm tin. Chẳng hạn, Israel là quốc gia mưa ít và mặn nhiều, nhưng họ vẫn xây dựng được nền nông nghiệp hiện đại. “Hà Lan có 4 triệu héc ta đất tự nhiên, trong đó, có 2/3 diện tích thấp hơn mực nước biển, nhưng bằng chương trình hành động tổng thể, phù hợp họ vẫn có được nền nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, đưa xuất khẩu đến 120 tỉ đô la Mỹ”, ông cho biết.

Năm đề xuất cho ĐBSCL

Tại hội nghị, ông Lê Minh Hoan, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp đã nêu ra năm đề xuất giúp ĐBSCL phát triển thời gian tới.

Vấn đề đầu tiên được ông Hoan nêu ra là Chính phủ cần có những chính sách đồng bộ hỗ trợ hình thành các mô hình chuỗi giá trị ngành hàng, thay vì chỉ hỗ trợ đầu vào là người sản xuất. Nói cách khác, sự phát triển bền vững không còn dựa vào tăng sản lượng, mà phải dựa vào việc hình thành các chuỗi giá trị ngành hàng, lấy chi phí và chất lượng quyết định cạnh tranh. Gắn kết sản xuất với công nghệ bảo quản, chế biến, dịch vụ logistics, thương mại điện tử.

"Từ đó, hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp và các doanh nghiệp nông nghiệp biết tiếp cận nền nông nghiệp thông minh, ứng dụng các tiến bộ của khoa học công nghệ, công nghệ thông tin để tăng giá trị vào từng công đoạn của chuỗi giá tri, tiếp cận các phương pháp quản trị để xây dựng chiến lược phát triển", ông cho biết.

Thứ hai là Chính phủ cần xác định rõ hơn về tầm quan trọng, sống còn của kinh tế hợp tác trong tái cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL. Nếu không có kinh tế hợp tác sẽ không giảm được chi phí sản xuất, không nâng cao chất lượng, độ đồng đều nông sản và sẽ khó có thể hình thành chuỗi giá trị. Không có kinh tế hợp tác, mối liên kết giữa sản xuất - tiêu thụ sẽ không bền vững và sẽ không triển khai được các mô hình nông nghiệp thông minh, ứng dụng khoa học công nghệ. "Kinh tế hợp tác cũng là cấp chủ động thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu ngay trên từng cánh đồng", ông nói.

Thứ ba, ngoài vấn đề liên kết các tiểu vùng, Chính phủ cần định hướng và hỗ trợ thành lập các hiệp hội ngành hàng cấp vùng. Các hiệp hội này hoạt động theo thiết chế "tổ chức đa chức năng", có sự tham gia giữa các cơ quan của Chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, khu vực tư và đại diện nông dân.

Thứ tư, trong tiến trình thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp sẽ có những xung đột nhất định về thể chế và các quy định của pháp luật. Vì vậy, ông Hoan đề nghị Chính phủ cho các địa phương mạnh dạn thí điểm sắp xếp các tổ chức thuộc ngành nông nghiệp của địa phương theo hướng chuyển từ "hỗ trợ kỹ thuật sản xuất sang hỗ trợ hình thành chuỗi giá trị và các hoạt động hỗ trợ năng lực thích ứng với kinh tế thị trường cho nông dân".

Cuối cùng, tư duy chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần sớm điều chỉnh quy hoạch giảm diện tích đất trồng lúa. Đồng thời, Chính phủ cần ưu tiên các nguồn vốn ODA, các nguồn tài trợ quốc tế để đầu tư công cho các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, tư vấn hỗ trợ kỹ thuật phục vụ sản xuất, sinh kế của người dân để thích ứng với những thách thức về biến đổi khí hậu. 

* Đã đăng TBKTSG Online 27-9-2017:

* Và tại Saigon Times Daily 28-9-2017:

Tìm mô hình phát triển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu

Huỳnh Kim


Người dân nghèo mưu sinh trên sông nước Cần Thơ đang cần có cuộc sống ổn định.
Ảnh: Huỳnh Kim
(TBKTSG Online) - Thủ tướng Chính phủ sẽ chủ trì Hội nghị “Chuyển đổi mô hình, phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu”, được tổ chức tại TP Cần Thơ vào ngày 26 và 27-9-2017.

Ngày 26-9, có ba hội thảo chuyên đề song song về chiến lược phát triển bền vững. Đó là hội thảo “Tổng quan về thách thức, cơ hội và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển cho ĐBSCL”; hội thảo “Nông nghiệp bền vững, hạ tầng thủy lợi, phòng chống thiên tai và sạt lở”; và hội thảo “Quy hoạch tổng thể, phát triển hạ tầng, điều phối vùng và nguồn lực phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL”. Ngày 27-9 sẽ hội nghị toàn thể thảo luận mở ba phiên chuyên đề này; cuối ngày Thủ tướng sẽ kết luận.

Trả lời chinhphu.vn, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, người chủ trì hội thảo “Tổng quan về thách thức, cơ hội và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển cho ĐBSCL”, cho biết đây là hội nghị đầu tiên Chính phủ xem xét, đánh giá toàn diện các thách thức, yêu cầu phát triển đối với ĐBSCL, nhận diện cơ hội, huy động sáng kiến, kinh nghiệm và nguồn lực nhằm định hình chuyển đổi mô hình phát triển tổng thể, toàn diện, bền vững cho toàn vùng.

Theo ông Hà, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rất trăn trở trước những thách thức, đe dọa đến phát triển bền vững của vùng ĐBSCL từ tác động kép của quá trình phát triển nội tại chưa bền vững, của biến đổi khí hậu, của các hoạt động từ thượng nguồn làm cho sinh kế của người dân bị ảnh hưởng.

Hồi tháng 7-2017, Thủ tướng đã trao đổi với Chính phủ Hà Lan lựa chọn vùng ĐBSCL để xây dựng hình mẫu chuyển đổi mô hình phát triển bền vững, phát huy tiềm năng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, con người và văn hoá trên cơ sở kết hợp khoa học và công nghệ cao với kế thừa tri thức bản địa, biến thách thức thành cơ hội.

Thủ tướng đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương liên quan tổ chức hội nghị này nhằm tập hợp trí tuệ, phát huy sáng kiến xem xét một cách tổng thể, toàn diện, có hệ thống nhằm nhận diện đầy đủ các thách thức, định hướng được mô hình phát triển, huy động được sự tham gia chung tay của cả hệ thống chính trị, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, tạo ra những đột phá trong tư duy, thống nhất hành động trong toàn xã hội để tìm ra mô hình phát triển bền vững cho vùng ĐBSCL, chủ động trước những xu thế, diễn biến, biến đổi không thể đảo ngược về điều kiện tự nhiên.

Thủ tướng cũng yêu cầu phải đưa được quyết sách mới có tính hệ thống, chiến lược, đột phá, đề xuất được các cơ chế chính sách phù hợp để huy động sự tham gia của các bên; các phương án, giải pháp phải căn cơ, có tính khả thi, dễ vận dụng, có tính chất kết nối toàn vùng và liên vùng, tránh riêng rẽ, bị động. Có biện pháp, giải pháp thu hút được tối đa các nguồn lực nhằm phát triển bền vững bảo đảm cuộc sống của người dân vùng ĐBSCL ổn định, phát triển.

“Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh mô hình phát triển phải thích ứng, chủ động trước xu thế biến đổi về tự nhiên như hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng… Các quyết sách, chuyển đổi lớn phải trên cơ sở vai trò trung tâm của người dân”, ông Hà nói.


Hội nghị này có sự tham gia của hơn 500 đại biểu của các Ban Đảng, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các bộ, ngành, địa phương, các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển, cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà khoa học.


Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

ĐBSCL trước những thách thức về phát triển bền vững

Nguyễn Hữu Thiện

(TBKTSG Online) - Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với ba thách thức lớn do tác động của biến đổi khí hậu, phát triển thiếu bền vững và thủy điện Mêkông. TBKTSG Online giới thiếu bài viết của chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL Nguyễn Hữu Thiện, phân tích ba thách thức trên và đề xuất định hướng chiến lược vì sự phát triển bền vững vùng ĐBSCL.

Nông dân đang giăng lưới bắt cá trong mùa lũ ở Tiền Giang. Ảnh: Trung Chánh

Trụ cột kinh tế và hệ sinh thái ĐBSCL

ĐBSCL có hai trụ cột kinh tế chính là nông nghiệp và thủy sản, gồm thủy sản nuôi và thủy sản tự nhiên, nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Tất cả những hợp phần kinh tế khác ở ĐBSCL như công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đều từ 2 trụ cột kinh tế này xây lên. Hai trụ cột kinh tế chính này lại dựa vào nền tảng chính là đất và nước. Đất và nước của ĐBSCL phụ thuộc vào dòng chảy và quá trình vận chuyển phù sa sông Mêkông, nước mưa và sự tương tác với biển, thủy triều.

Trong quá khứ, ở ĐBSCL không có từ “mùa lũ” mà chỉ có từ “mùa nước nổi” để chỉ mùa nước dâng do nước từ phía thượng nguồn sông Mêkông đổ về, từ tháng 6-7 đến tháng 12 hàng năm. Lũ ở ĐBSCL lên chậm và rút chậm “hiền hòa” hơn so với ở miền Trung và miền Bắc, do có hệ thống điều hòa tự nhiên gồm 3 “túi nước” có khả năng hấp thu nước, điều hòa dòng chảy: hồ Tonle Sap ở Campuchia, vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười. Các khối nước khổng lồ được hấp thu, tạm trữ trong các vùng trũng này điều hòa dòng chảy, giảm ngập cho phía hạ lưu trong mùa lũ và bổ sung dòng chảy vào mùa khô, giúp cân bằng mặn-ngọt cho vùng ven biển.

ĐBSCL có vị trí đặc biệt nhất trong toàn bộ lưu vực Mêkông vì tiếp giáp với biển. ĐBSCL chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều từ Biển Đông, tạo nên chế độ thủy văn nội địa và dòng chảy độc đáo. Dòng chảy đảo chiều và mực nước thay đổi trong ngày gọi là “nước ròng, nước lớn”; thay đổi 2 lần trong tháng theo âm lịch gọi là “nước rong, nước kém”; và hai mùa gọi là “mùa khô và mùa nước nổi”.

Chế độ thủy triều độc đáo với nước ròng, nước lớn hàng ngày, nước rong nước kém hàng tháng, và mùa khô, mùa nước là vô cùng quan trọng cho sự hình thành và tồn tại của ĐBSCL. Chế độ thủy văn này hình thành sinh thái, văn hóa, lối sống và sinh kế của người dân ĐBSCL. Chế độ thủy triều cũng có tác dụng súc rửa, tự làm sạch cho đồng bằng.

Về sinh thái và kinh tế, ĐBSCL bao gồm một vùng nước ven bờ biển gọi là Mekong Plume.

Trong khoảng 160 triệu tấn phù sa mịn của sông Mêkông, khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước này hàng năm, chưa tính lượng cát, sỏi. Lượng phù sa và cát sỏi này có vai trò rất lớn về địa mạo, giúp bồi lấn ra biển và duy trì bờ biển, tạo nên năng suất thủy sản ven biển, với lượng khai thác khoảng 500.000-726.000 tấn hàng năm.


Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu về mối tương quan giữa lượng phù sa và năng suất thủy sản biển và hình thái địa mạo bờ biển, tầm quan trọng của vùng nước này bị xem nhẹ trong những quy hoạch phát triển ĐBSCL. Thông thường, từ góc nhìn nông nghiệp, nước ngọt ở nội địa, đặc biệt từ góc nhìn ưu tiên cây lúa, nước ngọt chảy ra biển bị xem là phí. Nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nước ngọt chảy ra biển là một quá trình tự nhiên, có vai trò lớn cho vùng ven biển vì nó ảnh hưởng địa mạo, độ mặn, độ đục, và năng suất thủy sản. Vì vậy, vùng nước ven biển này (Mekong Plume) cần được xem là một phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển ĐBSCL.

Phát triển thiếu bền vững

Gia tăng ngập và hạn-mặn

Trong 20 năm qua, rất nhiều diện tích ở 2 túi nước Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã bị bao đê khép kín để canh tác lúa vụ ba.

Trong 11 năm (2000-2012) diện tích lúa vụ 3 ở 4 tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Tháp, Long An tăng 7 lần, từ 53.500 ha lên 403.500 ha, đặc biệt ở An Giang và Đồng Tháp. Tăng mạnh nhất năm 2005, chững lại vào 2006-2008, tăng lại vào 2009-2012. Năm 2017, tổng diện tích lúa vụ ba trong mùa lũ trên toàn đồng bằng lên đến 810.000 ha.

Những khối nước khổng lồ ngoài các ô đê bao khép kín này không được hấp thu vào các vùng đồng ngập lũ đã gây gia tăng ngập ở các vùng hạ lưu và chảy hết ra biển trong mùa lũ. Đến mùa khô, hai vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười không có nước để bổ sung cho dòng chính đẩy mặn ra, làm gia tăng xâm nhập mặn vùng ven biển.

Theo Trung tâm quản lý môi trường quốc tế (ICEM), sự tăng diện tích ô đê bao khép kín riêng ở vùng Tứ giác Long Xuyên đã làm giảm khả năng hấp thu lũ của vùng này từ 9,2 tỉ mét khối năm 2000 xuống còn 4,5 tỉ mét khối năm 2011. Lượng nước bị choáng chỗ đã làm tăng ngập ở Thành phố Cần Thơ năm 2011 thêm 4cm. Đê bao khép kín vùng Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã làm tăng mực nước ở Cần Thơ 5cm,ở Mỹ Thuận 3cm.

Canh tác lúa ba vụ trong đê bao khép kín cũng làm cạn kiệt nguồn thủy sản tự nhiên, là nguồn dinh dưỡng quan trọng của người dân nông thôn, và nguồn thu nhập cho những người nghèo không đất ở nông thôn.

Đê bao khép kín cũng ngăn không cho nước lũ vào đồng. Kinh nghiệm cho thấy sau khoảng 20-25 năm, đất đai sẽ cạn kiệt chất dinh dưỡng và chi phí canh tác tăng cao. Một khảo sát của IUCN năm 2014 tại Đồng Tháp cho thấy với một hộ gia đình 5 người canh tác lúa ba vụ, nếu diện tích đất dưới 1 ha thì thu nhập không đủ sinh sống và buộc phải di cư đi nơi khác tìm việc làm. Một nghiên cứu kinh tế đã cho thấy canh tác lúa ba vụ liên tục trong 15 năm trên diện tích 1 ha, nếu cộng cả chi phí đắp, duy tuy, bảo dưỡng đê và các chi phí khác, xã hội sẽ bị lỗ 47,8 triệu đồng. Hay nói cách khác, càng canh tác lúa ba vụ,sẽ càng nghèo thêm.


Khai thác nước ngầm, ô nhiễm nước mặt, sụt lún đất

Báo cáo của Đại học Utrectch, Hà Lan cho biết sự sụt lún liên quan đến khai thác nước ngầm đã tăng dần. Trong 25 năm (1991-2016), ĐBSCL đã sụt lún trung bình 18cm do khai thác nước ngầm. Tốc độ sụt lún trung bình hiện nay do khai thác nước ngầm là 1,1cm/năm, có những nơi sụt lún 2,5cm/năm, cao hơn 10 lần so với tốc độ nước biển dâng.


Trong 25 năm qua, những vùng lớn của ĐBSCL đã bị hạ mực nước ngầm hơn 5m. Tầng nước càng sâu càng sụt giảm nhiều và những vùng sụt giảm mạnh là ở xung quanh các đô thị lớn, các khu công nghiệp có khai thác nước ngầm nhiều như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Tân An. TPHCM có những vùng sụt giảm hình nón đối với tất cả các tầng nước, với mực nước ngầm giảm hơn 20m, có nơi hơn 40m. Báo cáo cũng dự báo rằng với xu hướng nhu cầu nước ngầm ngày càng tăng ở ĐBSCL, tốc độ sụt lún sẽ càng gia tăng trong tương lai gần.

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự phụ thuộc vào nước ngầm. Đối với vùng ven biển, nước ngọt cho sinh hoạt và thủy sản thâm canh chủ yếu dựa duy nhất vào nước ngầm. Đối với vùng nội địa, trên phần lớn ĐBSCL, kể cả ở vùng nông thôn nhiều sông rạch, nguồn nước cho sinh hoạt cũng chủ yếu là nước ngầm do nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng từ nhiều nguồn gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản và quan trọng nhất là nước thải từ nông nghiệp canh tác thâm canh ba vụ lúa một năm chứa nhiều dư lượng phân bón, nông dược.

Việc làm này dẫn tới sự phụ thuộc vào hóa chất nông nghiệp vì đê bao ngăn cản phù sa vào đồng ruộng, làm đất đai bạc màu, chi phí canh tác tăng. Ước tính mỗi năm ĐBSCL tiêu thụ 1,5-2 triệu tấn phân bón và 100.000 tấn nông dược, chưa tính lượng hóa chất sử dụng cho thủy sản và vườn cây ăn trái, tổng cộng 700.000 ha.

Bên cạnh đó, khoảng 100 triệu mét khối nước thải sinh hoạt, 600.000 mét khối chất thải rắn không xử lý đã được xả thẳng ra môi trường nước. Nhiều nhà máy công nghiệp cũng xả thẳng nước thải và chất thải rắn ra sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

Như vậy, vấn đề sụt lún của ĐBSCL đáng lo ngại hơn nhiều so với nước biển dâng (trung bình chỉ khoảng 3mm/năm). Để cứu ĐBSCL khỏi bị chìm nhanh, chỉ có  cách duy nhất là phải giảm khai thác nước ngầm. Đối với vùng ven biển có thể áp dụng các công nghệ lọc nước biển như màng Nano và RO. Đối với vùng nội địa, cần phải khôi phục chất lượng nước mặt bằng cách giảm ô nhiễm từ hai nguồn lớn là công nghiệp và nông nghiệp thâm canh. Cần thay đổi chiến lược nông nghiệp ĐBSCL sang hướng nông nghiệp sạch, giảm thâm canh, chú trọng chất lượng và đầu tư vào chuỗi giá trị nông sản. Công nghiệp cho ĐBSCL nên theo hướng công nghiệp chế biến, hỗ trợ cho nông nghiệp, áo dụng công nghệ hiện đại, giảm ô nhiễm. 

Sạt lở bờ sông, bờ biển do thủy điện và khai thác cát

ĐBSCL do quá trình bồi đắp của phù sa, cát sỏi tạo nên trong quá trình “kiến tạo đồng bằng”. Trong quá trình đó, sạt lở và bồi đắp là một quá trình tự nhiên.

Tuy nhiên, trong quá khứ (trước năm 1992 khi các đập dòng chính sông Mêkông bắt đầu được xây dựng ở Trung Quốc), trong quá trình kiến tạo đồng bằng, tổng lượng bồi đắp của ĐBSCL lớn hơn tổng lượng sạt lở. Trong quá khứ không có hiện tượng sạt lở trên diện rộng và trung bình trong 6.000 năm qua, đồng bằng được mở rộng về phía đông với tốc độ 26m/năm và về hướng mũi Cà Mau với tốc độ 16m/năm, tức là khuynh hướng bồi luôn trội hơn khuynh hướng lở.

Trong 25 năm vừa qua, khuynh hướng sạt lở có khuynh hướng trội hơn khuynh hướng bồi đắp, nhất là trong 10 năm và 5 năm gần đây nhất, sạt lở càng gia tăng. Hiện nay, hơn 50% tổng chiều dài bờ biển của ĐBSCL đang bị sạt lở dữ dội, có nơi bờ biển thụt lùi đến hơn 50m, và trung bình mỗi năm mất khoảng 500 ha đất ven biển. Sạt lở bờ sông cũng đang diễn ra dữ dội trên diện rộng. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờ biển ĐBSCL là 891km.

Có 2 nguyên nhân chính có biến động đáng kể từ sau 1992 làm tăng sạt lở là tải lượng phù sa mịn và lượng cát bị mất đi do khai thác cát trên sông Mêkông. Số liệu của MRC cho biết, so giữa 1992 và năm 2014, tải lượng phù sa mịn sông Mêkông đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm. Số liệu phù sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông.

Trong 10 năm (1998-2008), cát trên sông Tiền và sông Hậu đã bị khai thác rất nhiều. Báo cáo của giáo sư Bravard (Đại học Lyon) và tiến sĩ Goichot (WWF) cho biết, từ 1998 đến 2008 sông Tiền đã mất khoảng 90 triệu tấn vật liệu đáy sông, sông Hậu mất 110 triệu tấn. Tốc độ khai thác hàng năm khoảng 27 triệu mét khối (57 triệu tấn) trong khoảng 2008-2012.

Dự báo sau khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, tải lượng phù sa mịn sẽ giảm 50% một lần nữa, còn 42 triệu tấn, tức ¼ lượng cũ trước năm 1992 và 100% lượng cát sỏi di chuyển ở đáy sông sẽ hoàn toàn bị các đập giữ lại. Khi đó, sạt lở sẽ diễn ra dữ dội hơn, khó có biện pháp tại chỗ nào ở ĐBSCL, công trình hay phi công trình, có thể cưỡng lại được khuynh hướng này.

Các hố xoáy tự nhiên hoàn toàn không phải là nguyên nhân gây sạt lở, vì các hố xoáy là một phần tự nhiên của hệ thống sông Mêkông. Trên toàn sông Mêkông có đến gần 500 hố, có hố sâu đến 90,5m, hố dài nhất đến 17,5km. Ở ĐBSCL có 22 hố tự nhiên đã được khảo sát. Sự thiếu hụt cát mới là nguyên nhân chính làm các hố sâu dịch chuyển và mở rộng.

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, El Nino, La Nina

Biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng mọi mặt đời sống và sản xuất ở ĐBSCL với các biểu hiện như tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưa trái mùa, tăng tần suất các sự kiện cực đoan.

Về nước biển dâng ở ĐBSCL, kịch bản 2016 về nước biển dâng của Bộ TN&MT, dự báo đến cuối thế kỷ 21 là 53cm,  và 55 cm cho vùng Biển Đông và Biển Tây.

Từ sau trận lũ lớn năm 2011, nước lũ về ĐBSCL thường là lũ trung bình và thấp. Đỉnh điểm là lũ thấp cực đoan năm 2015 dẫn đến tình trạng hạn mặn mùa khô 2016. Năm 2016 lũ có về, nhưng vẫn thấp hơn đỉnh trung bình nhiều năm, nên gây ra cảm nhận rằng từ nay ĐBSCL không còn lũ do các đập thủy điện chặn dòng.

Trước tiên nên xét nguyên nhân gây ra lũ thấp. ĐBSCL phụ thuộc lượng nước Mêkông, tổng dòng chảy trung bình 475 tỉ mét khối mỗi năm, trong đó phần Trung Quốc đóng góp 16%, Myanmar 2%, còn lại 82% từ biên giới Lào-Trung Quốc trở xuống, trong đó mưa ở Lào, đông bắc Thái Lan, và Campuchia quan trọng nhất. Mưa tại chỗ ở ĐBSCL khoảng 1,400-2.000mm/năm đóng góp 11%.

Về thủy điện, các đập Trung Quốc và các đập chi lưu là các đập có hồ chứa lớn, trữ nước mùa lũ, xả ra phát điện trong mùa lũ và mùa khô. Còn 11 đập dự kiến trên dòng chính ở Lào và Campuchia vận hành theo ngày, tích nước khoảng 16 giờ, xả ra khoảng 8 giờ.

Trong những năm bình thường, các đập ở Trung Quốc không có khả năng nhiều trong việc kiểm soát nguồn nước do phần đóng góp ít và vì các đập cũng phải xả ra để phát điện. Trong những năm khô hạn, các đập này gia tăng trữ nước và làm tồi tệ thêm tình hình. Năm ngoái, một El Nino cực đoan làm mưa ít kỷ lục trên toàn lưu vực, dẫn đến mực nước mùa lũ thấp kỷ lục, mặn xâm nhập gay gắt ở ĐBSCL. Vậy, nguyên nhân ban đầu của hạn-mặn ĐBSCL là El Nino; thủy điện là tác nhân thứ hai gây tồi tệ thêm chứ không phải là nguyên nhân ban đầu.

El Nino là hiện tượng xảy ra theo chu kỳ 2-7 năm một lần, và có những lần cực đoan dẫn đến khô hạn. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các sự kiện cực đoan được dự báo sẽ diễn ra thường xuyên hơ; ví dụ từ 100 năm một lần xuống còn 20-25 năm một lần, nhưng dù sao cũng không phải là tình hình chung cho tất cả các năm. Ngược với El Nino là La Nina có thể dẫn đến mưa lũ nhiều, theo quy luật bù trừ, vì vậy đang khi hạn mặn do El Nino phải luôn luôn dè chừng La Nina sau đó.

Còn 11 đập ở hạ lưu vực, tới nay có 3 đập đã khởi công nhưng chưa hoàn tất, nên chưa phải là nguyên nhân. Sau này khi hoàn tất, trong những năm bình thường các đập này không ảnh hưởng lớn đến mực nước ĐBSCL, nhưng những năm khô hạn mỗi đập có khả năng giữ nước từ 1,5 đến 18 ngày, làm nước về chậm cả tháng khi đi qua chuỗi đập. Khi đó, tình hình sẽ nghiêm trọng.

Tác động của thủy điện Mêkông

Nằm ở phía cuối của lưu vực Mêkông, ĐBSCL chịu tác động rất lớn của sự phát triển thủy điện ở lưu vực Mêkông.

Giảm phù sa mịn

Hiện tượng này gây bạc màu đất, ảnh hưởng nông nghiệp; gây ra hiện tượng “nước đói phù sa” dẫn đến sạt lở bờ sông, bờ biển; giảm lượng dinh dưỡng mang ra biển, ảnh hưởng năng suất thủy sản ven biển trong vùng Mekong Plume. Thiếu phù sa trong vùng nước biển ven bờ, giảm bồi đắp và gia tăng sạt lở bờ biển, nhất là đoạn bờ biển bùn phía Biển Đông từ Sóc Trăng đến mũi Cà Mau và phía Biển Tây từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên. Thiếu dinh dưỡng cho hệ sinh thái thủy sinh, ảnh hưởng đến năng suất thủy sản nước ngọt.

Theo Ủy hội Mêkông quốc tế, so giữa 1992 và 2014, tải lượng phù sa mịn sông Mêkông đã giảm 50%, từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm. Số liệu phù sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông, ước lượng khoảng 30 triệu tấn/năm. Dự báo sau khi 11 đập ở hạ lưu vực xây dựng xong, lượng phù sa mịn còn lại sẽ bị giảm 50% một lần nữa xuống còn 42 triệu tấn/năm.

Chặn toàn bộ cát, sỏi về ĐBSCL

Hiện nay toàn bộ cát sỏi từ phía thượng lưu vực đã bị chặn. Sau khi 11 đập ở hạ lưu vực hoàn tất, 100% cát, sỏi sẽ bị chặn tiếp. Khi đó sạt lở sẽ diễn ra dữ dội đối với bờ sông Tiền, sông Hậu và bờ biển, nhất là đoạn bờ biển cát dài 250km ở vùng cửa sông Cửu Long từ Tiền Giang qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng đến Bạc Liêu.

Mất 100% cá trắng

Khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất, 100% lượng cá trắng, tức các loài cá phải di cư ngược dòng hàng năm để sinh sản, sẽ hoàn toàn biến mất. Sự tổn thất cá trắng sẽ ảnh hưởng lớn đến dinh dưỡng và thu nhập của người dân ĐBSCL, nhất là người nghèo nông thôn và ảnh hưởng đến các loài ăn cá và tác động dây chuyền đến toàn bộ hệ sinh thái ĐBSCL.

Ảnh hưởng thủy sản biển

Trong160 triệu tấn tải lượng phù sa mịn sông Mêkông vận chuyển hằng năm, một phần được bồi lắng ở các cánh đồng ngập lũ ở Campuchia và ở ĐBSCL, còn lại khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước ven biển ĐBSCL (vùng Mekong Plume). Khi lượng phù sa và dinh dưỡng này giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất thủy sản vùng ven biển ĐBSCL trong vùng Mekong Plume.

Ảnh hưởng dòng chảy

Đối với ảnh hưởng dòng chảy của các đập thủy điện Mêkông, cần phân biệt giữa các đập ở Trung Quốc và 11 đập ở hạ lưu vực và phân biệt giữa những năm bình thường và những năm đặc biệt khô hạn.

Các đập ở phần Trung Quốc là các đập có hồ chứa lớn, có khả năng tích nước trong mùa lũ, xả ra để phát điện trong mùa khô. Theo lý thuyết, các đập này sẽ làm tăng dòng chảy mùa khô đối với ĐBSCL trong những năm bình thường. Do lượng nước đóng góp vào lưu vực của phần Trung Quốc là nhỏ, chỉ 16% nên các đập này ảnh hưởng không lớn về lượng nước đối với ĐBSCL. Tuy nhiên, trong những năm đặc biệt khô hạn, như năm 2016, các đập này có thể gia tăng trữ nước và làm tình hình khô hạn trầm trọng hơn.

11 đập ở phía hạ lưu vực, về lý thuyết cho nước chảy qua trong ngày (trung bình đóng đập 8 giờ và xả ra phát điện 16 giờ). Trong những năm bình thường, các đập này sẽ không ảnh hưởng lớn về lượng nước và mực nước ở ĐBSCL. Tuy nhiên trong những năm đặc biệt khô hạn, mỗi đập có khả năng lưu nước từ 1,5 ngày đến 18 ngày làm chậm đáng kể dòng chảy đi qua chuỗi đập, làm cho tình trạng hạn-mặn ở ĐBSCL tồi tệ hơn một cách nghiêm trọng.

Kiến nghị chiến lược ứng phó và phát triển

Với biến đổi khí hậu

Do tất cả các dự báo đều hàm chứa sự không chắn chắn, có thể thay đổi, cập nhật trong tương lai, nên áp dụng “Nguyên tắc không hối tiếc” (no-regrets principle) hay còn gọi là “Nguyên tắc cẩn trọng” (precautionary principle), trong đó ưu tiên các hành động thích ứng ít rủi ro tác động ngược, có thể sửa đổi được khi nhận ra sai lầm. Không nên đi vào con đường dẫn vào ngõ cụt, không có đường lùi. Hành động thích ứng phải có cái nhìn tổng thể về không gian, thời gian, đa ngành; tính đến tác động tổng thể lên toàn đồng bằng, tác động đến nơi khác, ngành khác, và về lâu dài.

Cụ thể, nên hạn chế các biện pháp công trình lớn như đắp cửa sông và ngọt hóa, vừa kém hiệu quả, vừa đảo lộn điều kiện tự nhiên, không thể cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất được. Tác động lớn nhất của các công trình ngăn sông, ngăn mặn ở ĐBSCL là làm mất chế độ thủy triều, tạo thành vùng nước tù ô nhiễm, mất sự trao đổi sinh thái với biển, ảnh hưởng sinh thái nội địa và sinh thái biển.

Với công nghiệp

Vì vùng ĐBSCL rất nhạy cảm về môi trường, nhất là môi trường nước, công nghiệp của ĐBSCL chỉ nên ưu tiên đầu tư công nghiệp chế biến để hỗ trợ cho nền nông nghiệp chuyển hướng sang nông nghiệp sạch để nâng cao giá trị của chuỗi giá trị và tránh ô nhiễm nguồn nước mặt.

Với nông nghiệp

Nên chuyển hướng chiến lược sang nông nghiệp bền vững, chú trọng giá trị hơn số lượng để phục hồi đất đai, nguồn nước, và sức chống chịu của đồng bằng. Cần xem xét lại khái niệm và chiến lược an ninh lương thực.

Với sụt lún

Đây là vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều so với nước biển dâng và không thể giải quyết bằng biện pháp công trình. Con đường duy nhất để cứu ĐBSCL là phải giảm sử dụng nước ngầm. Cụ thể, đối với vùng ven biển sử dụng công nghệ (Nano, RO...). Với vùng nội địa, giảm ô nhiễm nước mặt (công nghiệp, nông nghiệp thâm canh).

Với sạt lở

Nguyên nhân chính của tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển trên diện rộng của ĐBSCL là do thiếu hụt phù sa mịn và cát, sỏi gây mất cân bằng trên toàn hệ thống. Dự báo khuynh hướng sạt lở sẽ diễn biến trầm trọng hơn và sẽ không có biện pháp nào ở nội tại ĐBSCL có thể cưỡng lại khuynh hướng này. Chúng tôi kiến nghị những việc cần làm ngay và những việc không nên làm:

- Lập bản đồ cảnh báo độ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân, tránh thiệt hại tài sản, tính mạng.

- Quản lý khai thác cát chặt chẽ để đảm bảo duy trì bờ sông, bờ biển, cần biết rằng trong tương lai không còn nguồn cung cấp cát từ sông Mêkông nữa sau khi 11 đập thủy điện ở hạ lưu vực hoàn tất.

- Không nên lấp các hố sâu tự nhiên, vì rất tốn kém và không hiệu quả. Các hố sâu này được hình thành theo quy luật tự nhiên, có vai trò cân bằng động lực, khi lấp các hố này sẽ xuất hiện các hố sâu khác.

- Không nên tiêu tốn nguồn lực vào những biện pháp công trình lãng phí và kém hiệu quả. Các biện pháp công trình như bờ kè, chỉ nên tiến hành ở những nơi tối cần thiết để bảo vệ tài sản, tính mạng người dân trong ngắn hạn. Các biện pháp công trình như bờ kè có thể tạo cảm giác an toàn giả, đến khi bờ kè sụp đổ, thiệt hại sẽ lớn hơn. Bất cứ công trình nào cũng đều có tuổi thọ và chi phí duy tu sẽ tăng theo thời gian.

- Trồng và phục hồi rừng ven biển là rất cần thiết. Tuy nhiên, trồng rừng chỉ khả thi ở những nơi bồi và còn đủ phù sa trong nước. Ở những nơi đang sạt lở và đặc biệt trong tương lai khi phù sa trong nước giảm mạnh, việc trồng rừng sẽ không khả thi.

Quan trọng hơn là cần phải tiếp cận tổng thể ĐBSCL trong thực hiện chiến lược này. Vì hệ tự nhiên ĐBSCL vận hành theo quy luật tự nhiên, nằm trong tổng thể nhất quán. Hành động của một địa phương có thể ảnh hưởng địa phương khác. Hành động của một ngành đơn lẻ có thể ảnh hưởng đến ngành khác. Hành động ngày hôm nay có thể ảnh hưởng đến dài hạn.

Cần đẩy mạnh thực hiện liên kết vùng theo Quyết định 593 của Chính phủ. Cần tính đến vùng nước biển ven bờ, có liên hệ chặt chẽ về sinh thái với ĐBSCL và là một phần quan trọng của nền kinh tế ĐBSCL. Tránh cách làm cục bộ theo địa phương; làm theo kiểu “uống thuốc giảm đau”, thấy đâu trị đó, ngắn hạn mà cần phục hồi sức khỏe của cả hệ thống kinh tế, xã hội, môi trường.

* Đã đăng TBKTSG Online 19-9-2017:

Bệnh viện Quốc tế Phương Châu mở hội nghị khoa học 2017

Huỳnh Kim

Saigon Times Daily

Hội nghị khoa học thường niên năm 2017 của Bệnh viện Quốc tế Phương Châu (Annual Conference of Phuong Chau Internationan Hospital – ACP 2017) tổ chức ở TP Cần Thơ ngày 17-9 đã cập nhật những đề tài mới về sản phụ khoa, hiếm muộn, nhi khoa, nội khoa, ngoại khoa và thẩm mỹ.

Trong một phiên thảo luận tại Annual Conference of Phuong Chau International Hospital vào sáng ngày 17-9-2017 - Ảnh: HUỲNH KIM
Riêng hai vấn đề an toàn sơ sinh và vai trò của người điều dưỡng được xem là trọng điểm của hội nghị năm nay.

Tại 6 phiên thảo luận ở 3 hội trường, hơn 600 đại biểu trong và ngoài nước đã chia sẻ 30 báo cáo khoa học của các bác sĩ và chuyên gia đến từ các bệnh viện ở TPHCM, Hà Nội, Cần Thơ và Jakarta (Indonesia).

Đáng chú ý có các báo cáo: An toàn cho trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh (BV Đại học Y dược TPHCM); Hiệu quả chăm sóc theo phương pháp Kangaroo đối với trẻ non tháng (BV Phụ sản Cần Thơ); Siêu âm Doppler trong chẩn đoán thai chậm tăng trưởng – FRG (Chi hội Siêu âm Việt Nam); Bú mẹ sớm trong sinh mổ; Kiểm soát nhiễm khuẩn trong đơn nguyên sơ sinh; Quản lý rủi ro trong phẫu thuật sản khoa (BV Phương Châu); Sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT – Noninvasive Prenatal Genetic Tesing (BV Hùng Vương); Cập nhật xử lý thai chậm tăng trưởng trong tử cung (BV Từ Dũ); Dị tật bẩm sinh và một số bệnh ngoại khoa sơ sinh (BV Nhi đồng TPHCM); Cập nhật điều trị xuất tinh sớm (BV Bình Dân); Ung thư đại tràng đồng phát – Synchronous Colorectal Cancer (BV Đại học Y dược Cần Thơ); Giải pháp trẻ hóa âm đạo bằng laser (của Dr. Fransiska Mochtar đến từ Promec Clinic, Indonesia)…

Trao đổi với Daily, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hồ, Giám đốc điều hành Bệnh viện Quốc tế Phương Châu, tin tưởng rằng hội nghị này sẽ góp phần phát triển chuỗi giá trị chăm sóc khép kín và toàn diện mà bệnh viện Phương Châu đang thực hiện.

“Đó là chuỗi phục vụ bệnh nhân vùng ĐBSCL khép kín từ chẩn đoán, điều trị, chăm sóc và nuôi dưỡng; kết hợp giữa các chuyên khoa hiếm muộn, nam học, sản – phụ khoa, nhi – sơ sinh và đa khoa cho cả nam và nữ do đội ngũ y, bác sĩ có chuyên môn và trách nhiệm cao phụ trách”, bà Ngọc Hồ nói.

* Đã đăng Saigon Times Daily 18-9-2017:

Doanh nghiệp Nhật muốn đầu tư xử lý môi trường tại ĐBSCL

Huỳnh Kim
Tại buổi làm việc giữa đoàn doanh nghiệp tỉnh Hiroshima và TP Cần Thơ ngày 13-9. Ảnh: Huỳnh Kim

(TBKTSG Online) - Tiếp tục sự hợp tác từ năm 2014, đoàn đại diện của 8 doanh nghiệp tỉnh Hiroshima (Nhật Bản) đã ký kết bản ghi nhớ (MoU) với thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng về việc hợp tác xử lý môi trường tại hai địa phương này và cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Bản ghi nhớ này được ký kết ngay sau khi đoàn doanh nghiệp Hiroshima cùng hơn 200 đại diện doanh nghiệp và nhà quản lý ở ĐBSCL dự hội thảo “Kết nối doanh nghiệp về xử lý môi trường giữa khu vực ĐBSCL và tỉnh Hiroshima - Nhật Bản” tổ chức tại Cần Thơ hôm qua, 12-9.

Ngày 13-9, làm việc tiếp với UBND TP Cần Thơ, đoàn doanh nghiệp Hiroshima cho biết sẽ cùng Cần Thơ, Sóc Trăng và các tỉnh ĐBSCL khác xúc tiến việc hợp tác đầu tư các dự án xử lý rác thải, nước thải, an toàn vệ sinh thực phẩm bao gồm cả tín dụng cho các dự án này, bằng công nghệ Nhật Bản để làm sạch môi trường, nhất là tại các doanh nghiệp và khu công nghiệp.

Ông Kazunari Kawaguchi, đại diện chính quyền tỉnh Hiroshima, trưởng đoàn, cho biết việc thảo luận tại hội thảo với hàng chục doanh nghiệp và lãnh đạo ngành tài nguyên và môi trường các tỉnh ĐBSCL vào ngày 12-9 cho thấy nhu cầu giữa hai bên về xử lý môi trường là rất lớn.

“Dựa vào bản ghi nhớ đã được ký kết, chúng ta sẽ mở ra nhiều cơ hội xúc tiến đầu tư giữa doanh nghiệp Hiroshima với Cần Thơ, Sóc Trăng và nhiều tỉnh ĐBSCL khác”, ông Kawaguchi nói.

Riêng với Cần Thơ, các doanh nghiệp Hiroshima đề nghị sớm hình thành các dự án hợp tác xử lý môi trường bằng công nghệ và cả nguồn vốn từ phía Nhật Bản, cho các doanh nghiệp cả ở trong các khu công nghiệp, về xử lý rác thải, nước thải, bùn thải và vệ sinh thực phẩm.

Phía Nhật Bản cũng đề nghị các doanh nghiệp ĐBSCL nên tái chế nguồn vỏ trấu thành chất đốt thay vì bỏ đi hàng trăm tấn trấu sau mỗi mùa lúa. Họ cũng đề nghị doanh nghiệp Việt Nam nên tái chế rác thải, nước thải, bùn thải thành nguyên liệu hữu ích chứ không chỉ làm sạch môi trường.

Ông Kawaguchi cho biết các doanh nghiệp Hiroshima có đủ kinh nghiệm và công nghệ tiên tiên để hợp tác cùng Cần Thơ và cả vùng ĐBSCL thực hiện các dự án này.

Theo đại diện hai ngân hàng Nhật Bản trong đoàn doanh nghiệp này, phía Hiroshima cũng sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp ĐBSCL về vốn vay để thực hiện dự án.

Ông Takaaki Nishikawa, Trợ lý giám đốc Phòng Kinh doanh quốc tế (Assistant Manager International Business Deparment) Ngân hàng Hiroshima, cho biết đang có hơn 100 doanh nghiệp Nhật Bản làm thủ tục đầu tư vào Việt Nam (90% sản xuất, 10% thương mại).

Theo ông Nishikawa, đa số doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư tại Hà Nội, Hải Phòng và TPHCM với thủ tục thường chỉ mất 1-2 tuần là có giấy phép. Nay các doanh nghiệp Nhật Bản đang muốn mở rộng đầu tư vào ĐBSCL, Gia Lai và các tỉnh quanh Hà Nội nhưng lại ngại thủ tục ở những nơi này vì thường phải mất gần 2  tháng.

“Khi các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư vào Cần Thơ và vùng ĐBSCL, họ mong chính quyền sở tại hỗ trợ thủ tục nhanh như ở Hà Nội, TPHCM. Các doanh nghiệp Nhật Bản cũng rất mong tuyển được nhân viên biết tiếng Nhật”, ông Nishikawa nói.

Trao đổi về các đề nghị này, ông Đào Anh Dũng, Phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho biết chính quyền TP Cần Thơ sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để hỗ trợ các doanh nghiệp hai bên sớm hình thành và thực hiện các dự án xử lý môi trường như đã ký kết.

Ông Dũng giao Sở Tài nguyên và Môi trường TP Cần Thơ làm đầu mối giúp các doanh nghiệp thực hiện việc này, đặc biệt với các đề xuất của phía Nhật Bản về xử lý chất đốt từ vỏ trấu và xử lý nước thải, rác thải, bùn thải thành nguyên liệu hữu cơ.


Về thủ tục đầu tư, ông Dũng nói: “Chúng tôi đang cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là cấp phép đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài. Chúng tôi sẵn sàng tạo điều kiện để các doanh nghiệp Hiroshima triển khai các dự án tại TP Cần Thơ sớm nhất”.

Hợp tác giữa  tỉnh Hiroshima với Cần Thơ và Sóc Trăng từ năm 2014 đến nay

- Tháng 11-2014, Công ty Emax và Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Sóc Trăng ký bản ghi nhớ và thực hiện sử dụng máy làm sạch nước loại nhỏ của Nhật.

- Công ty Hinomaru Sangyo và doanh nghiệp ở Sóc Trăng ký kết bản ghi nhớ và thực hiện thử nghiệm chất làm sạch nước tại trang trại nuôi tôm.

- Tứ tháng 3-2016, Công ty Nihon Mikuniya và UBND TP Cần Thơ thực hiện thí nghiệm chứng thực về việc giảm thể tích bùn của hệ thống cống rãnh.

- Từ tháng 4-2016, Công ty Fukukawa xuất khẩu nguyên liệu nhựa tái sinh từ nhựa công nghệp cho các doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng.

Nguồn: Tài liệu của đoàn doanh nghiệp Hiroshima họp tại Cần Thơ

* Đã đăng TBKTSG Online 13-9-2017:

* Và tại Saigon Times Daily 14-9-2017: