Chủ Nhật, 25 tháng 3, 2018

Cây lúa cho tương lai

Huỳnh Kim

Thực tế biến đổi khí hậu (BĐKH) và xâm nhập mặn ở ĐBSCL đã làm cho việc trồng lúa bị đe dọa; thiệt hại rõ nhất là vào đợt hạn hán lịch sử năm 2016. Trong hoàn cảnh đó, các nhà khoa học và các địa phương tiếp tục bắt tay nhau làm ra được những giống lúa và bàn phương thức canh tác thích ứng với BĐKH, trong đó có cây lúa chịu được mặn, phèn, hạn và ngập nước.

Có thể kể một số giống nổi bật của Viện Lúa ĐBSCL, Đại học Cần Thơ, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam… đã được nông dân chọn trồng. Thí dụ OM6976, giống lúa "nữ hoàng xuất khẩu", được trồng nhiều ở Long An, Kiên Giang, An Giang... năng suất 6-9 tấn/ha, chịu mặn và phèn tốt; làm được nhiều vụ, hợp với các tiểu vùng sinh thái ĐBSCL. Hoặc các giống OM2517, OM5629, OM8017, OM992, OM8108, OM6677, OM10252, OM6162, OM4900,  OM5451, IR42, IR48, IR65185, IR 65195, IR52713 và bộ giống lúa thơm ST do nhóm của kỹ sư Hồ Quang Cua (Sóc Trăng) chọn tạo. Riêng ở huyện Hồng Dân (Bạc Liêu), Trung tâm thực nghiệm và chuyển giao khoa học công nghệ huyện này đã cùng với Đại Học Cần Thơ làm ra 2 giống lúa chịu được độ mặn cao từ lúc trổ cho đến khi chín: Một Bụi Đỏ và Sỏi PQuang K.

Ngoài các giống cao sản có gen lúa mùa cho gạo ngon, bán được giá, nhiều nhà khoa học cùng các địa phương và bà con nông dân còn đang ra sức bảo tồn cho được hàng chục trong số hơn 1.600 giống lúa cổ truyền của ĐBSCL đã có từ hơn 300 năm nay. Thí dụ các giống Nàng Tây, Nàng Tri, Nàng Đùm, Lá Rừng, Lá Rừng, Chệt Cụt, Tàu Binh... ở vùng lúa nổi An Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Cần Thơ. Hay các giống Châu Hạng Võ, Huyết Rồng, Tài Nguyên, Trắng Tép, Trắng Lùn, Tàu Hương, Móng Chim... ở vùng lúa cấy hai lần thuộc Vĩnh Long, Sa Đéc, Ô Môn, Vị Thanh, Long Mỹ, Phụng Hiệp, U Minh. Hoặc các giống ở vùng lúa cấy một lần dọc bờ biển Long An, Gò Công, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau như Ba Thiệt, Trái Mây, Tầm Vuột Lựa, Chùm Ruột Lựa, Cà Dung, Một Bụi, Nếp Bà Bóng, Đốc Phụng Lùn, Nàng Keo, Nàng Thơm...

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ (Đại học Cần Thơ), “đây là nguồn vật liệu di truyền hiếm có và là tài nguyên sinh vật quí giá, cần có kế hoạch nghiên cứu, khai thác, sử dụng tốt phục vụ sản xuất, lợi dụng đặc tính thích nghi đặc biệt với điều kiện khô hạn, ngập úng, phèn mặn”.

Ngoài ra, trong điều kiện tác động của BĐKH, theo PGS.TS Lê Anh Tuấn ở Đại học Cần Thơ, cây lúa có thể bị thiệt hại từ 6 yếu tố: gia tăng nhiệt độ, khô hạn, mưa bất thường, ngập úng, nước biển dâng - xâm nhập mặn và thiên tai bất thường.

Do vậy, song song với việc chọn tạo giống mới, các nhà khoa học luôn khuyến cáo việc trồng lúa phải phù hợp với các từng tiểu vùng sinh thái và điều kiện xã hội ở ĐBSCL. Không thể lặp lại những cái giá đắt của việc tập trung trồng lúa bất chấp sinh thái, thổ nhưỡng dù giá lúa thấp và nông dân chịu thiệt.   

Theo GS.TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, sản xuất lúa trong thời BĐKH ở ĐBSCL cần giữ 5 nguyên tắc: không trồng lúa trong mùa khô tại các vùng nhiễm mặn; không lãng phí xây kênh dẫn nước ngọt để “ngọt hoá” vùng mặn; tích cực sử dụng nước mưa để sản xuất lúa vùng nhiễm mặn; vùng nước ngọt trồng lúa bằng phương pháp tưới xen k để tiết kiệm nước ngọt; thay thế hệ thống 3 vụ lúa/năm bằng lúa/màu (mùa khô) hoặc lúa/ hay tôm càng xanh (mùa mưa); bón phân lót trước khi sạ cấy nhằm giảm bốc khí nhà kính để giảm BĐKH.

Đây cũng là điều mà Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, trong kết luận hội nghị Phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH tại Cần Thơ ngày 27-9-2017, đã nhấn mạnh: “ĐBSCL phải phát triển thuận thiên là chính”.

* Đã đăng Báo Tuổi Trẻ 21-3-2018:

Lê Chí nhớ cuộc đời

Huỳnh Kim

Vào tuổi “thất thập cổ lai hi”, nhà thơ Lê Chí vừa quay về quê nhà Cà Mau “chơi” với NXB Phương Đông để in cùng lúc hai tập thơ có tựa là “Nhớ” và “Đời”…


Đây là 2 tuyển tập ông tự làm sau 7 tập Cô gái đánh xe bò, Mùa xuân đến sớm, Những con đường im lặng, Khuya xa, Hoa quỳnh, Ngẫm nghĩ cà phê, Thời gian, Hạc. Ông đã dành hơn hai năm chọn ra 93 bài sáng tác trong vòng 40 năm nay; rồi lại chọn ảnh, kiểu chữ, tự thiết kế từng chi tiết từ bìa tới ruột trước khi giao cho họa sĩ trình bày và NXB.


Kỹ càng như thế nhưng khi in xong vẫn còn một lỗi nhỏ trong tập Nhớ, sai chữ d thành chữ t trong chùm thơ viết ở Uzbekistan năm 1988. Vậy là trước khi kí tặng bạn bè, ông tỉ mẫn ngồi xóa từng chữ t, in ra từng chữ d, rồi cắt và dán lên vết xóa, công phu như một người thợ bạc. Ở tập thơ này, 50 bài thơ bàng bạc những suy tư về tình yêu cuộc sống với tâm sự: Câu thơ cũ / gieo vào lòng đất / nẩy mầm khát đợi thời gian. Bàng bạc mà kỹ càng, như 4 câu tác giả chọn làm đề từ in riêng thành hai cặp ở đầu và cuối sách: Theo con đường thiên nhiên / dầu dãi đi qua / Lầm lũi gieo mùa ảo tưởng / gặt nỗi buồn thơ ơi.


Về bài thơ văn xuôi Nhớ đăng ở cuối tập này, nhà văn Trung Trung Đỉnh có lần kể trong bài “Lê Chí và thơ: Tôi xin mượn lời một độc giả của anh, chị Út Loan, trong bữa tiệc trên tầng lầu mất điện giữa Cà Mau: “Tôi đã đọc tập thơ “trúc trắc” của ông Lê Chí rồi. Ông không nói về ai hết mà tự dằn vặt với mình. Thấy khổ quá, buồn quá và cay đắng quá. Nhưng càng đọc, càng nghĩ thì cũng nghe được”. Theo tôi, đó là lời bình luận chân thành và chính xác nhất”.


Còn ở tập thơ Đời, nhà thơ Lê Chí tự sự rằng: Mấy mươi năm buồn vui thao thức / giấc ngủ chưa thành. Rồi ông viết đề từ cho tập thơ: Học cách của sen / tìm thơ từ rơm rạ sình bùn / Nhiều khi rày đây mai đó / dễ đâu người gặp được người. Vẫn là kỹ càng và chu đáo, dù là độc thoại âm thầm hay đối thoại trực diện trước một sự đời, bởi hết thảy đều chạm tới số phận con người. Thí dụ trong bài Đời viết năm 2012 sau khi nhận điện thoại của nhà văn Nguyễn Quang Sáng gọi hỏi thăm vì nghe tin… mình đã chết: Chẳng buồn / cũng chẳng vui / được tin mình vừa chết / bạn già gọi điện hỏi thăm... Mình còn sống hay mình đã chết? / nửa thực nửa ngờ...


Đọc thơ Lê Chí, rồi gặp nhau tại Trại Văn mùa hè 2015 của Viện William Joiner ở Mỹ, Giáo sư Nguyễn Bá Chung đã nhận xét: “Anh có lẽ là một nhân vật hiếm có ở miền Nam, theo cách mạng từ nhỏ nhưng tự chọn cho mình một cuộc hành trình riêng biệt. Có lẽ một trong những cái khó nhất của cuộc đời là không bị sự cuốn hút của đám đông, không chạy theo tài lộc và danh vọng, sẵn sàng chấp nhận một cuộc sống bình thường để sống trung thực với những cái gì bất bình thường nhất của mình. Anh đã để những cái bất bình thường đó đi vào những bài thơ của anh, như những tia nắng mặt trời, làm cây trái sinh sôi và cuộc đời nồng ấm. Sau 1975, những tia nắng đó vẫn còn đầy sức sống, vẫn lan tỏa trong những câu thơ, đánh dấu một chặng đường thật dài, không khỏi trải qua bao khó khăn gian khổ, để bây giờ vẫn đứng đó tỏa hương làm ấm áp cuộc sống”.

* Đã đăng báo Thanh Niên 8-3-2018:




“Đổi đời” từ hạt gạo miền Tây

Huỳnh Kim

Kết luận hội nghị về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) tại Cần Thơ hôm 27-9-2017, liên quan tới cây lúa, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh: “Dứt khoát giảm diện tích lúa ba vụ, không chọn cây trồng sử dụng nước nhiều nhưng giá trị thương mại rất thấp và phải có doanh nghiệp tham gia từ đầu vào quá trình này”. Thủ tướng yêu cầu phải cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp ĐBSCL theo hướng liên vùng, sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả, bền vững, cạnh tranh cao, đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu.

Từ hội nghị này, ngày 17-11-2017, Chính phủ đã ra Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH. Theo đó, ngoài giải pháp chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn, giải pháp xây dựng cơ cấu sản xuất nông nghiệp phải theo ba trọng tâm: thuỷ sản - cây ăn quả - lúa gắn với các tiểu vùng sinh thái; gắn kết chuỗi sản phẩm hàng hoá, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hiện nay, 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL đang thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết này. Trong đó, lúa gạo phải chuyển sang nâng cao chất lượng, tăng giá trị xuất khẩu, tăng lợi tức cho nông dân, bảo đảm môi trường và tiếp tục góp phần giữ an ninh lương thực.

Tin vui mới nhất trong vụ lúa đông xuân hiện nay là nhiều nông dân ĐBSCL đang bán lúa có giá hơn tháng trước từ 300-500 kg, lời khoảng 30 triệu đồng/ha. Về xuất khẩu, theo Bộ NN-PTNT, giá gạo xuất khẩu bình quân của Việt Nam 2 tháng đầu năm nay đạt trung bình 475 USD/tấn (năm 2017 là 450 USD/tấn), cao hơn giá gạo Thái Lan. Nguyên nhân, theo Bộ NN-PTNT, nhờ chất lượng gạo đã tăng, chủ yếu xuất gạo nếp thơm, ngon so với lâu nay xuất bán gạo thường; với tỷ lệ gạo chất lượng cao chiếm 81% trong cơ cấu xuất khẩu.

Nhiều địa phương đang đầu tư mạnh cho các chương trình này và đã thu được kết quả bước đầu. Ở Kiên Giang, theo chủ tịch UBND tỉnh, ông Phạm Vũ Hồng, trong số hơn 4 triệu tấn lúa nông dân Kiên Giang làm ra năm ngoái, lúa chất lượng cao đã chiếm 75 %. Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau… cũng đang xúc tiến các dự án, các mô hình sản xuất lúa gạo sạch, hữu cơ, chất lượng cao.

Đồng Tháp đang mở rộng chương trình liên kết làm hơn 25.000 ha lúa chất lượng cao ở  Tân Hồng, Tam Nông, Thanh Bình, Tháp Mười, Cao Lãnh, Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành, Hồng Ngự với 53 doanh nghiệp, công ty tham gia kèm với mô hình sản xuất lúa hiện đại, lợi nhuận cao ở xã Đốc Binh Kiều, huyện Tháp Mười

Ở An Giang, tập đoàn Lộc Trời đang đẩy mạnh chương trình sản xuất lúa gạo bền vững (SRP) để xuất sang Mỹ. Chương trìnhnày được phối hợp với IFC (thành viên của nhóm Ngân hàng thế giới, Viện Nghiên cứu lúa gạo IRRI và Diễn đàn Lúa gạo bền vững quốc tế – SRP). Từ 200 ha đang làm, dự án sẽ thực hiện mô hình chuỗi lúa gạo khép kín, liên kết 25.000 nông hộ, tổ chức lại sản xuất, cung cấp giống, hỗ trợ vật tư nông nghiệp cho nông dân và xây dựng thành những cánh đồng lớn qui mô 60.000 ha/năm.

Ở Cần Thơ, từ hơn 5 năm trước, công ty Trung An đã chế biến gạo thơm ST của Sóc Trăng để xuất khẩu với giá hơn 900 USD/tấn. Nay công ty này có tên là công ty Cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An chuyên sản xuất, chế biến và bán mỗi năm khoảng 300.000 tấn gạo ngon với giá có lợi nhất cho nông dân. Đó là các sản phẩm gạo thơm thương hiệu Trắng Tép, Hương Lài, Việt Đài, Lài Sữa, Jasmine, Japonica, Lức Tím Than. Riêng xuất khẩu, các loại gạo này đã được Trung An xuất sang Mỹ, Malaysia, Philippines, Singapore, Hong Kong, Đài Loan, Trung Quốc, Iran, Iraq, Thụy Sĩ, Đức, Ý, Pháp, Úc và Libăng.

Còn nhiều địa phương, doanh nghiệp đang cùng với bà con nông dân làm cho cây lúa, hạt gạo ở ĐBSCL gia tăng được chất lượng và lợi nhuận như vậy. Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều việc phải làm để cây lúa và hạt gạo Việt Nam, mà 90% là ở miền Tây Nam bộ, thực sự “đổi đời” theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ.
                   
* Đã đăng báo Tuổi Trẻ 7-3-2018:



Kết nối nhà nông với thị trường

Huỳnh Kim

Trong khuôn khổ diễn đàn về rau củ quả và logistics phục vụ nông nghiệp vừa diễn ra trước tết tại tỉnh Đồng Tháp, những người trong ngành nông nghiệp cho rằng một khi nông dân biết “chơi” với nhau và “chơi” với thị trường thì nhiều chuyện bổ ích khác sẽ tới.

Câu chuyện hội quán

Tối 18-12-2017, sau khi kết thúc diễn đàn về rau củ quả và logistics phục vụ nông nghiệp, ông Sáu Sen, tên thân mật của Bí thư tỉnh ủy Lê Minh Hoan, rủ chúng tôi cùng “vi hành một chuyến đặc biệt”. Ông đưa đoàn của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm hội quán của bà con nông dân trước khi khai mạc Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Đồng Tháp vào sáng hôm sau.

Rời trụ sở ủy ban, đoàn xe len lách trên những con đường làng quanh co rợp bóng xoài dưới ánh đèn điện. Độ gần nửa tiếng sau, ông Sáu Sen nói: “Tới rồi, bên kia sông cái là đất An Giang, còn đây thuộc xã Tân Thuận Tây của thành phố Cao Lãnh”.

Tối 18-12-2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (thứ 2, bên trái) thăm hội quán nông dân ở xã Tân Thuận Tây, thành phố Cao Lãnh, nơi có mô hình kết nối nông dân với thị trường. Ảnh: Huỳnh Kim
Chúng tôi theo sau đoàn của Thủ tướng và mấy vị bộ trưởng, bước vào sân một ngôi nhà cổ. Đây là tụ điểm của hai hội quán có tên là Tân Quê và Thuận Tân. Khoảng sân rộng đã có hơn một trăm bà con nông dân thành viên của hai hội quán này bày sẵn xoài, nhãn, mận… chờ đón khách.

Thủ tướng bắt tay, hỏi thăm bà con rồi dừng trước thúng xoài cát. Ông cầm trên tay những trái xoài mập căng tròn, trò chuyện vui vẻ với chủ nhà vườn. Sau đó, cả đoàn ngồi nghe ông Sáu Sen, ông Võ Văn Lợi, chủ nhiệm hội quán Thuận Tân và thầy Thích Thiện Xuân giới thiệu ngắn về câu chuyện làm ăn của các hội quán này.

Ông Sáu Sen cho biết, hội quán là nơi để bà con cùng hợp tác, cùng tiến xa như người ta hay nói “muốn đi xa thì phải cùng đi”. Lãnh đạo tỉnh, chuyên gia tư vấn, nhà khoa học cũng đến hội quán sinh hoạt với bà con. Nhiều doanh nghiệp cũng đến đây để kết nối thị trường với nhà nông. Nhờ vậy, thời gian gần đây, trái nhãn, trái xoài cát Cao Lãnh đã xuất khẩu được nhiều hơn.

Đồng Tháp là tỉnh đầu tiên ở đồng bằng sông Cửu Long lập các hội quán này. Hội quán đầu tiên ở xã An Nhơn, huyện Châu Thành ra đời vào tháng 6-2016. Đến nay, Đồng Tháp đã có 27 hội quán với hơn 1.000 thành viên làm chung các nghề như lúa, xoài, chanh, cam, quýt, hoa kiểng, sản xuất khô, trồng khoai môn, nuôi lươn, làm bột…

Từ khóa liên kết

Nhận xét về mô hình này, Thủ tướng kỳ vọng các hội quán sẽ hoạt động tốt hơn, tìm lời giải cho những vấn đề như nâng cao chất lượng xoài và nhãn, nâng cao năng suất và khả năng chế biến… Ông cũng đề nghị địa phương nghiên cứu mô hình hợp tác xã kiểu mới để hỗ trợ cho nông dân tốt hơn. Hợp tác xã kiểu mới không phải là ép vào, là đánh trống ghi tên mà phải xuất phát từ quyền lợi, sự tự nguyện của bà con nông dân.

Phát biểu tại Hội nghị xúc tiến đầu tư của tỉnh Đồng Tháp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã kể lại câu chuyện hội quán cho khoảng 500 đại biểu trong và ngoài nước tham dự hội nghị nghe. Rồi ông đặt vấn đề: “chúng ta rút ra bài học gì trong phát triển?” và tự trả lời rằng từ khóa “liên kết” đã trở thành tâm điểm của những thành công của Đồng Tháp.

Cụ thể, tỉnh đã liên kết sản xuất và mở thị trường với trọng điểm là sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Từ đó, Đồng Tháp có sản lượng lúa xếp thứ ba cả nước, nhiều loại trái cây, rau quả nổi tiếng, một số sản phẩm có thương hiệu. Đặc biệt là liên kết giữa vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học và người nông dân qua mô hình hội quán nông dân, đặt người nông dân ở vị trí trung tâm… Đồng Tháp cũng là địa phương khởi xướng, cùng với Long An và Tiền Giang, triển khai đề án liên kết phát triển tiểu vùng Đồng Tháp Mười. Đặc biệt, Đồng Tháp khởi xướng liên kết qua dịch vụ logistic và hạ tầng giao thông.

Thủ tướng cho rằng Đồng Tháp cần liên kết tài nguyên bản địa với công nghệ và kiến thức rộng khắp của toàn cầu. Thương hiệu của Đồng Tháp từ tự nhiên, con người, lịch sử đang tạo ra sức hấp dẫn. Đồng Tháp cần nhân nó lên bằng sức mạnh tri thức và công nghệ 4.0 của thế giới.

Theo ông, hội quán nông dân của Đồng Tháp không phải chỉ là một mô hình liên kết nông dân mà cần phát triển thành chuỗi giao dịch hiện đại, nơi các công nghệ về thương mại điện tử, tương tác trực tuyến, qua đó giúp các ý tưởng, thương vụ thăng hoa. 

* Đã đăng báo Sài Gòn Tiếp Thị 2-3-2018: