Thứ Năm, 31 tháng 5, 2012

Luân hồi



Thân tặng Trần Kim Đính



Ồ thế đó một tình yêu đã chết
Đã luân hồi thành tình bạn vong niên
Hoa đã rụng từ nhành khô nhựa hết
Hóa thân mình vào cát bụi hồn nhiên


Và thế đó dòng sông xanh trôi chảy
Từ đại ngàn giữa nguồn cội hoàng kim
Vượt ghềnh thác đổ ra cùng biển cả
Rồi bay lên làm mây nước lim dim


Bầu trời ấy hóa mưa ngàn gió núi

Mùa bão giông mùa lãng đãng bình yên
Rồi luân vũ xuống trần gian đắm đuối
Cuộc tái sinh nhân và ái triền miên


Ta bè bạn như cỏ cây trời đất
Nhè nhẹ thương yêu cây cỏ đất trời
Trong cõi đó có không không sắc sắc
Có nhân tình thế thái vạn trùng khơi











(Tuesday, July 19, 2011 11:39 AM)

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Việt Linh chuyện và truyện: “Để con người không trơn tuột”


 

Ảnh bìa cuốn tạp bút Việt Linh chuyện và truyện (*)  do cố đạo diễn NSND Hồng Sến chụp năm 1969. Khi đó Việt Linh 17 tuổi đang ngồi bên cha Việt Tân tại một căn cứ cách mạng trong chiến khu. Bây giờ thì chị Việt Linh đang sống với chồng, một giáo sư kinh tế người Việt cùng cô con gái tại Paris - Pháp, vẫn theo nghiệp đạo diễn và viết lách mà dường như cái nghề viết nó đang bè bạn với chị nhiều hơn. 

Mới ra mắt chưa đầy tháng, cuốn sách dày hơn 430 trang, giá 132.000 đồng đã được tái bản. Đó là những “câu chuyện trần gian” nho nhỏ chị Việt Linh chiêm nghiệm ở trong nước và ngoài nước từ năm 2006 tới giờ, sau tạp bút Chuyện mình, chuyện người xuất bản năm 2008. Có 104 chuyện kể ngắn gọn, mà dường như chuyện nào đọc xong cũng dễ làm cho mình dừng lại ngẫm nghĩ một chút, suy tưởng một chút vì sự tinh tế và tính khái quát về ý nghĩa của chuyện. Xin trích một số đoạn văn trong sách: 


 “Người đàn bà mà cuộc đời tóm gọn trong hai từ “kháng chiến” đã khiến khán phòng vỗ tay rầm rập khi nói: “Người đấu tranh không bao giờ thua. Chúng ta chỉ thua khi chúng ta đầu hàng. Kể cả khi chúng ta chết đi thì chúng ta cũng thắng, bởi chúng ta đã giành được nhân phẩm”. (Buổi phim xao động).


“Anh nhắc hoài hai chữ tự do như nuối tiếc một lạc thú đánh mất. Chính khao khát tự do này khiến anh chọn nghề phụ trách bar rượu trên xe lửa xuyên châu Âu. Để được lang bang. Để càng thấy vô thỏa. Anh nói anh luôn bị ý nghĩ tự do ám ảnh”. (Chiều chiều ra đứng ngỏ sau).

“Người đàn ông phố thị lập tức khiến tôi chú ý bởi sắc diện phong lưu khác xa nghề may túi lam lũ của anh, và bởi anh... ở trần”. (Người ở trần).

“Chị ào tới ôm anh. Làm sao không ôm một người bạn đã… chết 30 năm, giờ chợt trở về!? Anh không ôm chị, bởi như xưa, anh biết chị chưa bao giờ yêu anh. Chị yêu người khác”. (Cố nhân).

“Mới đó mà đã 18 năm kể từ ngày hai bác cháu cùng đi chọn cảnh, mà dấu vết duy nhất còn lại là tấm ảnh này. Máy xấu, ảnh lem nhem nhưng vẫn thấy ba “nhân vật”. Hòn phụ tử đã rơi, Sơn Nam đã đi, chỉ còn lại con quỷ với tương tư bà Chúa”. (Bà chúa của Sơn Nam).

“Em vừa 82 tuổi. Người em co rút lại, không nặng hơn 45 kí lô, nhưng em vẫn xinh đẹp, duyên dáng, gợi tình... Năm mươi tám năm chúng ta sống cùng nhau và anh đang yêu em hơn bao giờ hết”. (Gừng cay muối mặn).
“Trở lại câu hỏi của em, rằng nếu thật sự năm 2012 là năm cuối cùng của thế giới đương đại, thì mỗi chúng ta sẽ lựa chọn cách sống nào trong thời gian cuối đó? Tôi nghĩ nỗi lo kia không thực tế, nhưng nếu để vui, tôi chọn cách đón xuân của Nhân kiều”  (Nhân kiều).

Đọc Việt Linh chuyện và truyện, người ta dễ nhớ lại những tác phẩm điện ảnh nổi tiếng của đạo diễn Việt Linh: Nơi bình yên chim hót; Phiên tòa cần chánh án; Gánh xiếc rong; Dấu ấn của quỷ; Chung cư; Mê thảo – thời vang bóng. Và nói như nhà văn Dạ Ngân kể: “Sau Chuyện mình, chuyện người, chúng ta bắt đầu có thêm nhà văn - nhà báo Việt Linh, trong lúc các đạo diễn viết được văn xuôi khá hiếm. Càng xa cái ghế đạo diễn nàng càng chăm chú với ngòi bút”. Và Dạ Ngân hi vọng: “Tôi vẫn mong đến lúc nào đó Linh sẽ viết được tiểu thuyết. Sao lại không chứ? Bởi như một người bạn Pháp nhận xét: “Chừng như cuộc đời mỗi người Việt Nam là một câu chuyện dài”. 

Đọc những câu chuyện này ở Mỹ khi sách vừa ra đời vào cuối tháng 3-2012, nhà văn Lý Lan, cũng đang sống xa nhà như Việt Linh, viết trên blog của mình: “Viết là công việc đơn độc của một người. Ly hương là con đường cùng văn hóa. Người viết ly hương phải tìm cách nhập vào đại lộ văn hóa xứ người, ngược lại sẽ bị lạc lỏng và lãng quên ở cuối con đường cùng văn hóa của mình, nhất là ngôn ngữ của mình. Nhưng người đàn bà tha hương viết bằng tiếng mẹ đẻ là một nỗ lực sống còn tâm linh: viết hay là chết lụi tâm hồn. Lớn hơn một thôi thúc của nhu cầu, viết bằng tiếng mẹ đẻ đối với người đàn bà tha hương là một bản năng sống”. 

Còn với tác giả, Việt Linh tâm sự: “Khi viết tôi không nghĩ đến địa lý, hay cái gì đó tương tự. Tôi chỉ nghĩ đến những gì liên quan tới con người, ngay cả khi tôi nói về con cá. Và con người rất chung chung, ngay cả khi họ có tên, có quốc tịch. Tôi nhìn thấy thế giới ngày một “phẳng”, nhưng tôi tin không bao giờ nó “phẳng” đến tận cùng. Nó sẽ vẫn còn những hố, những hang hốc... Để chi? Để con người không trơn tuột, để nghệ sĩ còn có chuyện làm, để nghệ thuật còn ý nghĩa”.

***************
(*) Việt Linh chuyện và truyện - NXB Trẻ - quý 1/2012.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

THAM GIA CÔNG ƯỚC RAMSAR, TRÀM CHIM ĐƯỢC GÌ?





Tràm Chim  (gần 7.500 hecta, trong đó gồm khoảng 1800 ha rừng tràm, còn lại là đồng cỏ ngập nước theo mùa, đầm lầy sen súng, và mặt nước) là nơi duy trì sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái cho cả vùng Đồng Tháp Mười, và là vùng đất ngập nước tiêu biểu của ĐBSCL.  Về đa dạng sinh học, Tràm Chim có 231 loài chim (trong đó quý nhất là chim hạc), 191 loài thực vật, và khoảng 150 loài cá nước ngọt.  Đồng cỏ ngập nước theo mùa ở Tràm Chim mang tính đa dạng sinh học cao. Lúa ma mọc hoang dã ở Tràm Chim là sinh cảnh tốt cho cá, chim và là nguồn gien cần bảo tồn. 

Lúa ma ở Tràm Chim


Vườn Quốc gia Tràm Chim vừa được Công ước Ramsar công nhận là khu Ramsar thứ tư của Việt Nam và thứ 2000 của thế giới. Dịp này, TBKTSG đã phỏng vấn Thạc sĩ NGUYỄN HỮU THIỆN,  chuyên gia sinh thái với hơn 20 năm kinh nghiệm về bảo tồn đất ngập nước ở ĐBSCL…

 
Th.S Nguyễn Hữu Thiện

TBKTSG: Theo ông, vì sao Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar của thế giới? 
- Th.S NGUYỄN HỮU THIỆN: Tràm Chim xứng đáng với danh hiệu Ramsar vì thỏa mãn được 8 trong số 9 tiêu chí của Ramsar. Ngoài ra, tổ chức BirdLife còn xếp Tràm Chim là một trong các “Vùng chim quan trọng” (IBA - Important Bird Area) ở Việt Nam. Ngày nay gần như toàn bộ cảnh quan Đồng Tháp Mười xa xưa đã biến mất, chỉ còn sót lại một vài khu quan trọng như Tràm Chim ở Đồng Tháp, Láng Sen ở Long An.  Việc gìn giữ các khu còn lại như thế có ý nghĩa nhiều mặt về đa dạng sinh học, sinh thái, du lịch, văn hóa, nghiên cứu khoa học. Tràm Chim cũng là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng xung quanh và đặc biệt là nơi giữ lại hình ảnh của Đồng Tháp Mười xa xưa cho các thế hệ mai sau chiêm ngưỡng và suy ngẫm về công lao của tiền nhân mở cõi ở vùng đất phương Nam này.


TBKTSG: Hệ sinh thái đất ngập nước của Tràm Chim có gì đặc biệt so với các khu Ramsar khác?
- Đây là một trong những mảnh cuối cùng còn sót lại của Đồng Tháp Mười xa xưa, một cánh đồng hoang rộng tới gần một triệu héc-ta, trải dài từ Đồng Tháp qua Tiền Giang và Long An ngày nay. Đồng Tháp Mười xưa là thiên đường của muôn loài, kể cả cá sấu và khỉ. Có những địa danh ở Đồng Tháp Mười xưa còn gợi lại hình ảnh hoang dã này như là Bưng Sấu Hì là vùng bưng trũng ngày xưa có nhiều sấu, hay kênh Cà Dâm, và gò Lâm Vồ đặt theo tên loài cây Cà Dâm và cây Lâm Vồ mà ngày nay hiếm thấy. Đồng cỏ của Tràm Chim là loại cảnh quan khó tìm thấy ở nơi đâu khác trong lưu vực Mekong.  Ngoài ra, cánh đồng lúa ma ở Tràm Chim là diện tích lúa ma còn sót lại lớn nhất ở ĐBSCL.
Đặc biệt ở Tràm Chim có quần thể sếu đầu đỏ hàng năm đến sinh sống trong mùa khô, từ khoảng tháng giêng dương lịch khi mực nước bắt đầu cạn trong đồng cho đến đầu mùa mưa vào khoảng cuối tháng năm. Sếu đầu đỏ chính là chim hạc mà ta thường thấy tượng loài chim này đứng trên lưng rùa trong các chùa chiền của Việt Nam. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hạc được xem là linh thiêng; người sống có đức độ thì khi qua đời sẽ được chim hạc đến rước linh hồn về trời, tức là “cưỡi hạc quy tiên”.

TBKTSG: Như vậy, cái lợi của việc Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar là gì?
- Được công nhận là Ramsar là một cơ hội tốt cho công cuộc bảo tồn đất ngập nước ở Tràm Chim. Một khu đất ngập nước được Ramsar công nhận có tầm quan trọng quốc tế thì cái lợi đầu tiên là danh tiếng của khu đó và kể cả của quốc gia cũng sẽ được tăng lên nhờ được nhắc đến nhiều hơn ở các diễn đàn quốc tế về bảo tồn và sử dụng khôn khéo đất ngập nước. Tràm Chim được xem là khu Ramsar thứ 2000 của thế giới.  Con số 2000 cũng sẽ gây được sự chú ý đặc biệt cho Tràm Chim.  Ngoài ra, khi thành khu Ramsar, Tràm Chim sẽ có cơ hội nhận được sự hỗ trợ của các chuyên gia về chuyên môn cũng như cho việc áp dụng các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận. Tràm Chim sẽ có cơ hội nhận được những khoản hỗ trợ từ Quỹ Hỗ trợ nhỏ của Công ước Ramsar và tăng sự chú ý của các quỹ bảo tồn khác.

TBKTSG: Đã từng làm việc nhiều năm tại Tràm Chim, theo ông, các nhà khoa học đã giúp giải quyết được những vấn đề chính nào ở Tràm Chim?
- Trong những năm qua, Vườn Quốc gia Tràm Chim đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước như Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học khoa học tự nhiên Tp.HCM, Tổ chức Bảo vệ hạc quốc tế (ICF), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã thế giới (WWF)… và của rất nhiều chuyên gia trong và ngoài nước. Nhờ đó chúng ta đã giải quyết được những vấn đề quan trọng đe dọa đến hệ sinh thái của Tràm Chim, trong đó quan trọng nhất là việc thí điểm thành công việc thực hiện quản lý nước phù hợp, duy trì chế độ thủy văn hai mùa, tuân thủ theo quy luật tự nhiên của Đồng Tháp Mười. Người dân địa phương cũng đã được tổ chức thành nhóm để sử dụng tài nguyên một cách có kiểm soát bên trong vườn quốc gia.


TBKTSG: Nhưng dường như các nhà khoa học vẫn chưa yên tâm với vấn đề “nước nôi” ở Tràm Chim?
- Vấn đề lớn nhất đe dọa hệ sinh thái Tràm Chim mà hiện nay vẫn chưa được giải quyết đó là các đê bao xung quanh Tràm Chim quá cao theo kiểu “chống lũ triệt để”. Các đê này được nâng vào năm 2003 lên cao đến 4-5 mét trên mặt đất nhằm trữ nước quanh năm bên trong Tràm Chim để phòng cháy. Hệ thống đê bao thấp khoảng 2 mét so với mặt đất xung quanh Tràm Chim như trước năm 2003 là cần thiết để duy trì độ ẩm thích hợp, bù cho lượng bốc hơi mặt thoáng, thoát hơi qua lá, và thấm qua đê trong mùa khô. Trong bối cảnh thủy văn toàn vùng Đồng Tháp Mười đã thay đổi, nếu không có hệ thống đê bao thấp xung quanh thì vào mùa khô, mực nước sẽ xuống thấp hơn mặt đất khoảng 1,5 đến 2 mét thì cây cỏ sẽ chết khô. Hệ thống đê bao thấp trước 2003 vẫn cho nước lũ tràn qua được. Tuy nhiên từ khi hệ thống đê bao này được nâng cao lên thì Tràm Chim bị cách ly với môi trường bên ngoài.
Vì nước lũ không tràn qua đê được nên trứng cá và cá con từ nước sông Mekong chỉ vào được Tràm Chim một cách rất hạn chế qua các cửa cống. Lượng cá giảm cũng kéo theo sự suy giảm số lượng chim nước vì thiếu thức ăn. Nếu tình trạng đê cao này kéo dài thì lượng cá bên trong sẽ nghèo kiệt và số lượng chim nước ở Tràm Chim chắc chắn sẽ suy giảm theo thời gian.
Giải pháp cho vấn đề này có thể là hạ thấp cao trình một số đoạn đê xuống như trước đây hoặc xây một số tuyến đập tràn để cho nước có thể tràn qua trong mùa lũ để mang vào trứng cá và cá con và tạo điều kiện cho xác bã thực vật bên trong phân hủy tốt hơn để cải thiện môi trường nước và cũng để giảm rủi ro cháy với cường độ cao. Chúng ta cũng cần chú ý là chuyện cháy định kỳ hàng năm với cường độ thấp là một yếu tố cần thiết cho hệ sinh thái đất ngập nước như ở Tràm Chim.

TBKTSG: Xin cảm ơn ông



Tràm Chim Ramsar


Ramsar là gì?            Công ước Ramsar là một công ước liên chính phủ được ký vào ngày 2-2-1971 ở thành phố Ramsar (Iran) và có hiệu lực từ năm 1975 với mục đích khuyến khích bảo tồn và sử dụng khôn khéo hay bền vững các khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế.
            Hiện nay Ramsar có gần 160 quốc gia thành viên, trong đó Việt Nam là thành viên thứ 50 từ năm 1989. Trên thế giới hiện có 2000 khu Ramsar (Tràm Chim là khu Ramsar thứ 2000) với tổng diện tích khoảng 190 triệu héc-ta, lớn hơn tổng diện tích của Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Thụy Sĩ cộng lại.
            Ramsar có tất cả 9 tiêu chí để công nhận, được chia thành hai nhóm tiêu chí chính bao gồm (a) sự độc đáo và hiếm có của vùng đất ngập nước (b) tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học, nhấn mạnh đến cá và chim nước.
            Các cam kết chính của một quốc gia thành viên Ramsar là: quốc gia đó phải đưa ít nhất một khu đất ngập nước thành khu Ramsar khi gia nhập công ước; quy hoạch sử dụng đất của quốc gia phải có xem xét, cân nhắc về bảo tồn đất ngập nước và khuyến khích việc sử dụng khôn khéo đất ngập nước; thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, nằm trong hay ngoài danh sách Ramsar; hợp tác quốc tế liên quan đến việc thực hiện công ước, bảo tồn các vùng đất ngập nước, nguồn nước, các loài có phạm vi xuyên biên giới.
          Công ước Ramsar không phải là một ràng buộc pháp lý mà chủ yếu dựa vào sự kỳ vọng thực hiện các cam kết ấy. Một số quốc gia đã đưa những cam kết Ramsar vào hệ thống pháp luật của chính mình để tuân thủ tốt hơn.
===================================
Mời xem thêm trên TBKTSG Online:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/73122/


Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Em học được rất nhiều



Kỷ niệm STF (*) 10 tuổi, sáng ngày 17-2, Văn phòng đại diện nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn tại Cần Thơ tổ chức trao học bổng học nghề trị giá 65 triệu đồng, do Công ty TNHH Thông tin Lữ hành Mekong (Metinfo) tài trợ thông qua STF. Em Trần Bảo Ngọc, 21 tuổi, quê ở Cần Thơ nhận 40 triệu đồng và em Nguyễn Xuân Hoàng, 21 tuổi, quê Kiên Giang, nhận 25 triệu đồng. Từ năm 2006 đến nay, Công ty Metinfo đã đồng hành cùng STF cấp học bổng 6 lần tại Cần Thơ, Phú Quốc và Bến Tre, tổng trị giá 114 triệu đồng.  

Tối hôm đó, trường Đại học Cần Thơ cùng với STF tổ chức đêm giao lưu văn nghệ kết hợp cấp học bổng, với sự tham gia của hơn 1.500 sinh viên. Hội trường lớn hai tầng của Đại học Cần Thơ kín chỗ. Trong vòng 10 năm qua, có hơn 1.000 sinh viên đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) học tại đây đã nhận học bổng hoặc vay học phí không lãi suất từ STF.  







Mở đầu là lễ cấp “Học bổng dài hạn STF - KFC Việt Nam”. Ông Phạm Quang Nam – Phó Tổng giám đốc Công ty Liên doanh TNHH KFC Việt Nam, trao biểu trưng gói học bổng 140 triệu đồng cho PGS.TS Hà Thanh Toàn, tân Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ và cho biết, KFC có mặt tại Việt Nam từ năm 1997, đã có hơn 100 cửa hàng gà rán và đây là lần đầu KFC đồng hành với STF. Trong năm học 2011-2012, KFC tặng hơn 2 tỉ đồng học bổng cho sinh viên ở miền Bắc, miền Trung, TPHCM và ĐBSCL, mỗi suất 7 triệu đồng. Đại diện 20 sinh viên Đại học Cần Thơ nhận học bổng, bạn Hồ Thị Kim Ngân, quê ở Bạc Liêu, mong KFC tiếp tục chương trình này trong những năm tới để giúp thêm được nhiều bạn khó khăn hơn mình. Trả lời TBKTSG, Kim Ngân cho biết mẹ ở nhà một mình bán bánh tét, mỗi tháng gởi cho em được một triệu đồng để em xoay xở với học phí, tiền trọ, tiền chợ… tại Cần Thơ. “Món học bổng này giúp em được nhiều trong năm nay”, Kim Ngân nói.


Tiếp đó, thầy Hà Thanh Toàn nhận từ ông Võ Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng - biểu trưng món vay 655.200.000 đồng của Dự án Mekong thuộc Chương trình “Cho vay tiền học không tính lãi” của STF dành cho 312 sinh viên vay năm nay. Chương trình này ra đời vào tháng 9-2009, cho sinh viên quê ở ĐBSCL mượn tiền đóng học phí không lãi suất với nguồn quỹ ban đầu bốn tỉ đồng do Công ty Vạn Phát Hưng tài trợ. Từ đó đến nay, đã có 961 sinh viên thuộc các trường đại học Cần Thơ, Cửu Long, An Giang và trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau mượn hơn 3,4 tỉ đồng.  








Giao lưu với sinh viên, ông Võ Anh Tuấn nói rằng, đồng hành cùng với STF làm chương trình này, ông chỉ mong hỗ trợ cho nhiều sinh viên quê ở ĐBSCL thành công trong việc học và có việc làm ổn định để góp phần xây dựng quê hương ĐBSCL. PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ kiêm Chủ tịch Hội đồng Bảo trợ Dự án Mekong, tin là chương trình này sẽ được mở rộng hơn vì nó đã và đang giúp cho hằng trăm sinh viên ĐBSCL có tiền để đóng học phí học tới ngày tốt nghiệp.  

Không về dự đêm giao lưu được, một số cựu sinh viên đã và đang trả lại món vay này cho lớp sau vay tiếp, đã gởi e-mail cho STF. Như bạn Sơn Quốc Cầu, học cơ khí giao thông khóa 33, tốt nghiệp hồi tháng 4-2011, đang làm việc cho Nhà máy Xi măng Hòn Chông ở Kiên Giang, viết: “Tôi cảm thấy rất vui và hạnh phúc. Xin cảm ơn nhà tài trợ vì những lợi ích và ý nghĩa mà chương trình này đã mang lại. Tôi hy vọng chương trình này được duy trì và mở rộng để giúp đỡ cho nhiều bạn hơn”. Bạn Mai Đức Anh kể: “Hiện nay tôi đang là giáo viên trường THPT Thoại Ngọc Hầu tại An Giang, công việc rất ổn định. Dự án Mekong rất thiết thực với sinh viên khó khăn vì các bạn sẽ không còn lo lắng nhiều về khoản tiền học phí của mình nữa”. Cũng từ An Giang, bạn Đinh Đào Thắng viết: “Hiện  nay tôi đã xin được việc làm tại một công ty kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Tôi đã có hành trang và năng lực để bước đi trên đường đời và xin hoàn trả lại khoản tiền đã vay nhưng những ân tình đã được nhận qua chương trình, tôi sẽ mãi không quên. Qua đây tôi cũng xin gửi tới những bạn sinh viên đã hoặc chưa tham gia chương trình, hãy cố gắng học tập, dù có khó khăn cũng đừng nản lòng vì các bạn không bao giờ đơn độc”.





Những câu chuyện đồng lòng vượt khó để lập thân như vậy càng được “nung nấu” hơn trong suốt hai tiếng đồng hồ còn lại của chương trình giao lưu văn nghệ với nhóm Doanh nhân hát TPHCM. Họ đến từ TTT Corporation, Tập đoàn Dầu khí SOCO Việt Nam, Công ty Cổ phần Dược Minh Phúc, V-Home Group, trường Âm nhạc MPU, Công ty Quảng cáo Quang Minh… Kết hợp ca hát và thuyết trình về kỹ năng sống, anh Lê Bá Thông - Tổng Giám đốc TTT Corporation - nhóm trưởng, vừa là diễn giả “chia lửa” lập thân với sinh viên vừa cùng cả nhóm trình bày những ca khúc trữ tình đầy khát vọng tuổi trẻ. 



















Giữa tiếng treo hò vang dậy hội trường, một nữ sinh viên trẻ trung bước nhanh lên sân khấu xin hát liên khúc “Yêu đời” và “Khúc yêu thương” để “tặng mọi người”. Bạn ấy tên là Phạm Thị Tú Uyên, sinh viên năm 2 ngoại thương K36. Bạn nhận xét về đêm giao lưu này: “Thật là ấn tượng nhưng không kiểu cách. Giản dị và đam mê. Tối nay em học được rất nhiều kinh nghiệm để chuẩn bị cho việc làm của mình sau này”   █








▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
(*) Ngày 22-2-2012, Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation – STF) tròn 10 tuổi. STF là một tổ chức xã hội phi lợi nhuận, được ban lãnh đạo nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn và các doanh nhân thân hữu thành lập. Hoạt động của STF nhằm hỗ trợ công tác giáo dục và đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.



Mời đọc thêm tại Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/71560/Song-voi-cong-dong.html
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/doisong/71513/Trao-hoc-bong-STF-Metinfo-tai-Can-Tho.html



Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

20 năm tạo giống lúa thơm ST


(TBKTSG) - Trước thềm Festival Lúa gạo Việt Nam lần 2 diễn ra giữa tháng 11-2011, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” cho dòng sản phẩm 20 giống lúa thơm ST. Người xây đắp cho thương hiệu gạo thơm này là kỹ sư Hồ Quang Cua, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, quê ở xã Hòa Đông, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.




Bảy bước tới thành công



Tốt nghiệp ngành trồng trọt trường Đại học Cần Thơ năm 1978, kỹ sư Hồ Quang Cua về làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên. Từ năm 1991 đến nay, anh cùng nhóm cộng sự đã trải qua chặng đường dài trong việc xây dựng thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”, mà theo khái quát của anh, gồm có bảy bước: chọn tạo giống, chọn tên thương hiệu, thiết lập chương trình xây dựng thương hiệu, tổ chức sản xuất giống và hỗ trợ sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu cho doanh nghiệp, hài hòa lợi ích, và sau cùng là hợp tác “bốn nhà”.

Anh kể: năm 1991, anh được tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và Đại học Cần Thơ, lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS. Võ Tòng Xuân, GS. Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm thương hiệu lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng. Anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn lai tạo. Nhờ đó, những năm 1992-1997, mỗi năm Thái Lan xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo thơm, thu về gần 1 tỉ đô la Mỹ/năm. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỉ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?”, anh tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện ngày đêm lao vào việc lai tạo giống. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã có ba “quyết định” hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1) quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2) Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3) phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, không nhiều người tán thành những nhận định mới ấy nên thiếu việc đầu tư của ngành. Điều này đã làm nhiều chuyên viên kỹ thuật phân vân. Nhưng rồi công việc đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo (trong đó có giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía Bắc, giống Tào Hương của Sóc Trăng), làm nên bộ giống ST, từ ST 1 đến ST 20 ngày nay. Có giống rồi, nhóm nghiên cứu phải lo chuyện quảng bá, tiếp thị, tỷ như tổ chức những cuộc thi như “Cơm nào ngon hơn”, “Gạo ngon thương hiệu Việt Nam”... hoặc tham gia các cuộc triển lãm, hội chợ.

Năm 2009, đã có gần 25.000 héc ta lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta được trồng tại các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình lúa-hành tím và lúa-tôm.

Mới đây, chúng tôi đã tìm đến xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi có cánh đồng 2.500 héc ta lúa ST 5 vụ đông xuân 2011-2012 mới gieo sạ non nửa tháng. Ông Trà Diên, ở ấp Trà Ông, cho biết: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST 5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Sư Đỗ Dành, trụ trì chùa Lao Vên, nói: “Thầy Cua đem giống lúa này tới cho bà con Khmer từ sáu năm nay. Từ khi làm ST 5, bà con ở đây thoát nghèo, nhiều nhà mua được máy cày, có nhà mua máy gặt đập liên hợp; bà con cũng góp tiền xây lại ngôi chánh điện của chùa”.

“Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”, anh Cua nói. Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ luận án tiến sĩ hồi tháng 10-2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.



Bước tiếp

Hiện nay có năm đơn vị được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty cổ phần Gentraco (Cần Thơ), Công ty Lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty Chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2011, Việt Nam xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo, thu về hơn 3 tỉ đô la Mỹ, trong đó có hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine; năm 2012, VFA dự kiến sẽ xuất khẩu trên 500.000 tấn gạo thơm.

Bàn về những thông tin này, kỹ sư Hồ Quang Cua nói: “Muốn giữ được chất lượng gạo thơm đặc sản thì nông dân phải trồng giống đúng phẩm cấp. Việc hình thành vùng nguyên liệu càng lớn thì càng ổn định cho sản xuất. Nhà nước và nhà khoa học phải giúp nông dân lo chuyện này; còn doanh nghiệp phải hợp đồng bao tiêu lúa thơm cho nông dân”. Với giống ST 20 (giá bán trong siêu thị hiện nay là 24.000 đồng/ki lô gam), hạt thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm, anh Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được đôi ba trăm ngàn héc ta”. Riêng Sóc Trăng, anh cho biết tỉnh đã xây dựng đề án phát triển lúa thơm đến năm 2015.

Sau Festival Lúa gạo một tuần, về lại Sóc Trăng, tôi gặp anh Cua vừa đi thăm đồng về tới nhà lúc gần 5 giờ chiều, nhưng anh chỉ tạt qua, giành thằng cháu nội trong tay vợ để ôm một lát rồi lại chạy về cơ quan để chuẩn bị ngày mai đưa ông Toàn quyền Canada đi Mỹ Xuyên kiểm tra kết quả một dự án do Canada tài trợ giúp nông dân cải thiện đời sống từ lúa thơm. Anh chùng giọng: “Thời gian mình dành cho gia đình ít quá!”.




Bài đã đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/congnghe/giaiphap/68819/

Ngày xuân



Đêm giao thừa thức cùng trời đất
Sáng đầu năm ngủ với chiêm bao
Tối mùng Một làm mưa bay lất phất
Về quê em ta lặng lẽ ngọt ngào

Em tươi thắm quần hồng áo đỏ
Với môi buồn mắt biếc nụ tầm xuân
Ta muốn hỏi một lời nho nhỏ
Ai tình nhân và ai tình quân

Ta muốn làm cơn mưa đêm xuân
Rơi khao khát ngàn hoa rớt hột
Trọn mùng Ba mùng Hai mùng Một
Cho em ngọt ngào tình quân