Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Lời tri ân với Trà Vinh





Sóng bủa Cồn Ngao” (NXB Hội Nhà văn, tháng 9.2012) là tập truyện ký thứ 3 trong số hơn 30 tác phẩm in riêng gồm thơ, văn và sách nghiên cứu văn hóa lịch sử địa phương của tác giả Trần Dũng (hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Hội Di sản văn hóa Việt Nam, Hội Nhà báo Việt Nam và Hội Văn học nghệ thuật Trà Vinh). 

9 trong số 10 bút ký trong tập sách này là những câu chuyện có thật về đất và người Trà Vinh. Phần nhiều là chuyện về những nhân vật, sự kiện của ngày hôm nay gắn với bao số phận, sự kiện (đôi khi đã thành giai thoại) của mảnh đất quê nhà đã trải bao thăng trầm từ thuở cha ông khai phá cho tới thời chiến tranh rồi thời hòa bình. Và cũng giống như những người dân gắn bó máu thịt với quê hương mình, tác giả luôn cảm thấy mình như là người trong cuộc.

Để rồi, sau mỗi câu chuyện, tác giả thường giữ lại cái tình đất, tình người ấy bằng những ý riêng như muốn là một “bài học cuộc đời” gởi tới người đọc. Thí dụ như trong “Đêm hội bông lau” kể chuyện săn cá bông lau ở cù lao Tân Qui, lúc đầu tác giả kể: “Ngồi trên ghe trôi lững lờ, tôi dõi tầm mắt ra tư bề chung quanh và bất ngờ nhận ra mình đang lạc vào đêm hội hoa đăng trên dòng sông Sau. Đêm càng sâu, dưới làn sương mỏng và ngọn bấc se lạnh, những chiếc đèn bình trên hàng chục chiếc ghe tỏa ánh sáng màu trong xanh cùng hàng trăm ánh đèn lồng mỏng manh, yếu ớt trước gió cứ thấp thoáng khi ẩn khi hiện, khi tỏ khi mờ, như thực như hư… Tôi được một đêm bảng lảng thức mây khói sóng cùng hơn trăm con người xóm hạ bạc Khém Lớn”. Tới chừng nghe chính người Tân Qui kể lại chuyện săn cá bông lau trong thời chiến, tác giả kết: “Bềnh bồng sóng nước đêm hoa đăng trên sông Sau, tôi nhận ra một điều không mới nhưng vô cùng cần thiết trong cuộc sống: lẽ công bằng. Từ những hay dở, những thành bại trong thực tế công việc hàng ngày, người dân xóm hạ bạc Khém Lớn Tân Qui luôn hướng tới để giữ lấy sự cân bằng giữa đúng và sai, giữa cho và nhận, vừa mình vừa người, thậm chí chắc người mà lép mình một chút cũng không sao. Công bằng với bà con lối xóm, công bằng với người khuất mày khuất mặt, công bằng với môi trường thiên nhiên hào phóng mà cay nghiệt”. 

Nhân chuyện Trà Vinh từ thị xã “lên” thành phố, Trần Dũng viết: “Tôi đã đọc ở đâu đó, những lưu dân người Việt đầu tiên trôi giạt đến đất phương Nam là những người tứ cố vô thân… Chắc thế hệ những người khai phá vùng hiểm địa bên Vàm Trà Vinh cũng nằm trong số đó. Nhưng vàm sông sóng dữ đâu là nơi dành cho người yếu bóng vía hay những phường giá áo túi cơm. Dòng sông cất tiếng sóng, kể tôi nghe những người con bình dị thân yêu và nghĩa khí oai hùng của mình…”. Để rồi dẫn tới một đoạn kết như vầy: “Vẫn biết tử sinh, vong tồn là quy luật của muôn con người, của thiên nhiên, của trời đất. Ngay trên mặt sông Long Bình trước mắt, sóng sau đè sóng trước, dòng nước xuôi chảy hôm nay đâu phải là dòng nước của ngày hôm qua. Ngay trên tán lá của ngàn cây cổ thụ trụ vững như cột thép giữa nội ô thành phố, lớp lớp chồi non vẫn ngày đêm thay thế bao cội già nhánh cỗi”. 

Chuyện về cồn Ngao, cái cồn mặt ngó ra biển, hai bên và sau lưng là sông, khu căn cứ địa hồi đánh Mỹ đuổi Tây của Trà Vinh - là điển hình của dòng bút ký này. Tác giả đi theo ông Bảy Neo, người xã đội trưởng thời chống Mỹ, thăm cồn Ngao. Thế rồi cồn Ngao hiện ra mồn một, từ “mối lương duyên ban đầu giữa cánh lưu dân với vùng lạc địa”, tới lúc cồn “đủ sức nuôi chứa chúa tôi Nguyễn Ánh trên đường bôn tẩu”… dài cho tới thời buổi hôm nay. Và tác giả chọn hình ảnh này để dừng lại câu chuyện: “Giữa cơn sóng bủa, người đàn ông mà máu mình và đất cồn Ngao đã trộn lẫn vào nhau ấy dõi cặp mắt hướng về trường trung học cơ sở Hiệp Thạnh. Ngôi trường miền biển trông khá khang trang, nằm đúng vị trí ranh giới ba ấp Chợ, Bàu và Cây Da giờ ra chơi trắng một màu áo hồn nhiên, sôi nổi”. (Sóng bủa Cồn Ngao).

* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 25-12-2012.

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2012

Thơ của một người lính trở về



Phan Bá Linh là một người lính trở về trong đoàn Quân Tình nguyện Việt Nam giúp bạn Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pôn-pốt (1979-1989). Hồi đó, thơ của anh đã đăng lai rai trên tạp chí Văn nghệ Quân đội và một số tờ báo. Bẵng đi mấy mươi năm, cứ ngỡ anh đã gác bút về Cần Thơ “làm vườn” như bao đồng đội khác. Hổng dè anh vẫn lặng lẽ sáng tác; và đã cho ra mắt hai tập thơ “Tay cầm tháng giêng” (NXB Quân đội nhân dân 12-2011) và “Bình minh giữa nắng chiều” (NXB Hội Nhà văn, 3-2012). 




Tay cầm tháng giêng” gồm 47 bài thơ kể chuyện cuộc sống, quê nhà, tình yêu, kỷ niệm… với những nỗi niềm riêng của một người trong cuộc. Đôi khi là bộc bạch thẳng thừng: Thơ không thể nuôi ta sống / Ta phải lo kiếm sống để nuôi thơ / Mười ngón tay chai bươn chải giữa giang hồ / Chén cơm đổi bằng mồ hôi nước mắt / Ta là kẻ đầu trần chân đất / Bạn rất nhiều nhưng rất cô đơn (Thơ và tôi). Có khi mộc mạc: Tôi về nơi tôi được sinh ra / Để quỳ xuống lạy những người đã khuất / Mẹ yên ngủ giấc dài trong đất / Có nghe chăng tiếng bước con về (Quê nhà đẹp nhất). Đôi khi nghe thật chông chênh: Từ lâu em ơi ta đã là xa lạ / Từ lâu ta không còn của nhau / Mưa nơi anh không làm em lạnh (Chông chênh). Có lần qua sông Hậu, anh nhớ: Tôi nhớ năm tôi vào bộ đội / Tuổi còn trẻ quá để yêu đương / Biên giới Tây Nam mùa nước nổi / Đầu nguồn sông Hậu đẫm tang thương /…Tôi soi bóng xuống dòng sông mật / Để nhắc mình sống thật Người hơn / Dòng sông thấm máu người đã khuất / Nên vườn thơm, ruộng lúa xanh rờn (Sông mật).  

Năm 2010, thăm Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn về, anh viết: Có một thời ta sống thật là ta / Đêm cõng bạn băng rừng tìm đơn vị / Quãng đời ấy sao mà thương mà quý / Đất nước đang chiến tranh (Mặc tưởng). Liền đó, anh ngậm ngùi viết bài “Dấu lặng”: Có người lính trở về nhặt lại những ước mơ / Thời gian thổi tuột tầm tay với / Chỉ còn mẹ già ngồi đợi / Chỉ còn vợ con ngồi đợi / Lúc sang trang là đối diện với cơ hàn. Để rồi tới giữa năm 2011, anh lạnh lùng độc thoại: Có lúc chúng ta buộc phải làm kịch sĩ / Mới mong tồn tại ở đời / Đấy là sự lựa chọn bất đắc dĩ / Là nỗi đau, nỗi nhục làm người /…Không ai mang theo quyền lực xuống mồ / Nhưng sẽ mang tình yêu vào giấc ngủ /…Những tính toán tầm thường sẽ bị bỏ rơi / Những chiếc mặt nạ sẽ bị bỏ rơi (Mặt nạ).   

Còn trong tập “Bình minh giữa nắng chiều”, Phan Bá Linh chọn ra 65 bài thơ viết trong hai năm nay; vẫn đong đưa những nỗi niềm của một người lính xuất ngũ nhưng dường như đã nghe vọng về hai tiếng “bình an”. Dù sao, người cựu chiến binh ấy đã qua cái tuổi trung niên và đang chiêm nghiệm ý nghĩa tồn tại của chính mình. Trong bài “Tự tại”, anh viết: Để được chính mình là điều không dễ / Tôi đã đi qua vô số sai lầm /…Trên những con đường đi qua / Tôi nâng niu những trải nghiệm / và quẳng hết những kinh nghiệm / Để mỗi bước đi luôn tươi mới tương lai / Quá khứ là đôi giày đã rách không dùng lại / Tôi nỗ lực hết mình cho hiện tại / nhưng luôn trong tư thế chia tay / Hãy nghĩ đến ngày mai / Ngày mai / Tôi vẫn tuyệt đối cô đơn như mãnh thú / Tự tại trên đôi chân của mình / Phía  trước là bình minh.  

Rồi người lính trở về ấy, như muốn chia sẻ với mọi người một trải nghiệm bình an nho nhỏ, qua bài thơ này: Đồng tiền như cá giữa sông / Muốn bắt được phải có kỹ năng / Hãy bơi ra và gom lại / Đấy là cuộc vật lộn cam go / Nếu thu được một lượng vừa phải / Bạn còn khả năng để quay lại bờ / Quá mải mê / Bạn sẽ quên mình đang ở giữa dòng sâu / Sóng / Gió / Dòng chảy vây quanh / Không biết dừng / Sức bạn cạn dần / Cơ hội quay lại mong manh / Nơi đón bạn về sẽ là đáy dòng sông. (Kiếm tiền).   
         


* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên ra ngày 18-12-2012

Thứ Ba, 11 tháng 12, 2012

Một cái nhìn văn chương Nam bộ



 “Đồng bằng Nam bộ không chỉ có lúa gạo, cây trái, cá, tôm mà còn có cả thơ văn, đạo nghĩa…”. Tiến sĩ Huỳnh Công Tín (Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn TP.HCM) đã chọn lời đề từ như vậy cho tập “Văn chương miền sông nước Nam bộ” do NXB Chính trị quốc gia ấn hành vào tháng 11.2012.



Sách gồm 14 chuyên luận tác giả viết trong những năm gần đây, khi còn giảng dạy tại Trường ĐH Cần Thơ và khu trú trong cái nhìn “thơ văn gắn với đạo nghĩa” của một nhà giáo mê văn hóa vùng châu thổ Cửu Long. Đó là dòng văn chương yêu nước thời kháng Pháp của những “người xưa” như Võ Trường Toản, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị; là dòng văn chương phong hóa - tâm lý xã hội - lịch sử Nam bộ của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Đông Hồ, Mộng Tuyết, Phi Vân, Sơn Nam, Nguyên Hùng. Có một chương dành riêng khảo sát về ca từ những bài vọng cổ của nghệ sĩ Viễn Châu. Với văn chương Nam bộ thời hiện đại, tác giả chọn hai nhà văn nữ là Dạ Ngân và Nguyễn Ngọc Tư để viết hai chương“Hồn quê Nam bộ qua tản văn Dạ Ngân” và “Nguyễn Ngọc Tư – hiện tượng văn chương đất Mũi”. Chương cuối, “Dấu ấn đồng bằng sông nước trong thơ”, tác giả “lướt qua” một số bài thơ của Trịnh Bửu Hoài, Lê Tân, Kim Ba, Hồ Thanh Điền, Phù Sa Lộc, La Quốc Tiến, Thanh Giang, Nguyễn Hoàng Triều… từng đăng trên tạp chí văn nghệ Bông Sen.

Tiến sĩ Huỳnh Công Tín thường tiếp cận tác giả bằng cách đọc hầu hết tác phẩm của họ và nhiều tài liệu tham khảo để khái quát thành chủ đề riêng cho từng chuyên luận. Thí dụ: “Nam bộ nửa đầu thế kỷ XX qua cái nhìn Hồ Biểu Chánh”, “Nam bộ xưa qua cách viết Bình Nguyên Lộc”, “Sơn Nam – nhà Nam bộ học”, “Nguyễn Hùng – cây viết Nam bộ thời chống Pháp”. Ông cũng tìm kiếm hồn cốt văn chương Nam bộ của các tác giả qua sự nghiền ngẫm tác phẩm / sự kiện nổi tiếng của họ. Thí dụ với bài phú “Hoài cổ” của nhà thơ Võ Trường Toản ở đất Gia Định thời Nguyễn Ánh, Huỳnh Công Tín viết: “Ở đây, nhà thơ muốn “ôn chuyện cũ” để giáo huấn người đời “lòng nhân nghĩa”. Trong sự thăng trầm, biến đổi của xã hội, chỉ có lòng nhân nghĩa mới là cái trường tồn đích thực”. Hoặc viết về cuộc bút chiến bằng những bài “họa thơ” của Phan Văn Trị với Tôn Thọ Tường, tác giả kết: “Tuy không  trực tiếp đánh giặc, nhưng với những sáng tác yêu nước và đặc biệt là với vai chính trong cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị xứng đáng được liệt vào hàng ngũ các thủ lĩnh nổi tiếng của phong trào Nghĩa binh Nam bộ kháng Pháp thời bấy giờ”. Hay như với Phi  Vân, chọn tên ba tác phẩm nổi tiếng của nhà văn này để đặt tên cho chương 5 là “Đồng quê – dân quê – tình quê”, bạn đọc hiểu ý ông muốn nhấn mạnh như lâu nay trong văn giới thường đề cao, Phi Vân là “nhà văn đồng quê” chính hiệu của Nam bộ.

Tới thời nay, viết về nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư, Tiến sĩ Huỳnh Công Tín càng tỏ ra “mê Nam bộ” hơn khi nhận xét như vầy: “Ở góc nhìn một người Nam bộ, vốn quan tâm tới lĩnh vực từ ngữ Nam bộ trong sáng tác văn chương, tôi vẫn nghĩ chị là nhà văn hiếm, vì còn giữ được cái cốt cách diễn đạt của người Nam bộ trong sáng tác”.


♥ Mời đọc thêm trên báo Thanh Niên:    
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121211/mot-cai-nhin-van-chuong-nam-bo.aspx

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

Truyện tranh Công tử Bạc Liêu





Đây là cuốn truyện tranh đầu tiên về công tử Bạc Liêu, do NXB Trẻ phối hợp với Công ty Thông tin Lữ hành Mekong (Metinfo) ở Cần Thơ, ấn hành vào đầu tháng 12-2012. Với sự biên tập kỹ càng của nhà thơ Phạm Sĩ Sáu ở NXB Trẻ, câu chuyện được kể lại khá hấp dẫn bằng 93 tranh vẽ của họa sĩ Hữu Tâm trên nền tư liệu của nhiều sách báo cổ kim về một nhân vật lịch sử độc đáo của xứ Nam kỳ lục tỉnh.

Thí dụ ở trang 12 có ba bức tranh kể chuyện công tử Bạc Liêu là người Việt Nam đầu tiên sắm máy bay riêng. Họa sĩ Hữu Tâm vẽ công tử Trần Trinh Huy đứng tựa vào cánh máy bay, chân dẫm lên bản scan tờ báo Le Courrier Saigonnais xuất bản năm 1932 đưa tin: “Công tử Bạc Liêu mua máy bay và làm sân đáp trong sở điền của ông tại miệt Cà Mau”. Kèm đó là lời kể: “Trước đệ nhị thế chiến (1939-1945) vài năm, việc Ba Huy mua máy bay để di chuyển và thăm ruộng là sự kiện chấn động dư luận thời ấy. Hóa đơn ghi rõ: “Đây là chiếc máy bay đầu tiên thuộc chủ quyền tư nhân của xứ Nam kỳ”.



Truyện tranh mở đầu với cảnh nông dân đang khai hoang: “Đến cuối thế kỷ XVIII, Bạc Liêu cũng như khắp vùng Nam bộ vẫn còn hoang vu, cư dân thưa thớt. Về sau, nhờ chính sách khẩn hoang của triều đình nhà Nguyễn mà lưu dân di cư đến sinh sống ở vùng đất mới Bạc Liêu ngày càng đông”. 

Sách khép lại với tranh chân dung công tử Bạc Liêu bên khu nhà lưu niệm cùng hai bản đồ chi tiết chỉ đường đến nhà công tử và nội ô thành phố Bạc Liêu với lời thuyết minh: “Cuộc đời dâu bể, gia tộc Trần Trinh được nhắc tới bằng những giai thoại nổi tiếng với danh xưng công tử Bạc Liêu, có nhiều chuyện thật – giả lẫn lộn; nhiều sự thật bị lãng quên. Một thời gian, ngôi nhà như một chứng nhân im lìm, trầm mặc bên dòng sông nước lớn, nước ròng thắm phù sa. Hiện nay, khu nhà được đưa vào khai thác du lịch với mong muốn làm sống lại những nét vàng son của công tử Bạc Liêu một thời vang bóng”. 

Về việc làm cuốn truyện tranh này, ông Trần Kim Đính, giám đốc Công ty Metinfo, nói: “Trong những chuyến khảo sát, chuẩn bị cho việc quảng bá tiềm năng và sản phẩm du lịch ở Bạc Liêu do sở văn hóa - thể thao - du lịch tỉnh này tổ chức, chúng tôi thu thập được nhiều tài liệu, chuyện kể từ nhân chứng sống liên quan đến những giai thoại độc đáo về Hắc công tử Trần Trinh Huy. Điều may mắn khi thực hiện ấn phẩm này là bên cạnh nguồn tài liệu phong phú, chúng tôi còn được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa ở Bạc Liêu, Cần Thơ và TP.HCM giúp đỡ”. Ông Đính cũng cho biết, Metinfo chọn loại hình truyện tranh nhằm phục vụ cho du khách và người đọc thời nay vốn ưa thích sự thuận tiện và đây là một sản phẩm trong bộ truyện “tham quan ĐBSCL qua tranh” của công ty Metinfo.

Phần mình, chúng tôi chỉ mong sản phẩm mới lạ này như một món quà lưu niệm cho du khách gần xa đến với Bạc Liêu và cả vùng ĐBSCL thân thiện.  


♥ Mời xem thêm trên báo Thanh Niên Online:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121204/truyen-tranh-cong-tu-bac-lieu.aspx

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Đi chợ



Đi chợ như kiểu của hai vợ chồng nhà báo Lương Minh – Các Ngọc, thiệt là công phu; bởi không chỉ đi mua sắm, thăm thú chợ búa mà còn để viết báo, viết sách. Sau cuốn “Đời chợ” in năm 2000, tháng 10-2012, anh chị cho ra mắt tiếp cuốn “Chợ tỉnh - chợ quê”, do NXB Hội Nhà văn ấn hành.




Lần này anh chị kể chuyện về 116 cái chợ ở khắp ba miền đất nước; chuyện nào cũng có hình ảnh minh họa và vài phác thảo thú vị về nét văn hóa xã hội của địa phương liên quan tới chợ. Thí dụ như ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có hai cái “chợ lạ”, đó là chợ hột Cái Mơn ở Chợ Lách (Bến Tre) và chợ rơm Tân Hòa ở Lai Vung (Đồng Tháp). Dù chợ hột chỉ hoạt động từ sau Tết nguyên đán đến tháng 4 âm lịch nhưng bán đủ loại hột như hột xoài, hột sầu riêng, hột chôm chôm, hột cam, hột quýt… Và theo như tác giả, thì: “Phát sinh chợ hột từ khi nhu cầu trồng cây ăn trái các tỉnh miền Đông Nam bộ tăng vọt, tại Cái Mơn có một vài hộ thu mua các loại hột về bán cho các nhà vườn ươm cây. Những trái xoài, sầu riêng, chôm chôm được người tiêu dùng ăn xong bỏ hột, dân quét rác ở các chợ trên TP. HCM gom lại bán cho vựa hột ở chợ Hòa Bình và từ đây lại chuyển về cho các vựa ở chợ hột Cái Mơn. Hột xoài thì bán tính thiên, hột sầu riêng tính ký, hột cam, hột quýt thì bán đong từng lít”. (Chợ lạ ở ĐBSCL).

Đi chợ Dương Đông ở Phú Quốc hồi tháng 1-2005, tác giả kể: “Đặc biệt, khách du lịch nước ngoài đến chợ Dương Đông, họ không mua đồ khô mà mua thực phẩm tươi sống như thịt heo, rau quả, hải sản cùng với soong nồi để nấu ăn trong ngày. Một chị bán cá nói rằng khách nước ngoài đến Phú Quốc đều muốn tự khám phá nét độc đáo của hòn đảo này, thế nên 90% khách tự tổ chức lấy bữa ăn, thông thường họ chỉ ăn sáng ở khách sạn theo tiêu chuẩn, còn trưa chiều thì đi chơi đến đâu nấu ăn ở đó”.

Đi chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) vào một ngày giữa tháng 5-2011, tác giả nhìn thấy sức sống lan tỏa từ nơi này: “Hiện nay, dọc hai bên bờ sông cặp chợ nổi Cái Răng hình thành nhiều vựa trái cây, chuyên đóng hàng đi các tỉnh miền Đông Nam bộ, lên Đà Lạt, Tây Nguyên bằng xe tải. Mỗi ngày, thương lái chở trái cây từ các nơi tập trung về chợ nổi, đổ hàng lên bờ cho các vựa”.

Kể câu chuyện “Chợ Sài Gòn: giữ thêm đẹp đất, đẹp người”, tác giả viết: “Sài Gòn khi mới ra đời đã được định hình là chợ, là đầu mối giao thương phía Nam Việt Nam và với vài nước miền Nam châu Á. Với tiểu thương, chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là nơi giữ gìn những nét văn hóa đặc trưng của đất và người Sài Gòn”.

Cùng là nhà báo (Lương Minh làm ở Thời báo Tài chính Việt Nam, Các Ngọc làm ở báo Sài Gòn Tiếp thị), nên hai tác giả, trong “Lời nói đầu” cuốn sách của mình, đã đồng lòng gởi nhận xét này tới bạn đọc: “Theo cái nhìn của nhiều người đi chợ, thích tìm hiểu văn hóa chợ, chúng tôi nhận thấy chợ truyền thống rất phù hợp với người Việt Nam, nên dù có nhiều siêu thị, trung tâm thương mại thì chợ vẫn tồn tại trong cuộc sống của người Việt Nam”.

♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121127/di-cho.aspx

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Bồng bênh mở đất



Nghỉ hưu, nhà thơ Hồ Thanh Điền (quê An Phú, An Giang - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), tuyển 60 bài thơ làm thành tập Bồng bênh tím (NXB Hội Nhà văn và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật An Giang ấn hành, tháng 6.2012). Anh níu cái tên dân gian bồng bênh tím của loài lục bình để viết bài thơ chọn làm tên tập thơ - như muốn tìm lại dấu vết tiền nhân đi mở đất: Sông chảy / lục bình trôi / ngàn đời châu thổ /…bầu trời trong / đáy sông trong.




Hai mươi năm trước, nhà thơ Đynh Trầm Ca (quê miền Trung) từng sống ở An Giang và viết một câu thơ hay: Lục bình vừa trôi vừa trổ bông. Nay nhà thơ Hồ Thanh Điền nhìn  dòng trôi ấy qua nhiều sắc màu của trời đất phương Nam: Lục bình ngược xuôi / sông trôi bao thuở / chở mặt trời sớm / đỏ lòm màu nắng / chở vầng trăng chiều / chưa kịp sáng / chở cơm mưa đêm / còn thấm lạnh / chở yêu thương / đứt đoạn hững hờ /…Đây bãi chờ / đây bến đợi / thương hồ dừng lại / trổ bông công phượng / lục bình ơi! (Bồng bênh tím).

Tác giả kể tiếp câu chuyện dài mở đất với những câu thơ bình dị mà nặng lòng: Ba trăm năm trước / từng tốp người đi / những đợt sóng ngầm / phương Nam, phương Nam… / ba trăm năm / mười thế hệ / chưa một người về quê /…Tôi thế hệ thứ mười / ba lần qua bắc miền Trung / qua Nghệ An, qua Quỳnh Lưu… / chợt nhận ra giọng nói mình đã khác (Những người lưu xứ).

Đến nay, đã là mấy lớp hậu sinh cắm sào giữ đất: Mùa mưa lênh láng nước dâng /…Cây lúa thần nông không mọc ở kinh Thần Nông được (Kinh Thần Nông); Đêm tôi nằm nghiêng đón gió / Hơi hớm đồng bằng chen vào hơi thở / Lơ mơ giấc ngủ tay cầm con cá con cua (Đồng Tứ giác); Tràm mấy úa / em mấy long đong / hình như lá / hình như nước / cuốn đời ta lận đận (Trà Sư mùa nước nổi). Đôi khi là một sản vật của vùng đất mới: Không mọc ngày nắng gắt / không mọc ngày mưa dầm /…Anh đến em sau vài cơn mưa nắng / đột nhiên như nấm mối mọc sau vườn (Nấm mối). Lúc leo lên đỉnh núi Cấm giữa đồng bằng, kẻ hậu sinh lại nhìn thấy… biển của thời Nam tiến: Điện Bồ Hong / Hình như gió biển / …Ai gõ be xuồng / Ta và đá lắt lư say (Đỉnh gió)

Và có những lần độc thoại: Ta vịn bóng đời đi suốt / Rơi hết tuổi thơ trên đường xa / Thời gian, thời gian sót nhánh tre già (Về quê); Bài thơ viết vội thay nhang / Kính người xương cốt trăm năm vơi đầy / Chắp hai tay mở hai tay / Giật mình ngỡ có khói bay gió lùa (Ngàn năm Mo So)

Để rồi từ phương Nam, những lúc đi ngược về phương Bắc, nhà thơ mang hồn cốt  lục bình trôi như nhớ cố hương: Ngàn xưa ai lạnh buốt ngàn sau / Bạch Đằng, Bạch Đằng, đời không bão (Qua Bạch Đằng giang); Hình như ta uống hết sông Gâm / Hình như em không là em nữa / Hình như đêm không còn thắp lửa / Để ta về thuở trước mấy ngàn năm (Thoáng chạm Nà Hang)


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121120/bong-benh-mo-dat.aspx