Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

Chuyện cũ miền Nam



Cuối năm 2012, NXB Trẻ ấn hành tập di cảo thứ tư của học giả Vương Hống Sển (1902-1996) mang tên “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang – Ba Thắc chứng tích, nhân vật, đất đai thủy thổ của miền Nam cũ”. Cuốn sách gồm 18 câu chuyện, đa phần được viết vào năm 1966, kể chuyện miền Nam hồi hai thập niên đầu thế kỷ thứ XX, thuở mà tác giả đã sống cả một thời tuổi trẻ. 




Sách giữ đúng văn phong truyền cảm và chánh tả rất riêng của cụ Vương thời đó; thí dụ cụ viết Sốc-Trăng chứ không viết Sóc Trăng hoặc Bãi-Xàu thay cho Bãi Xào, hay là Cơ-me thay vì Khmer như bây giờ. 

Thí dụ trong bài “Cánh đồng Cà-Mau, vựa cá mắm thiên nhiên của trời dành cho dân Việt”, cụ mở đầu bằng một đoạn ngắn mà có thể giúp ta hình dung ra được nguồn cội và thủy thổ cả một vùng đồng bằng sông Cửu Long: “Con sông lớn Mỹ-Công (Mékong) từ Tây-Tạng chạy suốt trên bốn ngàn cây số bề dài, như con rồng chín khúc (Cửu-Long-giang), xuyên qua Tây-Tạng, Trung-Hoa, Lào-quốc, Cam-bu-chia và Việt-Nam. Khi nhập vào đất Nam, nó chia làm hai nhánh con sông Tiền và con sông Hậu, và đèo thêm hai cái “túi thật lớn” chứa giữ nước dư ối là vùng Tháp-Mười về sông Tiền và vùng Cà-Mau về sông Hậu. Nhờ hai túi nầy đủ sức chứa nước thặng dư vào mùa nước đổ mà Miền Nam khỏi nạn lụt như Miền Bắc đã bị con sông Nhĩ-Hà làm khổ mỗi năm”. Đọc đoạn này ta có thể giựt mình, vì giờ đây “hai cái túi nước” đó, nay đã bị bao đê làm lúa vụ ba gây lụt lội tưng bừng như hồi năm 2011.  

Về địa danh Cà Mau, cụ Vương viết: “Từ Bạc-Liêu đi một đỗi gặp một cánh đồng thấp phì nhiêu vô cùng, nhưng đặc biệt là nước sông rạch đều một màu đen thâm gần như mực xạ. Tiếng Cao-Miên gọi “swrock tưc khmau”, dịch “sốc nước đen”. Ông bà chúng ta Việt-hóa thành Cà-Mau, chớ không phải “Cà-Mâu” như nhiều đồng bào thường viết”. Kết thúc câu chuyện này, cụ kể: “Cũng vùng Ca-Mau có giống tràm mục lưu-lai nhiều đời, lá rụng cây ngã giữ nước đọng lại rồi nát thành bùn, biến ra một chất “than đá non” “nê-thán” (tourbe), xắn vuông-vắn phơi cho khô, chụm rất tốt. Đó là một nguồn lợi rất lớn về tương lai mà nước ta chưa khái thác vậy”.

Trong bài “Ba-Thắc, Hậu-Giang, năm mươi năm về trước” viết vào tháng 7-1966, cụ Vương giải thích cái tên Ba Thắc và vùng Hậu Giang: “Miền Ba-Thắc, tức là Srock Bassac theo cách đọc của người Cơ-me, gồm các tỉnh trù phú miệt Hậu-Giang, kể từ Châu-Đốc (Thổ gọi Moat-chrut có nghĩa là “miệng heo”) xuống đến mũi Cà-Mau, mấy tỉnh nầy muốn giao thông với Sài-Gòn, thì có tàu sắt gọi xà-lúp (chaloupe) liên lạc chạy đều đều”. 

Ai muốn biết ruộng đất thời đó ở miền Tây Nam bộ giá trị ra sao, xin đọc thử đoạn này trong bài “Phương pháp làm giàu của vài ông chủ điền lớp trước”:“Thuở ấy, trước năm 1930, đồng Rạch-Giá và Cà-Mau đã có người đứng tên xin khẩn, hoặc choán chỗ và khai phá gần hết sạch. Cho nên mặc dù đất trũng có phèn mà các tay kinh doanh đến trễ cũng đổ xô và đua nhau xin khẩn, kẻ thì đất ở Đồng Tháp Mười, kẻ thì dọc hai bên bờ con kinh Phụng Hiệp nầy”. 

Gần đây báo chí có nhắc tới “thương cảng Bãi Xào” ngày xưa, nơi xuất khẩu gạo nổi tiếng của miền Tây, nằm ở Hậu Giang. Trong bài “Nói bắt quàng, lẩm cẩm” viết hồi cuối năm 1965, cụ Vương Hồng Sển - người “sanh trưởng miền quê đất Hậu Giang, chỉ biết nhớ tỉnh nhà Sốc-Trăng” - kể: “Bãi-Xàu ngày nay rất phồn thịnh vì đây là chợ lúa gạo trong xứ, chỗ dự trữ lúa đợi đủ số có ghe chài vận chuyển lên Chợ-Lớn xay ra gạo cho chúng ta ăn. Lúa miệt đồng Bưng-Xà-Mo, đồng Trà-Thê, đồng Mã-Tộc, Giồng Có, đều qui tụ về đây”, rồi giải thích thêm: “Bãi-Xàu có một tên khác rất nên thơ là làng Mỹ-Xuyên, lấy tên con sông chạy ngang đây nối liền rạch Ba-Xuyên (Sốc-Trăng) ra biển cả, nhưng Mỹ-Xuyên chỉ là danh-từ dùng trên mặt giấy tờ gởi lên quan, chớ dân bản xứ vẫn gọi Bãi-Xàu quen miệng”.

 Về ẩm thực quê nhà, cụ Vương miêu tả kĩ càng hơn. Thí dụ như trong bài “Nhớ cá cháy, thèo-lèo, mè-láo là nhớ Hậu-Giang và nhớ Sốc-Trăng”, cụ kể chuyện ăn trứng cá cháy như vầy: “Còn nói về trứng cá cháy, theo ý tôi, trứng cá muối đóng hộp, món ăn đặc biệt của người Nga, gọi caviar, tuy ngon và rất đắt tiền, nhưng không sánh bằng trứng cá cháy và không khoái khẩu dân Việt đâu. Một khứa cá cháy có trứng, kho một lửa, ăn và với bún, ớt xoài chua với một mớ giá đậu xanh lót dưới tô thì đối với hộp caviar tôi không đổi”. Ở cuối bài này, giọng văn của cụ thật là ngậm ngùi, phải chăng bởi thời thế lúc ấy (tháng 9-1966) xứ sở hãy còn chinh chiến: “Nghe đâu con cá cháy cũng ngộ. Còn chiến chinh mãi, cá cháy miệt Đại-Ngãi Trà-Ôn biến đâu mất. Những người ở đó nói với tôi lúc nầy không lưới được con nào. Nó chờ thái bình mới ra mặt. Tuy vậy tôi ráng sống, để chờ một ngày kia hòa bình trở lại, thanh niên ta bớt ham học làm thầy cử thầy kiện và sẽ học nghề nuôi cá cháy để hộp và vô hộp trứng cá cháy bán ra làm món quốc hồn”.                 



* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 19-3-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130319/chuyen-cu-mien-nam.aspx

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Cuốn sách quý về chủ quyền Việt Nam



Giáo sư Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Hà Nội - là nhà nghiên cứu địa lý lịch sử Việt Nam nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ. Ông từng học ở trường Bách nghệ Hà Nội (1939-1941) và Đại học Công giáo Paris (1951-1953). Tác phẩm chính của giáo sư đã được xuất bản là Bộ sách nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (1805-1836). Quí I-2013, NXB Trẻ vừa ấn hành tác phẩm Việt Nam quốc hiệu và cương vực – Trường Sa và Hoàng Sa của ông; sách dày 208 trang, in bìa cứng.





Phần 1 (Quốc hiệu và cương vực qua các thời đại) gồm bốn chương, ghi chép súc tích sử liệu kèm nhiều bản đồ qua bốn thời kỳ lịch sử đất nước: Thời kỳ dựng nước (Hùng Vương dựng nước Văn Lang; Thục Vương chiếm Văn Lang đổi tên nước là Âu Lạc); Thời kỳ đấu tranh giành độc lập (từ nước Nam Việt năm 207 trước Công nguyên đến thời Lý Bôn xưng Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân với cương vực và các cuộc tranh đấu dưới các đời vua nhà Tùy, nhà Đường năm 603-907); Thời kỳ độc lập tự chủ (từ khi họ Khúc dấy nghiệp và họ Ngô dựng nghiệp năm 907-959 đến cương vực Đại Việt thời Tây Sơn (1771-1802); sau cùng là Thời kỳ thống nhất lãnh thổ với quốc hiệu Việt Nam (ghi chép cương vực và quốc hiệu nước ta từ triều Nguyễn (1802-1945) đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Kết thúc phần 1, sách thống kê một bảng tóm lược quốc hiệu, thủ đô và dân số nước ta từ thời Giao Chỉ (năm 6000 trước Công nguyên) đến năm 2011.

Giải thích về việc “tạm chia ra bốn thời kỳ” như vậy, Giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: “Quốc hiệu và cương vực nước ta, qua các thời đại, đã thay đổi khá nhiều. Quốc hiệu và cương vực lại không đồng thời thay đổi, cũng không nhất thiết thay đổi theo các triều đại hay phân kỳ lịch sử nào”. Mỗi thời kỳ, tác giả thường tóm tắt gọn và dễ nhớ. Thí dụ ở Thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tác giả viết: “Kể từ khi Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc (-206) tới khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng (938) đem lại nền tự chủ cho xứ sở, dài 1.088 năm. (Nhà Tiền Lý đặt quốc hiệu là Vạn Xuân được 68 năm)”. 

Tác giả đặt biệt dành phần 2 (Biển Đông, Hoàng Sa – Trường Sa) dài hơn 100 trang để biên soạn 6 chương, khẳng định “lịch sử Nam tiến và Biển Đông” và “chủ quyền biển đảo Việt Nam qua các bản đồ cổ và tư liệu lịch sử”.

Mở đầu phần này, tác giả cho đăng Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) và viết: “Đây là bản đồ ghi chép nước ta đầy đủ về cương vực, cả lãnh thổ và lãnh hải, trước khi Pháp tới xâm lăng. Lãnh thổ nước ta bị thu hẹp khá nhiều, nhưng nay ta vẫn tôn trọng các đường “biên giới lịch sử”. Trên Biển Đông, hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Khối quần đảo Hoàng Sa – Vạn lý Trường Sa có dáng hình tương tự như cả ngàn bản đồ cổ Tây phương từ 1525 đến đầu thế kỷ XIX với tên gọi Paracel hay Pracel là của Việt Nam. Khoảng giữa thế kỷ XIX, họ mới gọi phần Trường Sa là Spratly và chia thành hai quần đảo cách xa nhau”.

Dẫn sử liệu và hai bản đồ An Nam quốc (thời Hồng Đức, 1490) và Vương quốc An Nam (Alexandre Rhodes, 1650), tác giả nhận định hai bản đồ này “đã biểu hiện khá rõ bờ biển, biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời”. 

Tới thời các chúa Nguyễn (1600-1777), có bài “Các nhà hàng hải, tu sĩ Phật giáo, Công giáo, các sách địa lý thế giới đều nói Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. Dưới triều Nguyễn (1802-1884), tác giả giới thiệu tiếp “Bốn bản đồ cùng khẳng định Việt Nam là cường quốc và Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. 

Gần cuối sách, tác giả viết riêng một bài tựa là “Những cuộc xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa” với đoạn kết: “Cuộc đấu tranh trên biển Đông vì toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam thật là cam go và phức tạp. Sao cho công lý và hòa bình cùng được thực hiện. Đó là nhiệm vụ thiêng liêng của chính quyền và của mỗi công dân trong cương vị và khả năng của mình”.

Không dừng lại ở đó, trên bìa bốn tác phẩm này, Giáo sư Nguyễn Đình Đầu còn trân trọng viết: “Chúng tôi đã thu thập và nghiên cứu hàng trăm bản đồ thế giới của các nước phương Tây thực hiện, hầu hết trong đó đều có ghi đất nước ta với các hải đảo Hoàng Sa – Trường Sa mà họ gọi tên chung là Paracel hay Pracel. Bờ biển Pracel (Costa da Pracel) là ở Trung bộ Việt Nam. Không một bản đồ nào ghi bờ biển Pracel ở Nam Trung Hoa hay ở Phi Luật Tân, Inđônêsia hay Mã Lai. Thật hiển nhiên, khắp thế giới đều thừa nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam”.


* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 12.3.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130312/cuon-sach-quy-ve-chu-quyen-viet-nam.aspx

Thứ Ba, 26 tháng 2, 2013

Gạt nước mắt để sống



12 truyện ngắn trong tập truyện Gạt nước mắt đi, đúng như lời giới thiệu của nhà xuất bản Trẻ: “Hiện thực đến trần trụi. Mộc mạc đến thô ráp mà vẫn đầy ắp tính nữ. Khao khát đến tuyệt vọng về hạnh phúc, tình yêu và sự cứu rỗi”.




Tác giả thường hóa thân vào nhân vật con trai và xưng “tôi” để làm người kể chuyện, đa phần là chuyện về cuộc sống của lớp người nghèo khó dài từ đời ông tới đời cháu, ở những xóm nghèo nhất chốn thị thành hoặc nông thôn An Giang, quê hương tác giả. Ở những nơi tận đáy xã hội ấy, thiện và ác, hạnh phúc và khổ đau, thủy chung và phản bội, dục vọng và từ bi… ẩn hiện khôn cùng trong giọng kể lạnh và đậm phương ngữ Nam bộ.

Thí dụ như trong truyện Đánh thức trinh nguyên: “Nó biết là đời nó đừng mong mỏi người ta cho cái gì dù chỉ là chùm thun. Năm tuổi gián tiếp hại chết mẹ, bảy tuổi đã không còn gì để mất. Không phải người ta cưỡng bức, là nó tự nguyện… Tự nguyện đổi chác với một cái giá rẻ mạt, rẻ hơn rác rưởi. Cái loại này là ác mộng của thế giới, đừng dại dột dính tới… Tôi thèm biết bao được chạy tới, ghì sát thân hình trong trẻo của Tiểu Hồi bằng đôi tay nồng ấm của mình, ao ước được áp mũi vào đôi má hồng hào mướt rượt kia, hít những hơi no đầy… Những cơn thèm tuột sâu tận đâu đó trong tôi, moi ra những cơn đau bủn rủn tay chân”.

Hay như trong truyện Gạt nước mắt đi, một truyện có không gian rộng dài từ Việt Nam, Campuhia, Thái Lan qua tới Mỹ: “Tôi mắc cười muốn khóc. Đi qua cửa địa ngục cũng hay, thấy trần gian này đẹp từ đầu tới đít. Nhưng, anh không thể quên được những ngày ở rừng. Mà làm sao quên được, người chớ có phải thú vật đâu”. Hoặc: “Tôi thả nỗi buồn mình cho nó tung tẩy đầy trên đầu, trước mặt sau lưng. Chỉ có không dám giẫm lên nó để bước tới. Hồi còn ở nhà, ức lòng quá thường ao ước, mình sẽ vượt biên, mình sẽ tìm một vùng đất mới. Giờ thì chỉ mong được làm một hột bụi thiệt nhỏ. Khi đó, ai muốn giẫm đạp giày xéo hay là có bị giông bão cuốn đi bất cứ phương trời nào cũng không hề hấn… Mà liệu hột bụi có đẩy nổi kí ức ra khỏi cái hình hài quá nhỏ nhoi của nó không?”.

Câu hỏi này chắc hẳn không chỉ của nhân vật xưng “tôi” trong truyện. Hẳn là nó thuộc về tác giả, một phụ nữ nhỏ nhắn có cái nhìn ánh lên sự chịu đựng đầy vị tha.

Ở bìa kép đầu tập truyện này, NXB giới thiệu về tác giả: “Võ Diệu Thanh là một cô giáo dạy mỹ thuật tiểu học và là một phụ nữ sống với văn chương bằng tất cả tình yêu buồn bã và trong trẻo trong tâm hồn. Giải nhì Cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20 lần 4 với tập truyện ngắn Cô con gái ngỗ ngược. Giải nhất cuộc thi viết Truyện ngắn YuMe 2011 với tác phẩm Người đàn bà đa tình. Giải nhì cuộc thi Truyện ngắn Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 4-2011”.

Còn ở bìa kép cuối, tác giả tự bạch: “Tôi giữ những điều xưa cũ vì nó nhắc nhớ hiện tại. Mình đó, đang sống trong thời hiện đại đó, nhưng vô tâm vẫn đi vào những chỗ dễ trợt chân mà người xưa đã vấp té tơi bời rồi” ■

* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130226/gat-nuoc-mat-de-song.aspx

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Thơ Thu Hà, một tác giả trẻ ở Đại học Cần Thơ


Ngày 19-1-2013, Hội Nhà văn thành phố Cần Thơ tổng kết trại bồi dưỡng sáng tác trẻ 2012. Trong số 18 tác giả dự trại, có nữ sinh viên Nguyễn Thị Thu Hà, năm 2 Ngữ văn   đại học Cần Thơ, để lại những bài thơ kí bút danh Thu Hà, làm “động lòng người”.

Thu Hà đọc thơ tại Hội Nhà văn TP.Cần Thơ - 19.1.2013


Nhà thơ Lê Chí nhận xét: “Một hiện tượng. Mới lắm. Mừng cho đồng bằng sông Cửu Long”. Nhà thơ trẻ Huỳnh Thúy Kiều ở Cà Mau, người được mời trao đổi kinh nghiệm sáng tác, nói: “Thu Hà có những câu thơ giàu hình tượng, giàu sức gợi, khi đọc thơ Hà, tôi có nhiều hứng thú và thật sự xúc động”.

Ở buổi tổng kết trại viết, thấy Thu Hà rụt rè và ít nói, không như ngọn lửa khát cháy trong thơ của mình. Khi được mời phát biểu, cô đọc một trang viết sẵn, cảm ơn trại viết và bộc bạch: “Còn gì bằng việc tìm thấy ngọn lửa của tuổi hai mươi? Tuy chỉ mới nhen nhóm nhưng em cảm thấy điều đó rất tuyệt!”.

Tôi xin địa chỉ email và hỏi cô vài chuyện. Hôm sau cô gởi mail trả lời: “Cháu không nghĩ rằng thơ mình ấn tượng như chú nói, vì cháu đưa cho bạn bè và anh chị đọc ai cũng kêu không hiểu cháu nói gì. Và một số lý do khác nữa nên có một thời gian cháu đã ngưng sáng tác. Chỉ gần đây khi tham gia câu lạc bộ Ngữ văn của khoa và tham gia trại sáng tác cháu mới có can đảm sáng tác lại”.


Thu Hà tại trường Đại học Cần Thơ


Hỏi chuyện gia đình, cô kể: “Cháu sinh ra và lớn lên ở Cà Mau. Ba mẹ cháu đều là nông dân. Năm cháu học lớp 6 thì mẹ cháu mất, năm cháu học lớp 8 thì anh hai cháu mất, đến năm cháu học 11 thì ba cháu mất. Cháu có bốn anh trai và một em gái khác mẹ. Anh thứ hai và anh thứ tư của cháu có khiếu làm thơ, nhưng cháu thì đến năm học lớp 11 khi nhà trường phát động cuộc thi làm tập san cháu mới biết là mình có thể sáng tác, lúc đó cháu đã viết hơn hai mươi bài trong vòng một tuần. Bài thơ đầu tiên cháu viết là nhờ cảm xúc sau khi đọc được một bài thơ của anh Hai cháu làm trước khi mất. Lúc đó, cháu hy vọng rằng sẽ tìm được những bài thơ của anh Hai sáng tác khi còn sống để đóng thành một tập, nhưng không thực hiện được. Sau khi biết mình cũng có thể làm thơ, cháu đã ước rằng sẽ tiếp theo bước đường dang dở của anh Hai, được chừng nào hay chừng ấy, nhưng không được ai cổ vũ tinh thần nên cháu cũng không dám suy nghĩ nhiều”.

Xin gửi đến bạn đọc một số bài thơ của Thu Hà, nhân trại viết ở Cần Thơ.

♥♥♥♥♥♥♥♥♥


THƠ VIẾT TRONG MỘT ĐÊM MƯA


1.


Mưa lại về bên em cào xé
Loang lổ tường rêu
Cào
Cào
Cào
ứ ra giọt máu
màu vôi
những ánh sao xa xôi
nghe mưa rủ nhau chạy trốn
những kí ức bề bộn
thản nhiên tìm về
rượu tê đầu lưỡi
một mình nói cười
kẻ điên!
Xoã tóc chập choạng trong đêm
kẻ điên đi tìm thần Chết
đêm cứ trôi mải miết
để biết ngọt đầu môi
anh xa xôi
nụ hôn bỏ dở
màu son khô
quệt!
nhìn xem!
son ở trên tay
và anh
ở đấy!

2.


Mưa
điệu nhạc rỗng tuếch!
Gameshow nhàm!
Thước phim mục rỗng!
Kỉ niệm ngủ quên
mở mắt tìm về
vuốt ve!
Cà phê
ứa tràn nước mắt
hoá đỏ
vết thương bị cào
Nào!
Đi tìm tình yêu
Vùi trong đống hoang tàn đổ nát
Vùi trong những giọt nước mắt
đỏ tươi
Vùi trong trái tim em
đá cuội
Vùi trong anh
mưa đêm!

3.


Nực cười
Mưa mang giày cao gót trên nóc nhà em mục rỗng
Đi đi lại lại
hư không
Mong ngóng
Chờ đợi
Giận dữ
Âu lo
Như một ả nhân tình chờ tình nhân sương khói
Già cỗi!
Mái nhà của em lỗ chỗ nước mưa
Những giọt mưa màu đỏ
Những giọt mưa chưa cầm đã vỡ
Những giọt mưa vừa nhìn đã tan
Thôi!
Bỏ quắt những giọt mưa tắm ướt sàn nhà
Mang hoa khô đi vứt
Để kỉ niệm ngủ quên

4.


Đêm mưa sinh ra một mụ điên
Đi giữa cơn mưa ngật ngưỡng
Nói cười
Phanh ngực ra phơi
Tuổi trẻ bùng cháy
Những nụ hôn chết dại
Những ngón tay mềm mại
vuốt ve
Xoã tóc vai trần
Tình ngây ngất…
Chớp mắt
Tuổi trẻ vụt tan
Nụ hôn màu khói
Tay mềm rút vội
Quay lưng!
Ngực đầy nếp nhăn
Quả tim rúm ró
Người chẳng đoái hoài
Trời chẳng đoái hoài
Tình bạc thếch
Nên
Nói cười
Ngật ngưỡng
Một mụ điên được sinh ra
Để quên!

5.


Không có mùa đông
Chỉ có mùa mưa và mùa nắng
Những ngày đầu mưa
Lạnh
Tâm hồn lên mốc
Không có nắng để phơi
Khép miệng, buông rèm
Để mặc mưa viết nhớ thương trên ô cửa kính
Lấy những chai nước sơn đủ màu
Quệt vào ngón tay
Ngón cái màu hồng
Ngón trỏ màu đỏ
Ngón giữa màu tím
Áp út màu xám
Cuối cùng màu đen
Đưa bàn tay lên
Nực cười
Ngón cũng già nua như năm tháng
Ngón nào của anh?
Ngón hồng không có anh
Ngón đỏ không có anh
Xám, đen không có anh
Hay anh ở trong màu tím?
Cũng không!
Anh ở trong ngón chưa mọc ra…









♥♥♥♥♥♥♥♥♥

MỘT NGÀY SAY


Một ngày
rũ bỏ những mối tơ công việc
khép lại
những lo toan,
căng thẳng
balô lên đường!
Bỏ lại sau lưng
tiếng còi xe inh ỏi
màn khói bụi vây trời...
Ta đi tìm vùng đất mới
nơi ta có thể căng tràn lồng ngực
hát nghêu ngao cùng những đàn chim
nằm xoải người trên thảm cỏ
nghe hơi thở đất lành!
ngắm cánh diều no gió trên nền trời xanh
lâng lâng, rợp ngời
ta như lạc vào thiên đường cùng đàn bướm
những cánh bướm đủ màu như muốn cất ta lên!
ngắt một loài hoa không tên
kết thành chiếc nhẫn
tặng con kỳ nhông đổi màu
Diệu kỳ thay!
tán cổ thụ như một nốt ghi-ta xanh
hòa âm cùng bọt nước trắng xóa
nơi thác cao
Suỵt! khẽ nào!
nhắm mắt
lắng nghe
bản nhạc thiên nhiên như du dương, như réo rắt, như trầm, như bổng...
Ôi! cuộc sống!
Ta say!
...
Một chú hươu sao
nhìn ta mỉm cười...









♥♥♥♥♥♥♥♥♥

 

NGƯỜI PHỤ NỮ ĐỢI CHỒNG


Người phụ nữ đợi chồng
Bên gốc xoài ngập màu đêm
Gió như những đứa trẻ vô tâm nghịch làn tóc
Rồi ngập ngừng khi thấy bóng thời gian

Đã bao tháng năm
Khi những đứa con đã đi vào miền cổ tích
Người phụ nữ đợi chồng nơi góc tối
Đôi mắt thăm thẳm
Âu lo

Người chồng trở về sau những cuộc say
Hát, cười, và nói
Xen lẫn cả tiếng trách người, tiếng oán đời và những tiếng tát tay
“Anh ấy đang say!”
Và cứ thế trên bức tường nhem nhúa
In bóng người phụ nữ
Lấy khăn lau cho chồng…







♥♥♥♥♥♥♥♥♥


ĐÊM TRÊN CẦU QUANG TRUNG


Đêm trên cầu Quang Trung
Gió ngốn ngấu từng khuôn mặt
Một chiếc xe, ba mái đầu

Có một mái đầu mang hình tam giác
chất chứa những suy tư
lôgic những dự định
rắn rỏi phát ngôn
lạnh hơn gió
tròn xoe mười đầu ngón tay

Có mái đầu mang hình tròn bị hở
cứ xoay vòng những suy nghĩ vô tư
những suy nghĩ giống chiếc lá đói màu bên mép đường thành thị
chốc chốc kẹo mút màu hồng
ngoảnh lại tóc đã thành màu nấm
cái đầu tròn bị hở
trọn rối những giấc mơ…

Một mái đầu không có hình để gọi
rối rắm
vô ngôn
giọt nước mắt màu nâu rớt trên mái đầu
lạ kỳ!
không vỡ!
nó lồng vào mái tóc rối rắm những hình thù
luồn vào trong hốc mắt
ngủ quên…

Đêm trên cầu Quang Trung
Không bóng người câu cá
Ba mái đầu và một chiếc xe
Lặng nhìn
Dòng sông vẫn hát…




♥♥♥♥♥♥♥♥♥


♥ Mời đọc thêm tại: http://www.vannghesongcuulong.org.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=9720

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

Thấy Phật



Thấy Phật là đối diện với chính mình 
Để tự hiểu mình đang sống trong từng sát-na cuộc sống 
Mình đừng làm cho ai phiền lòng vì ham muốn 
Dẫu chỉ là những ham muốn phiêu bồng được sẻ chia 
Được nghe được nhìn được im lặng tiễn đưa 
Thế giới nội tâm của người bạn nhỏ 
Thế giới vị tha của loài hoa cỏ 
Thế giới trật tự dạt dào của dòng sông 
Để nhớ rằng mình đang sống giữa hư không 
Mà trong đó có những sóng âm thanh vi diệu 
Của tình thương của tấm lòng đồng điệu 
Sâu sắc ân cần nhè nhẹ sẻ chia 
Như một ngày 
Bình dị 
Dưới mưa. 


Tranh: ViVi



















♥♥♥♥♥♥♥♥

Thứ Sáu, 8 tháng 2, 2013

CUỐI NĂM



Giở sách Thấy Phật (*) hiện ra nhành huệ trắng 
Em đang ở đâu 
Hương thơm từ sách hay từ huệ 
Lặng thầm bay lên 
Như ngọn khói trà sen 
Ướp mỏng manh gian phòng trắng 
Cửa sổ mở tung 
Nồng nàn nắng

Giã từ Cửu Long xanh 
Gõ cửa Sài Gòn trắng 
Ngọc ngà sách Phật tinh khôi 
Nhập môn bộ máy

Thế có nghĩa là đồng hồ đang chạy 
Như nhịp đập con tim 
Như là Sài Gòn trắng 
Như là Cửu Long xanh

Anh nhập môn bộ máy 
Gặp bất nhẫn buồn một chút 
Gặp vô cảm lạ lùng hai chút 
Gặp hoang tưởng thông minh 
Bàng hoàng ba bốn chút 
Muốn hỏi Phật vô cùng 
Chỉ gặp lại hương xưa

Nhành huệ trắng tinh khôi 
Sáng chủ nhật đong đưa 
Gầy hơn tuần trước

Thì yên lặng sẻ chia như nước 
Đối diện với mình 
Thấy Phật




♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥♥

(*) Thấy Phật – sách của Cao Huy Thuần