Thứ Năm, 7 tháng 11, 2013

Đại học Cần Thơ giúp Ban Kinh tế Trung ương


 (TBKTSG Online)- Chiều ngày 6-11, tại Đại học Cần Thơ, đại diện Ban Kinh tế Trung ương và Đại học Cần Thơ đã ký kết hợp tác giai đoạn 2013-2018 mà trọng tâm là nghiên cứu phát triển ĐBSCL.
Có 5 nội dung hợp tác chính: nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế xã hội Việt Nam; xây dựng các dự án kinh tế xã hội ĐBSCL, nhất là kinh tế du lịch, kinh tế biển, biến đổi khí hậu, kinh tế tam nông; xây dựng mạng lưới chuyên gia kinh tế; tổ chức các diễn đàn, hội nghị kinh tế; trao đổi thông tin tư liệu và ấn phẩm kinh tế xã hội.


Quang cảnh họp ký kết hợp tác giữa ĐH Cần Thơ và Ban Kinh tế Trung ương.


Ông Bùi Văn Thạch, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, nói: “Trên cơ sở này, chúng tôi sẽ gửi Đại học Cần Thơ danh mục hợp tác để trường chọn, tập trung vào vấn đề tam nông, tái cơ cấu nông nghiệp, đưa khoa học công nghệ vào đời sống. Các chương trình, dự án hợp tác phải có tính chất liên vùng ĐBSCL và dài hạn”.

PGS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ đề nghị nên ưu tiên hợp tác bốn chương trình mà nhà trường đang làm. Đó là chương trình nghiên cứu tài nguyên biển ĐBSCL; chương trình phát triển lúa gạo, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản và huấn luyện nông dân; chương trình nghiên cứu công nghệ xây dựng, môi trường và kiến trúc quy hoạch đô thị nông thôn ĐBSCL và chương trình nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên THPT và cán bộ quản lý giáo dục ĐBSCL.



* Đã đăng TBKTSG Online 6-11-2013:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/105305/

và Saigon Times Daily 7-11-2013:


Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Cần Thơ có trường đại học theo mô hình đại học cộng đồng của Mỹ



Sau Đại học Tây Đô ra đời năm 2006, thành phố Cần Thơ có thêm trường đại học tư thục thứ hai, Đại học Nam Cần Thơ, vừa tổ chức lễ khánh thành và khai giảng khóa học đầu tiên vào sáng ngày 30-10-2013.

Cắt băng khánh thành DNC sáng 30-10-2013


Phát biểu tại lễ khai giảng, GS.TS Võ Tòng Xuân, quyền Hiệu trưởng Đại học Nam Cần Thơ, nhấn mạnh: “Bộ Giáo dục và đào tạo cho phép trường tuyển sinh chính qui đa cấp, đa ngành, một loại hình đào tạo giống như ở Hoa Kỳ là mỗi vùng lớn trong tiểu bang đều có một trường đại học cộng đồng có đủ các chương trình đào tạo vừa dài hạn vừa ngắn hạn, phục vụ nhu cầu phát triển nhân lực dài hạn và cấp tốc của vùng”.

Theo mô hình này, năm nay, từ chỉ tiêu 2.000 sinh viên, Đại học Nam Cần Thơ đã xét tuyển được 968 sinh viên đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp các ngành dược sĩ, kiến trúc, kế toán, quản trị kinh doanh, tài chính ngân hàng, kỹ thuật công trình, luật, địa chính, y sĩ.

Trường cũng đang liên kết với trường Đại học Ngân hàng đào tạo thạc sĩ ngành tài chính ngân hàng và liên kết với Đại học Vinh đào tạo đại học văn bằng 2 và hệ vừa học vừa làm các ngành luật, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên và môi trường, kỹ thuật xây dựng công trình giao thông và công nghệ thực phẩm.


Tại phòng Tổ chức Hành chánh DNC


Với các ngành đào tạo, theo GS Võ Tòng Xuân, trước tiên trường sẽ tập trung cải tiến phương pháp giảng dạy. Ông nói: “Trong trường Đại học Nam Cần Thơ sẽ không còn cảnh vào lớp thầy cô đọc cho sinh viên chép bài, không còn cảnh sinh viên học ngốn mớ chữ chép trong tập để đi thi. Thay vào đó, sinh viên sẽ có các giáo trình, giáo án, các bài tập được in ra và ghi trên mạng Intranet của trường”. 

Cán bộ giảng dạy và sinh viên cũng sẽ tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học đáp ứng nhu cầu phát triển của vùng ĐBSCL, nhất là của thành phố Cần Thơ. “Chúng tôi sẽ bám sát các sở khoa học, công nghệ và môi trường của các tỉnh và thành phố, vụ khoa học và kỹ thuật của các bộ ngành trung ương và các tổ chức khoa học quốc tế để thực hiện các đề tài khoa học”, GS Xuân nói.

Các chủ nhân ở TP.HCM và Cần Thơ đã đầu tư hơn 60 tỉ đồng xây dựng trường giai đoạn 1, sẽ đầu tư tiếp 50 tỉ đồng xây khu ký túc xá cho 2.000 sinh viên nội trú vào năm học 2014-2015 cùng một thư viện điện tử.


Thầy Xuân và Lạc Long tại phòng TCHC DNC 


Hiện Đại học Nam Cần Thơ mới chỉ có 116 giảng viên cơ hữu, trong đó có 1 GS.TS, 6 PGS.TS, 9 TS, 1 nghiên cứu sinh, 90 Ths, 4 học viên cao học và 5 cử nhân. Từ thực tế này, GS Võ Tòng Xuân kêu gọi: “Một mặt chúng tôi thuyết phục nhân tài về cộng tác với trường, một mặt chúng tôi tranh thủ sự giúp đỡ của các trường đàn anh đồng thời chúng tôi chuẩn bị cho đi đào tạo và bồi dưỡng để nâng cấp trình độ giảng viên mới”.

Trang 3, The SaigonTimes Daily, ngày 31.10.2013


• Mời xem thêm tại TBKTSG Online 30-10-2013:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/104939/Can-Tho-co-dai-hoc-theo-mo-hinh-dai-hoc-cong-dong.html

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

Giáo sư Võ Tòng Xuân về Đại học Nam Cần Thơ


(TBKTSG Online)- GS.TS Võ Tòng Xuân vừa cho biết ông đã thôi làm Hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo (Long An), về Cần Thơ làm quyền Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ, nơi ông là thành viên hội đồng sáng lập và là chủ tịch hội đồng khoa học của trường. 


GS Võ Tòng Xuân tai lễ khơi công ĐH Nam Cần Thơ - Ảnh DNC


Trả lời TBKTSG Online qua e-mail, GS Võ Tòng Xuân cho biết: “Tôi đã thôi làm cho Đại học Tân Tạo từ tháng 10 này để tập trung cho các công việc khác”. Theo đó, ngoài công việc ở Đại học Nam Cần Thơ, GS Võ Tòng Xuân còn đảm đương chương trình trồng lúa ở châu Phi, chương trình “4 nhà và cây lúa”, chương trình cây mía ở Tây Ninh, dự án khu công nghệ cao ở Hậu Giang và trường Mẫu giáo song ngữ Tinh Hoa ở An Giang. “Tôi sẽ tham gia Đại học Nam Cần Thơ ít thời gian với chức danh quyền hiệu trưởng đến khi tôi tìm được một hiệu trưởng làm nguyên thời gian”, ông giải thích. 

GS.TS Võ Tòng Xuân từng làm Phó hiệu trưởng Đại học Cần Thơ, Hiệu trưởng Đại học An Giang trước khi làm Hiệu trưởng Đại học Tân Tạo vào năm 2010.  


Mặt tiền Đại học Nam Cần Thơ - Ảnh DNC

Đại học Nam Cần Thơ tọa lạc tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, là đại học tư thục đào tạo chính quy, đa ngành, đa hệ; năm nay được giao chỉ tiêu tuyển 2.000 sinh viên và sẽ khai giảng khóa đầu tiên vào ngày 30-10-2013. 

* Mời đọc thêm tại TBKTSG:
Giáo sư Võ Tòng Xuân về Đại học Nam Cần Thơ


Thứ Tư, 16 tháng 10, 2013

Thơ Lâm Tẻn Cuôi

Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài ở An Giang đã viết một bài dài 8 trang thay cho lời giới thiệu tập thơ Hương xa từng góc khuất (NXB Hội Nhà văn, tháng 8.2013) của nhà thơ Lâm Tẻn Cuôi ở Bạc Liêu.



Có một đoạn như vầy: “Những tập thơ gần đây anh cho in thêm tên Lâm Trấn Khuê… À, thì ra Lâm Tẻn Cuôi phiên âm từ tiếng Hoa ra chữ Việt là Lâm Trấn Khuê… Thôi thì dù lấy tên nào thì cũng là anh, một người mê thơ và làm thơ bằng trái tim cháy bỏng của mình”.

Nhà thơ người Việt gốc Hoa này sinh năm 1951; anh không may bị sốt bại liệt từ nhỏ và phải ngồi xe lăn cho tới giờ. Vậy mà anh đã trở thành một doanh nhân thành đạt ở Bạc Liêu và là tác giả của 7 tập thơ đồng thời là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Bạc Liêu và Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Xin chia sẻ với nhận xét của nhà thơ Trịnh Bửu Hoài: “Trong thế giới mênh mông đó, anh vẫn đi trong hạnh phúc với một tâm hồn nhạy cảm, vượt lên số phận, biết yêu thương và gởi cho đời những cánh hoa hương sắc của lòng mình”. Đọc bài Giao thừa mới hiểu vì sao Lâm Tẻn Cuôi đặt tên cho tập thơ lần này như vậy: Quên cuộc đời mình còn có những niềm riêng / Đời vẫn đẹp dù ngụp lặn mãi giữa dối gian lừa lọc / Giờ khai bút ru hồn đêm trằn trọc / Hãy cố quên buồn khi trước mặt mình đầy những nụ hoa!

Có thể gặp lại hình bóng của nhiều người con gái trong thơ Lâm Tẻn Cuôi. Thường nhật là nhẹ nhàng và hồn nhiên; đôi khi hóa thành sóng, thành gió nhưng không thành bão. Tỉ như trong bài Sóng tình này: Đời tất tả ngược xuôi / Tình hằn sâu nẻo người / Em đừng hồn cô phụ / Buồn lạc lõng chơi vơi / Đêm gió lạnh chìm sâu / Mộng quanh con sóng trào / Nơi tận cùng nỗi nhớ / Ta xa mà thương nhau…

Anh hy vọng nhưng không hiểu đó có phải là cứu cánh. Anh sẽ có niềm hạnh phúc vô biên hoặc nỗi đau vô bờ. Khi yêu, anh cũng chẳng dám tin, chỉ xin người…”, Trịnh Bửu Hoài đã viết như vậy rồi trích dẫn: Xích gần chút nữa đi em / Dẫu còn khoảng cách cũng thêm ấm lòng (Gởi hương cho gió).

Và có lẽ cả đời, Lâm Tẻn Cuôi không muốn làm phiền lòng ai. Cả trong Nguyệt, một bài thơ có ý “triết lý nhân sinh” khi để cho một người con gái đẩy xe lăn đưa mình lên dốc từ bốn phía cuộc đời trước, sau, phải, trái. Đẩy từ phía trước thì Em nhích gần sẽ đẩy anh lùi xa; đẩy từ phía trái thì Lực ly tâm đâu thể hút ta vào; đẩy bên phải thì Anh phế nhân còn em hồn xuân sắc. Rốt cuộc, nhà thơ nài nỉ: Thôi em hãy từ phía sau đẩy tới / Anh nhìn lên dẫu khuất mặt ru buồn / Nhưng vòng lăn xe lên hay xuống dốc / Sẽ an lòng em mãi ở sau lưng. Vâng, không phải để an lòng mình mà để an lòng người…■


Đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131015/tho-lam-ten-cuoi.aspx

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Gạo thơm ST ra thế giới


Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Thái Lan làm được, sao mình không làm ?


Kỹ sư Hồ Quang Cua - Ảnh: H.Kim

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp H.Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST. 

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 - 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” - Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm. 

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím - lúa và tôm - lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”. 

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi


Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân - doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Đọc sách: HỒI KÝ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP



Vào tháng 3.2006, NXB Quân đội Nhân dân đã ấn hành Tổng tập hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lời giải thích: “Việc có trong tay cùng một lúc nhiều tác phẩm hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã và đang trở thành một nguyện vọng tha thiết của rất nhiều bạn đọc”. Bộ sách dày 1.360 trang, in 1.350 bản, giá bìa 380.000 đồng, nay không còn thấy trong nhiều nhà sách. 




Bộ tổng tập gồm sáu hồi ký đã xuất bản trước đó: Từ nhân dân mà ra (in năm 1964), Những năm tháng không thể nào quên (1974), Chiến đấu trong vòng vây (1998), Đường tới Điện Biên Phủ (2001), Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử (2004) và Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng (2005). Năm cuốn đầu do nhà văn Hữu Mai thể hiện; cuốn thứ 6 do Đại tá Phạm Chí Nhân thể hiện. 

Trong bài “Vĩnh biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp” đăng báo Thanh Niên hôm 5.10 ngay sau khi hay tin Đại tướng từ trần vào chiều ngày 4.10, thọ 103 tuổi, giáo sư sử học Phan Huy Lê viết: “Ông là người cùng toàn quân, toàn dân viết lên những trang sử oanh liệt chống ngoại xâm và là người chép lại chính những trang sử đó… Với tầm bao quát của vị thống soái, những trang hồi ký của ông vừa mang tính cụ thể của nhiều tình tiết sinh động, vừa phản ánh toàn cục của cuộc chiến tranh”.

Từ nhân dân mà ra kể chuyện lịch sử hình thành Quân đội Nhân dân Việt Nam mà tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời ngày 22.12.1944 tại chiến khu Cao Bắc Lạng; chỉ với 34 chiến sĩ đầu tiên đã đánh thắng hai trận mở màn Phai Khắc, Nà Ngần. Tác giả kể sau trận Nà Ngần diễn ra vào rạng sáng ngày 25.12.1944: “Trận đánh kết thúc trong vòng dăm phút. Toàn bộ binh lính địch đầu hàng. Về phía ta, đồng chí Bê bị thương ở ngón tay vì viên đạn của tên quản. Bộ đội nhanh chóng thu thập súng đạn, tài liệu, phát truyền đơn và dán biểu ngữ. Tù binh được tập hợp lại giữa sân.  Chị Loan, chị Cầm và chị Thanh giải thích cho họ bằng tiếng Thổ. Họ rất ngạc nhiên khi thấy hai nữ chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng rất lưu loát, phân tích cho họ về tình hình trong nước và nghĩa vụ của những người dân, kêu gọi toàn thể binh sĩ quay súng lại giết giặc”.

Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, như lời của tác giả: “Tôi muốn ghi lại một số hình ảnh của Bác trong những năm, tháng không thể nào quên của thời kỳ đầu mới giành được chính quyền, khi vận mệnh của Tổ quốc đã có lúc như “ngàn cân treo sợi tóc””. Có một chuyện xảy ra vào tháng 10.1945: “Môt hôm, bộ tư lệnh quân đội Tưởng đề nghị Bác đến gặp. Bác về muộn, lặng lẽ ngồi vào bàn ăn… Bác kể lại sáng nay bọn Tưởng đòi Bác ký giấy nhận cung cấp cho chúng một số gạo rất lớn. Bác đã từ chối. Chắc chúng còn tiếp tục làm rầy về chuyện gạo. Bác nói: “Gạo đâu mà đưa chúng nhiều thế. Dân mình đã có đủ gạo ăn đâu!”. Thấy vẻ bất bình của chúng tôi, một lần nữa, Bác nhắc lại cần phải biết kiên nhẫn chịu đựng, giữ hòa hoãn với quân Tưởng để có thể tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính. Bác kiên quyết trong nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Và khi sách lược đã định ra rồi, Bác cũng rất kiên quyết thực hiện sách lược”.

Mở đầu hồi ký Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký tên dưới dòng bút tích của mình:“Điện Biên Phủ là điểm hẹn mà Lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược trong thời đại ngày nay”. Gần cuối hồi ký, có câu chuyện này: “Hai ngày sau khi cuộc chiến đấu kết thúc, tôi từ Mường Phăng tới thăm chiến trường Điện Biên Phủ. Trạm tù binh ở rải rác hai bên đường. Binh lính địch vóc dáng to lớn tắm giặt ở suối dưới sự canh gác của những chiến sĩ rất trẻ, bé nhỏ, vẻ mặt hiền lành. Từ một khu rừng vẳng ra tiếng phong cầm rộn ràng, hòa với tiếng hát của những tù binh Pháp. Các đồng chí công tác địch vận đã báo cáo, binh lính địch tỏ vẻ vui thích khi ra hàng. Họ đều muốn sớm chấm dứt cuộc chiến đấu tuyệt vọng, không mang lại lợi lộc gì cho mình, để thoát khỏi cái địa ngục trần gian do Nava đã tạo nên”.

Và ở gần cuối tập hồi ký thứ 6, Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Võ Đại tướng đã kể lại câu chuyện này: “Năm 1971, tôi sang Liên Xô khẳng định quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn và đề nghị bạn có sự giúp đỡ đặc biệt. Tại cuộc họp với các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng chí Côxưghin hỏi: “Tôi xin hỏi đồng chí Giáp. Đồng chí nói Việt Nam đánh thắng Mỹ. Tôi muốn biết đồng chí có bao nhiêu đoàn bộ binh cơ giới và Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng và máy bay chiến đấu… các đồng chí có bao nhiên và Mỹ có bao nhiêu? Khả năng về phòng không, về tên lửa, về thông tin, rađa của các đồng chí như thế nào? Xin đồng chí nói qua cho tôi biết”. Tôi trả lời: “Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí. Đồng chí muốn biết về vấn đề so sánh lực lượng giữa chúng tôi và Mỹ. Theo học thuyết quân sự Xô Viết là như vậy. Học thuyết quân sự Xô Viết hết sức ưu việt, đã chiến thắng phát xít Đức. Điều đó rất rõ ràng. Nhưng, tôi xin nói nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi hai tiếng đồng hồ. Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam, và chúng tôi sẽ thắng”. Sau ngày toàn thắng, có dịp trở lại Liên Xô, gặp lại đồng chí Côxưghin, tôi cảm ơn Liên Xô đã nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam đánh Mỹ. Đồng chí vui vẻ nói: “Việt Nam thắng to quá, như thế tốt quá! Xin chúc mừng các đồng chí”.

Trước đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khái quát: “Độc lập và tự chủ, thông minh và sáng tạo, đó là nét nổi bật của học thuyết quân sự Việt Nam”. ■


Đã đăng trên báo Thanh Niên ngày 8.10.2013