Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2019

Trung Quốc tuyên truyền về "đường lưỡi bò" không từ thủ đoạn nào

Huỳnh Kim

Thứ Bảy,  2/11/2019, 11:07 


(TBKTSG Online) - "Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội để tuyên truyền về "đường lưỡi bò" không từ bất kỳ thủ đoạn nào" - đó là nhận định của TS. Trần Việt Trường, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Cần Thơ, người chủ trì Hội thảo “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền biển, đảo Việt Nam trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2019”.

Nhà báo tác nghiệp tại hội thảo tuyên truyền về biển đảo ở Cần Thơ ngày 1-11. Ảnh: Huỳnh Kim
Hội thảo do Ban Tuyên giáo Cần Thơ, Nhà máy X55 Hải quân và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Cần Thơ tổ chức vào ngày 1-11, thu hút 41 tham luận. TBKTSG Online lược ghi ý kiến của một số đại biểu tại hội thảo này.

TS. Trần Việt Trường - Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Cần Thơ:
“Biển Đông lúc nào cũng có sóng”

Từ trước đến nay, Trung Quốc luôn nuôi tham vọng độc chiếm Biển Đông và trong những năm gần đây đã công khai tham vọng này bằng việc công bố yêu sách "đường lưỡi bò" hay "đường chín đoạn" phi pháp bao trùm gần 90% diện tích Biển Đông cũng như đẩy mạnh việc cải tạo trái phép các bãi đá trong khu vực thành các đảo nhân tạo làm căn cứ để hiện thực hóa điều này.

Tuy nhiên, yêu sách này hoàn toàn trái với luật pháp quốc tế và trên thực tế, Tòa Trọng tài thường trực (PCA) năm 2016 đã ra phán quyết khẳng định tuyên bố của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý.

Dù yêu sách "đường lưỡi bò" là hoàn toàn phi pháp nhưng Trung Quốc vẫn quyết không từ bỏ "đường lưỡi bò" bởi điều này gắn bó chặt chẽ đến tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Trung Quốc cũng đã có những bước chuẩn bị hết sức tinh vi để truyền bá những thông điệp sai trái về yêu sách chủ quyền ra khắp thế giới với mục tiêu từng bước thay đổi quan điểm của cộng đồng quốc tế trong vấn đề này.

Thông qua việc cài cắm hết sức tinh vi trong truyền thông, văn hóa, giải trí, từ sách giáo khoa cho đến các tạp chí khoa học, dù là trong những lĩnh vực không liên quan như môi trường, cả trong nước lẫn trên thế giới, Trung Quốc vẫn đẩy mạnh chiến dịch tuyên truyền về "đường lưỡi bò" phi lý.

Họ tận dụng mọi cơ hội để tuyên truyền về "đường lưỡi bò" không từ bất kỳ thủ đoạn nào.

Quan điểm, lập trường của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề Biển Đông:

Khẳng định chủ trương, lập trường nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Việt Nam khẳng định, duy trì hoà bình, ổn định và tự do hàng hải, hàng không, đề cao thượng tôn pháp luật, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia như được xác lập tại Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển 1982 là lợi ích và trách nhiệm chung của các nước và cộng đồng quốc tế.

Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng cùng cộng đồng quốc tế nỗ lực đóng góp vào mục tiêu nói trên, vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam mong muốn các nước liên quan và cộng đồng quốc tế cùng nỗ lực đóng góp nhằm bảo vệ và duy trì lợi ích chung.

Các bên liên quan cần thực hiện toàn diện và hiệu quả tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), kiểm soát tốt bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông; thực hiện nghiêm túc "Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc" và tuân thủ nhận thức chung quan trọng mà lãnh đạo hai Đảng, Chính phủ hai nước đã đạt được.

Việc Trung Quốc đưa tàu Hải Dương 8 cùng tàu hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển của Việt Nam được xác định theo đúng quy định của UNCLOS 1982.

Đây cũng là sự việc có tính chất nghiêm trọng nhất từ sau sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương 981 vào hoạt động trái phép trong vùng biển của Việt Nam năm 2014 được phía Trung Quốc tính toán và chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, cả về thời điểm, phạm vi và quy mô triển khai với mục tiêu là hiện thực hóa tranh chấp và mở rộng khu vực tranh chấp để từ đó đi vào thúc ép ta "gác tranh chấp, cùng khai thác".

Đây là chủ trương xuyên suốt và lâu dài của Trung Quốc và ta đã hiểu rõ, có bước chuẩn bị và hoàn toàn nằm trong dự báo và đối sách của ta.

Khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược giữa hai nước, duy trì cục diện quan hệ với Trung Quốc.

Với mục tiêu giữ gìn hòa bình, ổn định, đồng thời với các biện pháp đấu tranh ngoại giao và đấu tranh trên thực địa, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai các biện pháp quản lý thông tin, không để các thế lực phản động lợi dụng phát tán thông tin mang tính kích động gây mất an ninh, trật tự trong nước, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và phát triển kinh tế của ta, gây phân tán nguồn lực và lực lượng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Về chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông thông qua các biện pháp hòa bình, khẳng định quyết tâm bảo vệ vững chắc các quyền và lợi ích hợp pháp các vùng biển Việt Nam trên cơ sở luật pháp quốc tế. Việt Nam khẳng định, duy trì hoà bình, ổn định và tự do hàng hải, hàng không; tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vì quan hệ hai nước và ổn định, hoà bình ở khu vực; đề cao thượng tôn pháp luật, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia như được xác lập tại Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên; vì lợi ích và trách nhiệm chung của các nước và cộng đồng quốc tế.

Về đấu tranh chính trị - ngoại giao, từ khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 và đưa nhóm tàu Hải Dương 8 xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, phía ta đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Quốc ở các kênh khác nhau.

Bộ Ngoại giao đã tiến hành nâng cấp đấu tranh ngoại giao, trao công hàm phản đối hành động vi phạm của phía Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, vùng biển tàu khảo sát Hải Dương 8 hoạt động là vùng biển hoàn toàn của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 mà Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên.

Các cơ quan chức năng của Việt Nam đã tiến hành giao thiệp, phản đối nhiều lần qua đường ngoại giao ở nhiều cấp độ khác nhau, cả trên kênh Đảng, kênh Nhà nước, kênh đối ngoại nhân dân và từng bước nâng cấp đấu tranh chính trị - ngoại giao theo diễn biến của vụ việc.

Các lãnh đạo các cấp của Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trên biển, đồng thời đề nghị phía Trung Quốc cần giải quyết các bất đồng bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, thông qua các cuộc gặp nổi bật giữa các nguyên thủ quốc gia, lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam và các nước.

Đấu tranh thông qua chứng cứ pháp lý và hoạt động thực địa trên lãnh hải của Việt Nam: Trong lịch sử cũng như trên thực tế, Việt Nam đang kiểm soát và khai thác dầu khí tại bãi ngầm Tư Chính. Bãi Tư Chính ở cạnh đường hàng hải quốc tế, nên có vị trí rất quan trọng đối với việc tổ chức lực lượng thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trên biển và quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc. Không có bất kỳ quốc gia nào có chủ quyền ở khu vực này kể cả Trung Quốc.

Tại đây, Việt Nam đã triển khai hoạt động dầu khí từ gần 20 năm qua, trong đó có Lô 06/1 nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam. Hoạt động xây dựng các cụm dịch vụ mang tên Cụm dịch vụ - kinh tế - khoa học - kỹ thuật (DK) với hoạt động đầu tiên từ năm 1989.

Việc này phù hợp với các quy định về quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển, theo Điều 60 của Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển (quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trong vùng đặc quyền kinh tế) và Điều 80 (quy định về các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình ở thềm lục địa). Bãi ngầm Tư Chính cũng nằm cách xa lục địa Trung Quốc khoảng trên 600 hải lý.

Vì vậy, chúng ta tiếp tục tuyên truyền những căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển khác của Việt Nam. Tuyên truyền hoạt động tiến hành dầu khí tại Lô 06/1 và các lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là hoàn toàn bình thường, phù hợp với luật pháp quốc tế.

"Biển Đông lúc nào cũng có sóng", cho nên các lực lượng chức năng của Việt Nam đã chủ động triển khai các biện pháp phù hợp, đúng pháp luật. Tăng cường và duy trì lực lượng cản phá xua đuổi, đấu tranh tuyên truyền tại thực địa, bảo đảm thực thi chủ quyền trên biển, ứng phó thích hợp với diễn biến tình hình, bảo vệ an toàn các hoạt động dầu khí bình thường trong vùng biển Việt Nam.

Đồng thời, bố trí các tàu xuất phát nhanh và lực lượng dự bị, sẵn sàng tăng cường lực lượng đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên thực địa. Cùng với đó, trong nội địa, các lực lượng an ninh cũng đã chủ động các biện pháp phòng chống việc lợi dụng vấn đề biển đảo gây bất ổn an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Trong mỗi tình huống, các phương án đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo luôn được lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam chuẩn bị, luyện tập nhuần nhuyễn và linh hoạt khi áp dụng vào thực tiễn đấu tranh, luôn giữ vững được định hướng, sự lãnh đạo của Đảng và tuân thủ nghiêm luật pháp quốc tế.

Trong suốt thời gian Trung Quốc vi phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam, lực lượng cảnh sát biển Việt Nam luôn luôn có mặt 24/24 giờ thực hiện các hoạt động đấu tranh nhằm giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Theo thống kê sơ bộ của Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam, từ năm 2008 đến năm 2019, lực lượng này đã phát hiện hơn 39.800 lượt/chiếc tàu nước ngoài vi phạm vùng biển Việt Nam. Trong đó, phát hiện, theo dõi 850 lượt tàu quân sự, 2.287 lượt tàu chấp pháp, trên 4.000 lượt giàn khoan, tàu nghiên cứu thăm dò, tàu nước ngoài phụ hành và dịch chuyển bất hợp pháp trên vùng biển Việt Nam và đã yêu cầu trên 26.800 lượt/chiếc tàu vi phạm ra khỏi vùng biển Việt Nam.

Chiến lược hợp tác quốc phòng và tranh thủ sự ủng hộ của các nước trên thế giới. Trong quá trình hội nhập, hợp tác quân sự với các nước trên thế giới như: quan hệ quốc phòng với hơn 80 nước, bao gồm tất cả các thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc; ký 50 hiệp định, bản ghi nhớ hợp tác tương trợ tư pháp hình sự chống tội phạm, phòng, chống ma túy với các nước.

Việt Nam vẫn giữ được chủ trương, đường lối và bảo đảm thực hiện tốt chính sách “3 không”, giữ đúng định hướng, thể hiện quan điểm độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường của Đảng, Nhà nước ta về quốc phòng nói chung, công tác đối ngoại quốc phòng nói riêng, mang bản chất chế độ XHCN mà Việt Nam đang xây dựng, hướng đến sự hòa bình, thịnh vượng cho đất nước, khu vực và thế giới.

Các cơ quan chức năng và cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài đã tích cực thông tin, vận động các chính đảng các nước, các diễn đàn, tổ chức nhân dân quốc tế lên tiếng ủng hộ Việt Nam.

Tiếp tục gặp gỡ cơ quan chức năng sở tại để tìm hiểu quan điểm và trao đổi thông tin liên quan đến việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc ở vùng biển Việt Nam.

Vận động chính giới các nước lên tiếng ủng hộ đấu tranh vì biển đảo của Việt Nam. Tổ chức tọa đàm, hội họp với học giả, báo chí sở tại để cung cấp thông tin phục vụ việc viết bài, đưa tin ủng hộ Việt Nam trong vấn đề Biển Đông. Gặp gỡ, trao đổi riêng với một số kiều bào cốt cán trong cộng đồng để cung cấp thông tin về chủ trương, biện pháp đấu tranh của Việt Nam...

Chúng ta đã làm tốt công tác tuyên truyền, định hướng thông tin làm cho chính giới, học giả, báo giới và nhân dân thế giới, nhất là các nước có liên quan trực tiếp, các nước lớn và các nước trong khu vực hiểu rõ, đồng thuận ủng hộ các hoạt động dầu khí của Việt Nam tại khu vực biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam.
Việt Nam đã kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển của Tổ quốc, đồng thời giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Đại tá Ngô Văn Thành - Chính ủy Cục Kỹ thuật - Quân chủng Hải quân:
Năm việc phải làm

Đến nay, Cục Kỹ thuật Hải quân đã ký kết chương trình phối hợp tuyên truyền biển đảo với 9 tỉnh, thành phố gồm Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Phú Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng.

Nhận thức rõ tuyên truyền miệng là hình thức cơ bản, là kênh thông tin thiết yếu để nâng cao nhận thức, trách nhiệm, định hướng hành động cho các đối tượng, Cục Kỹ thuật và các đơn vị đã cử báo cáo viên trực tiếp đến các địa phương để tuyên truyền.

Từ năm 2016 đến nay, đã tổ chức 315 buổi tuyên truyền cho 48.500 lượt cán bộ, đảng viên, báo cáo viên, nhân dân địa phương; 157 lượt tuyên truyền thu hút nguồn lực cho 145.000 học sinh, sinh viên. Biên soạn tài liệu, cập nhật thông tin, cung cấp cho báo cáo viên của các địa phương tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nội dung tuyên truyên tập trung nêu rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của biển, đảo; quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về biển, đảo; âm mưu và những động thái mới của nước ngoài đối với Biển Đông; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề biển, đảo chống phá nước ta; cơ sở pháp lý, tư liệu lịch sử, thực tiễn khẳng định chủ quyền biển đảo Việt Nam, nhất là hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; thành tựu phát triển kinh tế biển gắn với quản lý, bảo vệ CQBĐ của quân và dân ta; Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, các điều ước quốc tế về biển mà Việt Nam là thành viên; Luật Biển Việt Nam 2012; sự phát triển của Hải quân nhân dân Việt Nam trong tình hình mới...

Phát huy vai trò của công tác tuyên truyền, hàng năm Cục Kỹ thuật đã phối hợp, đăng ký với Cục Chính trị Hải quân cho các phóng viên báo, đài địa phương đi thực tế, tác nghiệp ở các vùng biển, đảo, nhất là các tuyến đảo trong dịp Tết Nguyên đán; cùng với đi  thăm và động viên cán bộ, chiến sỹ và nhân dân trên Quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1...

Sau mỗi lần công tác, đội ngũ phóng viên, nhà báo đã tổng hợp được rất nhiều tư liệu để viết bài, đưa tin, cổ vũ và tiếp thêm động lực cho bộ đội yên tâm làm nhiệm vụ, nhân dân vươn khơi, bám biển. Các cơ quan báo, đài của địa phương đã dành nhiều thời lượng, tần suất tuyên truyền về biển, đảo; phản ánh khách quan, chân thực, sinh động tình hình biển, đảo và hoạt động phát triển kinh tế, quản lý, bảo vệ chủ quyền biển đảo của quân và dân ta; khẳng định tiếng nói quan trọng, tác động lớn đến nhận thức, trách nhiệm, tư tưởng, tình cảm của nhân dân; kịp thời định hướng dư luận xã hội; khơi dậy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, cổ vũ, động viên đồng chí, đồng bào cả nước cùng hướng về biển, đảo thân yêu của Tổ quốc.

Điểm mới là từ năm 2017 đến nay Cục đã phối hợp với Cục Chính trị Hải quân đăng ký các đoàn công tác của Thủ trưởng Cục Kỹ thuật đi thăm, động viên quân dân huyện đảo Trường Sa, DK1 với Đoàn công tác địa phương TTBĐ để các đại biểu được chứng kiến, cảm nhận sâu sắc sức sống mãnh liệt, tinh thần kiên cường, ý chí quyết tâm của những người ngày đêm canh giữ biển, trời Tổ quốc; có điều kiện làm việc, thăm các đơn vị Cục Kỹ thuật để hiểu sâu sắc về cuộc sống, sinh hoạt, tình hình nhiệm vụ và kết quả phối hợp tuyên truyền biển đảo.

Qua đó, càng thêm tin yêu, tự hào về biển, đảo quê hương; đồng thời tiếp tục tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương những chủ trương, chính sách thiết thực về biển, đảo; trở thành những “đại sứ” tuyên truyền tích cực, tạo sức lan tỏa lớn cho công tác tuyên truyền biển đảo.

Những năm gần đây, thông qua công tác đối ngoại Hải quân về phối hợp đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật tại nước ngoài; công tác nghiệm thu, bàn giao, đóng mới, bảo hành, sửa chữa vũ khí trang bị kỹ thuật của các chuyên gia nước ngoài tại các đơn vị, Cục Kỹ thuật đã tuyên truyền cho bạn bè quốc tế hiểu rõ quan điểm, chủ trương, chính sách nhất quán của Việt Nam; vạch trần âm mưu, thủ đoạn xâm phạm của nước ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các đối tác trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền của các nước và quyết tâm bảo vệ chủ quyền biển, đảo của mình trên cơ sở luật pháp quốc tế; truyền đi thông điệp về đất nước, con người Việt Nam thân thiện, là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Trước yêu cầu xây dựng Quân chủng Hải quân hiện đại, Đảng ủy, chỉ huy Cục Kỹ thuật đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị phối hợp với các địa phương đẩy mạnh tuyên truyền biển đảo kết hợp tuyên truyền thu hút nguồn lực.

Trọng tâm là tuyên truyền khơi dậy niềm vinh dự, tự hào được đóng góp công sức, trí tuệ cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong đoàn viên, thanh niên, học sinh, sinh viên, các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân địa phương, từ đó huy động sự ủng hộ, quan tâm, giúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần góp phần củng cố, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng vật chất, kỹ thuật, trang bị, nâng cao khả năng quản lý, bảo vệ chủ quyền, cải thiện đời sống của bộ đội và nhân dân trên các vùng biển, đảo; nâng cao chất lượng tuyển sinh, đào tạo nguồn cán bộ và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ trong quân chủng.

Thời gian tới, tình hình Biển Đông dự báo vẫn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xung đột, mất ổn định. Nước ngoài gia tăng các hoạt động tổ chức khảo sát, thăm dò dầu khí; tôn tạo, xây dựng, mở rộng các đảo chiếm đóng trái phép ở Trường Sa; quyết liệt ngăn cản hoạt động thăm dò khai thác dầu khí, đánh bắt hải sản của nhân dân ta; chia rẽ, phân hóa các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông; tuyên truyền đánh lạc hướng dư luận trong nước và quốc tế về bản chất những diễn biến trên biển.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục đẩy mạnh chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng vấn đề biển, đảo chống phá nước ta ngày càng tinh vi, làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoài nghi, dễ bị lôi kéo, kích động.

Trước tình hình trên, Thường vụ Đảng ủy, Chỉ huy Cục Kỹ thuật Hải quân xác định thực hiện một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp tuyên truyền biển, đảo, cụ thể như sau:

Một là, quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, định hướng của Đảng ủy Quân chủng Hải quân, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông về công tác phối hợp tuyên truyền biển đảo.

Hai là, giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, nhận thức, trách nhiệm, kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ báo cáo viên làm công tác tuyên truyền biển đảo của Cục Kỹ thuật và các địa phương phối hợp.

Ba là, tích cực nghiên cứu đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức, phương pháp phối hợp tuyên truyền biển đảo.

Bốn là, đầu tư nguồn lực có trọng tâm, trọng điểm cho công tác phối hợp tuyên truyền biển đảo.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong công tác phối hợp tuyên truyền biển đảo.

TS. Bùi Hải Dương - Trường Chính trị Cần Thơ:
Thực hiện chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Việt Nam là quốc gia ven biển, có bờ biển dài trên 3.260km ở cả 3 hướng Đông, Nam và Tây Nam. Biển nước ta được xác định theo 5 vùng: nội thủy; lãnh hải; tiếp giáp lãnh hải; đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Đặc biệt, với hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ và 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 thì nước Việt Nam có vùng biển rộng trên 1 triệu km2, chiếm khoảng 29% diện tích Biển Đông, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền.

Biển và đảo hiện nay được xem như là “không gian sinh tồn” của nhân loại. Từ rất sớm Đảng, Nhà nước ta có nhiều quan điểm thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề biển, đảo.

Vào ngày 23-6-1994, Quốc hội đã phê chuẩn Công ước của Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982. Đây là căn cứ pháp lý - chính trị quan trọng. Nhà nước ta đã cụ thể hóa cơ sở pháp lý của Luật Biển, tạo hành lang pháp lý vững chắc trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng.

Ngày18-12-2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 161/2003/NĐ-CP về Quy chế khu vực biên giới biển, quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoài trong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển, duy trì an ninh trật tự, an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển.

Ngày 21-6-2012, tại Kỳ họp lần thứ 3, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XIII) đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Luật Biển Việt Nam gồm 7 chương, 55 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013; Luật tài nguyên môi trường biển và hải đảo (2015) và nhiều Luật chuyên ngành khác có nội dung liên quan đến biển, đảo.

Đặc biệt đến Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 09/02/2007, “Về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, xác định: “Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn”.

Hơn 10 năm thực hiện chiến lược này, sau khi tổng kết những thành tựu, hạn chế và bài học kinh nghiệm, Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, nhất trí ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đã đề ra những quan điểm, định hướng, giải pháp mới trong thời gian tới.

Vị trí, vai trò của biển, đảo được xác định đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai.

Thứ nhất, biển, đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển từ ngàn đời của dân tộc ta. Qua những cứ liệu lịch sử đã minh chứng Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng biển, đảo nói chung và đặc biệt quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Chúng ta làm chủ thực sự, ít nhất từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào, chúng ta đã làm chủ trên thực tế. Chính vì vậy, việc bảo vệ biển, đảo là trách nhiệm, nghĩa vụ của Đảng, Nhà nước và mọi công dân Việt Nam.

Thứ hai, Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á. Đây là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới. Mỗi ngày có khoảng 150 - 200 tàu các loại qua lại Biển Đông. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua Biển Đông. Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở trung tâm Biển Đông. Như vậy, đây là tuyến đường thông thương quan trọng giúp hàng hóa Việt Nam có thể thuận lợi vươn ra thế giới cũng như hàng hóa thế giới có thể đến với Việt Nam.

Thứ ba, biển, đảo nước ta là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước. Hiện nay có trên 30% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển, thu hút hơn 10 triệu lao động, giải quyết việc làm, góp phần vào ổn định tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và quốc phòng, an ninh. Do vị thế trên vùng biển Việt Nam có điều kiện vô cùng thuận lợi nên còn thể hiện ở giá trị sử dụng của không gian biển. Không gian mặt nước và các bãi bồi ven biển cũng rất thuận lợi để nuôi trồng hải sản, đặc biệt là các hải sản có giá trị kinh tế cao.

Cụ thể: Nơi đây được xác định là một trong năm bồn trũng chứa dầu khí lớn nhất thế giới, trữ lượng dầu khí ngoài khơi Việt Nam ước tính chiếm 25% trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông, có thể khai thác từ 30 đến 40 ngàn thùng/ngày (mỗi thùng 159 lít) khoảng 20 triệu tấn/năm, trữ lượng dầu dự báo của toàn thềm lục địa Việt Nam khoảng 10 tỷ tấn dầu quy đổi.

Bên cạnh đó, biển còn chứa đựng lượng lớn tài nguyên khí đốt đóng băng (băng cháy), trữ lượng loại tài nguyên này trên thế giới ngang bằng với trữ lượng dầu khí và đang được coi là nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai, trữ lượng khí đốt khoảng 3 nghìn tỉ m3/năm...

Ngoài ra, ven biển Việt Nam còn chứa đựng tiềm năng to lớn về quặng sa khoáng như than, zircon, thiếc, vàng, đất hiếm, cát nặng, cát đen là nguồn tài nguyên quý giá; muối ăn chứa trong nước biển bình quân 3.500gr/m3.

Biển Việt Nam có lượng hải sản dồi dào, với trên 2.040 loài cá, gồm nhiều bộ, họ khác nhau, trong đó có 100 loài cá có giá trị kinh tế cao; trên 600 loài rong biển là nguồn thức ăn có dinh dưỡng cao, nguồn dược liệu phong phú. Nếu có chính sách khai thác và sử dụng hợp lý sẽ góp phần lớn vào nền kinh tế nước nhà.

Biển, đảo nước ta chạy dọc từ Bắc tới Nam theo chiều dài đất nước, với thế mạnh bờ biển dài có nhiều bãi cát, vùng vịnh, hang động tự nhiên đẹp là tiềm năng du lịch lớn của nước ta. Cụ thể có khoảng 125 bãi biển lớn và nhỏ, trong đó có khoảng 20 bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế để phát triển các loại hình du lịch biển.

Vùng biển Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều khu vực ấm áp quanh năm, rất thuận lợi cho khách du lịch từ nhiều quốc gia, đặc biệt từ các quốc gia có mùa đông lạnh tới nghỉ dưỡng, tắm biển… Theo thống kê,năm 2017 trong tổng số khách đến tham quan, du lịch tại nước ta thì du lịch biển, đảo chiếm từ 60 triệu lượt người.

Biển, đảo Việt Nam có tiềm năng cho ngành kinh tế dịch vụ trên biển đóng tàu, sửa chữa tàu, tìm kiếm cứu hộ, thông tin, dẫn dắt… Với vị thế biển, đảo Việt Nam rất thuận lợi cho việc đặt các trạm thông tin, xây dựng các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu thuyền... phục vụ cho tuyến đường hàng hải trên Biển Đông.

Thứ tư, về an ninh, quốc phòng, Biển Đông đóng vai trò quan trọng là tuyến phòng thủ hướng đông của đất nước. Các đảo và quần đảo trên Biển Đông, đặc biệt là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ có ý nghĩa trong việc kiểm soát các tuyến đường biển qua lại Biển Đông mà còn có ý nghĩa phòng thủ chiến lược quan trọng đối với Việt Nam.

Biển, đảo nước ta là không gian chiến lược đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng, an ninh của đất nước, hình thành nên tuyến phòng thủ nhiều tầng, nhiều lớp, những điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, đồng thời là lá chắn vững chắc từ hướng biển, tạo thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu vực.

Từ vị trí quan trọng của biển, đảo, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng các thế trận quốc phòng toàn dân trên các vùng biển, đảo.

Ngày nay, với xu thế gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là nguồn tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ dần bị cạn kiệt, sự tồn tại và phát triển của con người đang hướng về đại dương.

Vì vậy, vị trí, vai trò của biển càng trở nên quan trọng, việc tranh chấp, xác nhận chủ quyền biển, đầu tư phát triển kinh tế biển, củng cố quốc phòng, an ninh trên biển đang trở thành vấn đề nóng bỏng và có tính cấp bách cho các quốc gia có biển. Là quốc gia có biển, đó là một lợi thế lớn, chúng ta cần tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, tăng cường hơn nữa phát triển kinh tế biển với chiến lược toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển trong khu vực, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế.

Xuất phát từ vị trí, vai trò của biển, đảo đối với quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đánh giá thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, cơ hội, thách thức, Đảng đã đề ra những mục tiêu, giải pháp chỉ đạo công tác này trong thời gian tới.

Quan điểm nhất quán: “Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hoà bình, ổn định cho phát triển. Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam”.

Để thực hiện tốt quan điểm này, những giải pháp cụ thể tới đây như sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển, đảo và chiến lược phát triển bền vững biển Việt Nam, nhằm tạo đồng thuận trong toàn xã hội,đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế. Vì vậy, cần đa dạng hoá các hình thức, nội dung tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước không ngừng hoàn thiện thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về phát triển bền vững kinh tế biển, đảotheo hướng phát triển bền vững, bảo đảm tính khả thi, đồng bộ, thống nhất, phù hợp với chuẩn mực luật pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia. Tạo hành lang pháp lý thuận lợi để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư xây dựng hạ tầng, phát triển khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực và chuyển giao tri thức về biển. Đồng thời, kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển từ Trung ương đến địa phương bảo đảm hiện đại, đồng bộ.

Thứ ba, để có thể khai thác và phát huy những tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo vào quá trình xây dựng đất nước, cần phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển, đảo cần đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển, huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh. Phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường; có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút nhân tài, từng bước hình thành đội ngũ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đạt trình độ quốc tế, có chuyên môn sâu về biển, đảo.

Thứ tư, do biển, đảo Việt Nam có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh nên cần tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển và động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển. Hoàn thiện tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vùng biển, đảo. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá; chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

Đại biểu chụp hình lưu niệm tại hội thảo

 Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Khánh Hòa:

Tỉnh đoàn Khánh Hòa, là một trong những tổ chức chính trị, xã hội có nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa hướng về biển đảo, hướng về Trường Sa, từ năm 2013 đến nay đã tổ chức Ngày hội “Tuổi trẻ Khánh Hòa hành động vì biển, đảo quê hương”, hàng năm hỗ trợ ngư dân trị giá hàng trăm triệu đồng.

Song song với các hình thức tuyên truyền, các hoạt động văn hóa, văn nghệ, triễn lãm với chủ đề về biển, đảo trên địa bàn tỉnh được thực hiện với nhiều hình thức đa dạng, phong phú tạo sức lan tỏa trong các tầng lớp nhân dân và du khách như tổ chức Năm Du lịch Quốc gia 2019, Festival Biển Nha Trang - Khánh Hòa (2 năm/1 lần), Tuần lễ biển và hải đảo Việt Nam;triển lãm bản đồ cổ khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa; tổ chức Cầu truyền hình để lãnh đạo tỉnh chúc Tết cán bộ, chiến sỹ và nhân dân đang công tác và sinh sống tại huyện đảo Trường Sa; tổ chức các đoàn cán bộ đi thăm và làm việc tại các điểm đảo ở Trường Sa, nhà giàn DK1, nhằm động viên tinh thần cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân vượt qua khó khăn, yên tâm, vững vàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Các cơ quan báo chí của tỉnh như Báo Khánh Hòa, Đài Phát thanh - Truyền hình Khánh Hòa và Cổng Thông tin điện tử của tỉnh, Trang Thông tin điện tử của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, các sở, ngànhđều có chuyên trang, chuyên mục tuyên truyền về biển đảo:“Trường Sa thân yêu”,“Vì chủ quyền an ninh biên giới”, đăng tải hàng trăm tin, bài, ảnh về biển, đảo, về Hoàng Sa và Trường Sa... thường xuyên cập nhật hình ảnh, tư liệu, tin tức hoạt động về củng cố cơ sở chính trị, tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên quần đảo Trường Sa”.


 
 

Thứ Bảy, 19 tháng 10, 2019

“Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê”

“Báo chí và truyền thông về xây dựng gia đình văn hóa” là đề tài rất cơ bản, quan trọng, đã được nhiều nhà chuyên môn đào xới. Trong phạm vi Tọa đàm hôm nay, 15-10-2019 tại Sở VH-TT-DL Cần Thơ, chúng tôi xin đề cập tới “cái Tôi đáng ghét” - một trong những nguyên nhân gây ra sự rạn vỡ của gia đình; đồng thời “cái Tôi đáng ghét” có thể cản trở hiệu quả báo chí, truyền thông về đề tài xây dựng gia đình văn hóa...

Huỳnh Kim



Mở đầu, mời quí vị đại biểu dự tọa đàm nghe ý kiến trên Facebook của một bạn nữ trẻ về quan niệm ứng xử của mình liên quan tới tình yêu :


Bạn ấy khẳng định, đa phần người nữ thời nay chẳng thể nào yêu thương được một bạn nam nghèo khó, thiếu tiền! Clip này do một đồng nghiệp trẻ vừa chia sẻ với tôi.
***

“Cái Tôi là cái đáng ghét”

Quí vị thấy ý kiến của bạn trẻ này như thế nào? Khi tôi chia sẻ tiếp ý kiến này cho một số bạn, thì có khoảng 90% bạn trẻ đồng tình, còn khoảng 90% bạn trung niên và già thì nói, “không phải ai cũng thực dụng và chủ quan như vậy, vì còn có tình thương và đạo lí”.

Như vậy thì vì sao trong cuộc sống ngày nay, chuyện li thân, li dị, chuyện người thân trong gia đình, bạn bè chia rẽ nhau… lại xảy ra nhiều hơn so với xã hội ngày xưa?

Câu hỏi này được nhiều chuyên gia trả lời dễ hiểu: “Cuộc sống càng phát triển thì cái Tôi của mỗi người càng lớn ra. Mà cái Tôi là cái đáng ghét”.

Cụ thể là ở ngay trong phạm vi gia đình, cũng như trong các ứng xử ngoài xã hội, cái Tôi ấy thường phình to ra theo đà phát triển của xã hội thị trường. Cái Tôi ấy càng đáng ghét hơn khi nó được tung hoành trong môi trường mạng xã hội ngày càng phát triển.

Mạng xã hội đang giúp cho mọi người trên thế giới có thể kết nối với nhau dễ dàng để chia sẻ bao điều trong cuộc sống và nâng cao hiểu biết từng giờ, từng ngày. Và đây cũng là mảnh đất mà Cái Tôi Đáng Ghét trong con người tha hồ nẩy nở, nếu không biết làm chủ mình. Trên Facebook chẳng hạn, trước bất kì thông tin gì, ta thường thấy xuất hiện ngay nhiều lời nhận xét, bình luận… chủ quan, suy diễn. Cốt để cho thiên hạ biết mình đang tồn tại. Cốt để thỏa mãn cái Tôi của mình.

Khi đó, dường như không ai còn nhớ Cái Tôi Là Cái Đáng Ghét cả.

Trong bữa cơm gia đình bây giờ, nhất là ở thành thị, nhiều nơi không còn là bữa cơm có đủ thành viên trong nhà, vì công việc hoặc vì nhiều lí do khác của từng người, chi phối.

Cơm nước xong, lại dễ thấy cảnh, mạnh ai nấy sống, nhất là những người trẻ, thu mình trong phòng riêng với cái điện thoại thông minh, để “chơi với cả thế giới”.
Hiếm khi thấy cả nhà quây quần bên nhau, ông bà cha mẹ con cái cháu chắt nói chuyện với nhau, chơi đùa với nhau, chia sẻ với nhau những chuyện riêng tư, đạo lí… như ngày xưa.

Ngay trong quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ, tôi thấy có gia đình, mà những dịp lễ tết con cháu lại không chịu về quê thăm ông bà cha mẹ của mình, chỉ vì… công việc riêng! Có nhà, tới bữa, phải gọi điện thoại cho con cháu ở trên lầu xuống nhà dưới ăn cơm!

Tôi vẫn tự hỏi, có phải sự cô lập của mỗi cá nhân trong gia đình - sự tự ngăn cách yêu thương và chia sẻ - là cội nguồn của cái ác, sự dã man, vô nhân tính, thờ ơ, ích kỷ của con người mà chúng ta thường chứng kiến trên mặt báo, trong cuộc sống hôm nay?

Trong cuộc sống bây giờ, đôi khi, chỉ vì tranh chấp một thước đất, một cái chái nhà… mà bà con ruột thịt trong gia đình ngày nào còn thương yêu gắn bó với nhau, giờ thành chia rẽ, không nhìn mặt nhau! Câu chuyện người anh chém chết 4 người trong gia đình người em ở Đan Phượng, Hà Nội hồi tháng trước, là một thí dụ.

Hậu quả của việc phô diễn cái Tôi, nhiều khi dẫn đến những rạn nứt trong gia đình, xã hội, thậm chí gây tội ác. Chẳng hạn, xuất phát từ sự công kích lẫn nhau trên thế giới ảo, hay nói cách khác, thể hiện cái Tôi trong thế giới ảo, có khi lại dẫn đến những cuộc hẹn gặp nhau để giải quyết ở… ngoài đời thực và dẫn đến những cuộc đâm chém nhau!

Ở Cần Thơ, tôi cũng từng chứng kiến lí do li dị của một cặp vợ chồng trẻ sống chung nhà, chung phòng. Vì nhiều lẽ, trong đó có chuyện anh chồng “không quan tâm chăm sóc vợ”; tới ngày sinh nhựt của vợ anh không thích nhắn tin chúc mừng, trong khi cô vợ thì rất thích chăm chút việc này!

Trong những trường hợp đó, cái Tôi đáng ghét lớn tới nỗi, đã dẫn đến đổ vỡ tất cả.

Đây rốt cuộc là ranh giới của ích kỉvị tha trong thái độ ứng xử trong cuộc sống. Mặc dù, bình tâm nghĩ lại, ta sẽ thấy, mỗi người có một cái “đồng hồ sinh học” khác nhau. Tôi thích mặc áo màu xanh còn bạn thích mặc áo đỏ; tôi không thích nhậu hoặc không nhậu được như bạn... Vậy thì, nếu hiểu đúng về cái “đồng hồ sinh học” khác nhau này thì xin bạn đừng có chê tôi, ép tôi phải ăn mặc hoặc nhậu nhẹt theo ý bạn. Trong ứng xử gia đình, nhứt là giữa vợ chồng với nhau, đây là những chuyện ta thường dễ bỏ qua, nhưng nó lại hết sức cần được quan tâm để ý để chăm sóc cho nhau. Để gia đình không bị đổ vỡ chỉ vì cái Tôi đã phình to đáng ghét!

Mà với văn hóa Á Đông và văn hóa Việt Nam, gia đình là cái tổ ấm. Gia đình bể thì thường dẫn tới đổ bể bao điều khác.

Cái Tôi đáng ghét ấy không đem lại bình an cho chính mình và cũng không tạo ra tình thương cho nhau.


Vậy thì vì sao cái Tôi lại có thể là cái đáng ghét?

Trong một bài đăng báo Người Lao Động năm 2017, PGS.TS Nguyễn Hữu Đức ở ĐH Quốc gia Hà Nội,cho biết trong ca khúc xuân nổi tiếng Happy New Year của nhóm nhạc Thụy Điển ABBA sáng tác năm 1980, thứ tự của 2 đại từ YouI làm cho ông thắc mắc: Sao không viết "I and You" (Tôi và Anh) mà lại là "You and I" (Anh và Tôi)?

Rồi ông tự hỏi: Vì sao ở hai nước Anh và Pháp, với nền giáo dục tôn trọng và phát huy năng lực cá nhân, nhưng khi nói và viết họ luôn đặt đại từ "tôi" đứng sau người khác, trong khi giáo dục nước ta hướng đến việc tôn trọng tập thể, nhưng ta thường diễn đạt "tôi" đứng trước?

Theo TS Đức, con người từ khi ra đời, đã tồn tại cái tôi. Sống trên đời, thế nào cũng có lúc ta đặt ra câu hỏi: "Cái tôi là gì?". Cái tôi còn được gọi bằng nhiều tên khác: cái ta, ngã, tự ngã, bản ngã… Cái tôi được hình thành ngay từ khi con người sinh ra và qua tiếp xúc với thế giới bên ngoài, cái tôi dần học cách cư xử sao cho kiểm soát được những ham muốn vô thức không được xã hội chấp nhận. Cái tôi là sự tin tưởng mạnh mẽ rằng bạn là một cá nhân riêng lẻ.

Cái tôi có vai trò trung gian hòa giải giữa những ham muốn vô thức và những tiêu chuẩn nhân cách và xã hội. Nhưng vì sao cái tôi lại có thể là cái đáng ghét? Bởi vì cái tôi dễ theo khuynh hướng tự do của bản năng, thích nổi loạn, bất tuân quy luật trật tự. Vì vậy con người luôn phải canh chừng cái tôi, để uốn nắn, điều chỉnh, hướng dẫn nó khỏi đi chệch đường, xây dựng và phát triển một nhân cách trưởng thành.

Ông Thalès de Milet (624 – 545 TCN), triết gia Hy Lạp cổ, cho rằng: "Công việc khó khăn nhất là nhận biết chính mình". Bởi vì chính những cái gần ta nhất lại là cái khó thấy nhất, như lông mày, lông mi ở trước mắt ta… Cũng vậy, khó nhận biết vì cái tôi có quá nhiều lớp vỏ bao bọc: nghề nghiệp, chức quyền, tiền tài, của cải, nhất là ảo tưởng về chính mình… và nó còn được nuôi dưỡng bằng tự ái, tự mãn, mặc cảm…

Còn triết gia người Pháp Blaise Pascal (1623 – 1662), thì nói thẳng: "Cái tôi là cái đáng ghét". Bởi vì, do tự ái và tưởng tượng, người ta thường cho mình là "cái rốn của vũ trụ". Vì vậy, cuộc đời của nhiều người chỉ là một ảo tưởng liên tục; vì ảo tưởng, người ta lừa dối nhau và tâng bốc nhau. Cũng vì cái tôi, người ta ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình và muốn người khác làm nô lệ cho mình. Mỗi người, vì thế, là kẻ thù và là bạo chúa của những người khác.

Từ những dẫn chứng trên, TS Nguyễn Hữu Đức khẳng định: “Sai lầm nếu cho rằng cái tôi là cái gì trường tồn, bất biến, cốt tủy, vững chắc, tồn tại trong sự vật mà không phụ thuộc vào cái khác. Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người gây ra biết bao đau khổ bởi vì cái tôi phóng đại quá lớn của mình. Trong cuộc sống của mỗi con người, hắn ta có thể làm hại người và cả hại mình chỉ vì cái tôi không có thật do hắn dựng nên”.

Quả thật, "Cái Tôi là cái đáng ghét"! Với ý kiến của bạn trẻ mà chúng ta nghe khi mở đầu câu chuyện này, tôi cầu chúc cho bạn ấy lấy được một anh chồng giàu có và hạnh phúc. Nhưng tôi cũng băn khoăn, liệu bạn ấy có giữ được hạnh phúc bền vững hay không, nếu suốt đời bạn ấy vẫn cho là tình bạn, tình yêu dứt khoát phải luôn đồng hành cùng tiền bạc?



Vậy thì báo chí giúp được gì trong truyền thông về xây dựng gia đình văn hóa?

Theo chúng tôi, trước hết, người làm báo phải luôn tự nhắc mình Cái Tôi là cái đáng ghét. Để khi thông tin, tuyên truyền, nhất là trong đề tài mà hội thảo hôm nay bàn đến, anh không phạm sai lầm khi áp đặt những thông tin chủ quan do mình nghĩ ra. Nghĩa là, trước hết, nhà báo phải thực sự khách quan, làm gương và có tấm lòng khi thông tin về việc xây dựng văn hóa gia đình.

Muốn vậy, nhà báo phải hiểu biết căn bản về lãnh vực này.

Trước hết, cần khẳng định: gia đình là tế bào của xã hội. Do vậy, xây dựng văn hóa gia đình phải được coi là cái gốc của việc xây dựng con người và xã hội.

Nếu mọi người cảm nhận được tình cảm thiêng liêng trong gia đình; tin nhau, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn thì sẽ hiểu nhau; sẽ giảm bớt cảnh chia tay mà không chỉ những người trong cuộc chịu đau mà cả những người thân cũng đau không kém.

(Quí vị còn nhớ, trong ca khúc Ba Ngọn Nến Lung Linh của nhạc sĩ Ngọc Lễ, có một điệp khúc tha thiết về tình cảm thiêng liêng này: “Lung linh lung linh cùng một mái nhà. Lung linh lung linh cùng buồn cùng vui. Lung linh lung linh hai tiếng gia đình”).

Riêng lãnh vực hôn nhân thì càng là vấn đề hết sức quan trọng đối với từng cá nhân, từng gia đình và cả xã hội. Nhưng trong thực tế, khi lập gia đình, có nhiều bạn trẻ, do chủ quan và chưa được trang bị những kiến thức nền tảng từ giáo dục phổ thông, nên đã phạm nhiều sai lầm: ham vui, ham chơi, không dành thời gian nhiều cho gia đình; không có nhận thức xây dựng sự nghiệp bản thân để ổn định tài chính lo cho gia đình đầy đủ và do vậy, cũng không tạo được cho con cái của mình những ký ức thật sự tươi đẹp về cuôc sống gia đình.


Ở Cần Thơ cũng như ở bất kì nơi nào trong nước ta, không ai khác mà chính những thành viên trong gia đình (trong đó có ông bà, cha mẹ đóng vai trò quan trọng) là chủ thể trong việc hình thành văn hóa gia đình. Ở đó, dù xã hội có phát triển tới đâu đi nữa thì tình thương yêu vẫn luôn là cái gốc trên nền tảng ứng xử nhân, lễ, nghĩa, trí, tín của việc xây dựng văn hóa gia đình.

Trong việc ứng xử này, mỗi thành viên trong gia đình phải luôn cố gắng nhớ rằng, cái Tôi là cái đáng ghét!

Giữ gìn, vun đắp cái gốc này song hành với việc chăm lo cho kinh tế - giáo dục… phát triển mỗi ngày thì khó có gia đình nào có thể bị đổ bể hạnh phúc giữa đường.

Gia đình tốt thì cộng đồng tốt, xã hội tốt. Đồng thời, cộng đồng tốt, chính quyền tốt, xã hội tốt thì gia đình càng hạnh phúc, văn minh.

Ngoài ra, văn hóa gia đình còn phụ thuộc vào hàng loạt vấn đề khác về thiết chế xã hội, luật pháp, lịch sử, truyền thống, giáo dục, cơ sở vật chất… liên quan tới đời sống hằng ngày của mỗi người.

Những điều căn bản này là hành trang giúp nhà báo tác nghiệp hiệu quả trong lĩnh vực truyền thông về xây dựng gia đình văn hóa.

Từ đây, nhà báo và các cơ quan báo chí (gồm cả báo giấy, báo điện tử, báo hình, báo nói…), tùy theo tôn chỉ mục đích của mình, cần phối hợp thật tốt với các ngành chức năng, nhứt là ngành văn hóa, thông tin, để có kế hoạch thông tin, truyền thông cụ thể, bổ ích.

Theo đó, các cơ quan báo chí cần có nhiều chuyên mục với hình thức và nội dung hấp hẫn phù hợp với thực tiễn cuộc sống gia đình. Trong đó cần gia tăng phê phán tính tham lam, thói hư tật xấu, những điều lệch chuẩn trong gia đình, ngoài xã hội, nhứt là khi nó đã lan tràn trên mạng xã hội – mà phần lớn đều phát sinh từ cái tôi ích kỉ, cái tôi đáng ghét như đã nói ở trên.

Đồng thời, và quan trọng hơn, cần thông tin, truyền thông nhiều hơn, thường xuyên hơn về những điều tốt đẹp liên quan tới việc ứng xử trong xây dựng văn hóa gia đình. Bởi vì, những điều tốt đẹp vẫn đang diễn ra hàng giờ, hàng ngày trong mỗi người, mỗi gia đình và mỗi cộng đồng trong cuộc sống của chúng ta.

Riêng với hôn nhân - gia đình, thông tin báo chí là kênh truyền thông hữu hiệu giúp nâng cao dân trí trong lãnh vực này. Thí dụ có thể làm diễn đàn, thảo luận về những điều kiện cần thiết, những kiến thức cần biết, những khó khăn phải đối phó, những cạm bẫy cần tránh... (Ở Mỹ, học sinh cấp 2 đã được học kỹ về giáo dục giới tính, trong đó có việc sử dụng bao cao su để ngừa thai). Những việc này nhằm giúp cho mọi người, nhất là các bạn trẻ, khi bước vào hôn nhân là đã đủ trưởng thành, đủ bản lĩnh cùng nhau xây dựng một gia đình êm ấm. Và cũng từ đây, có thể để lại cho con cái mình những kỷ niệm tươi đẹp về những ngày sống chung dưới mái nhà với ông bà, cha mẹ, anh chị em…

Thí dụ như với trường hợp về quan niệm sống của bạn nữ trên clip mở đầu câu chuyện hôm nay - đó có thể là một mục diễn đàn của một cơ quan báo chí nào đó. Theo tôi, đây là điều bổ ích về mặt truyền thông trong tình hình mạng xã hội đang phát triển nóng.

Thông tin như là thực phẩm hằng ngày không thể thiếu với mỗi người. Thông tin tốt tạo nên con người tốt, gia đình tốt, cuộc sống tốt.

Báo chí là một kênh quan trọng trong thông tin, truyền thông về xây dựng gia đình văn hóa./.




Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2019

Bác sĩ Việt - Nhật trao đổi kiến thức và thực hành về an toàn sản - nhi


Hội nghị khoa học thường niên của Bệnh viện quốc tế Phương Châu mở rộng (ACP) được tổ chức tại Cần Thơ vào sáng nay, 29-9, với chủ đề “Cấp cứu sản khoa và sơ sinh”.

Theo bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hồ, Tổng Giám đốc Bệnh viện quốc tế Phương Châu, ACP năm nay đặc biệt tập trung cập nhật kiến thức và thực hành về an toàn sản - nhi theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Chủ đề này được trình bày bởi các giáo sư đến từ Tập đoàn Y tế Kishokai (Nhật Bản), đơn vị đang ký kết hợp tác toàn diện với Bệnh viện quốc tế Phương Châu vì Nhật Bản hiện là nước có tỷ lệ sinh non và tử vong chu sinh thấp nhất thế giới.

Tại hội nghị ACP của Bệnh viện quốc tế Phương Châu sáng ngày 29-9-2019. Ảnh: Huỳnh Kim

Có hơn 1.000 đại biểu tham dự ACP 2019 tại 6 phiên làm việc với 37 báo cáo của nhiều bác sĩ và chuyên gia hàng đầu trong và ngoài nước về các lĩnh vực sản- phụ khoa, hiếm muộn, nhi- sơ sinh, đa khoa, nam khoa, quản lý chất lượng, điều dưỡng…

Báo cáo viên tham gia ACP năm nay, có GS.BS Masahiro Hayakawa (Đại học Nagoya, Nhật Bản); TS.BS Mitsui Takashi, NHS. Hiroko Hatanaka và BS Takashi Ichikawa (Tập đoàn Y tế Kishokai, Nhật Bản); BS Karim Mohammad Zakirul  (Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc, Ấn Độ); BS Võ Hồng Thanh (Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế); BS Nguyễn Bá Mỹ Nhi (Bệnh viện Từ Dũ); PGS.TS Dương Văn Hải (Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM); PGS.TS Phạm Văn Năng (Bệnh viện Đại học Y dược Cần Thơ); PGS.TS BS Võ Minh Tuấn, TS Bùi Chí Thương và TS Trần Thụy Khánh Linh (Đại học Y dược TPHCM); TS Lý Quốc Trung (Sở Y tế Sóc Trăng); BS Mai Bá Tiến Dũng (Bệnh viện Bình Dân); BS Nguyễn Duy Linh (Bệnh viện quốc tế Phương Châu).

·        Đã đăng TBKTSG Online 29-9-2019:

Thứ Bảy, 14 tháng 9, 2019

Đại học Nam Cần Thơ: Mô hình doanh nghiệp trong trường học

Huỳnh Kim
Thứ Ba,  10/9/2019, 14:20

(TBKTSG Online) – Trường đại học tư thục Nam Cần Thơ (DNC) đã đầu tư hơn 2.000 tỉ đồng cho công tác xây dựng và phát triển nhà trường theo mô hình doanh nghiệp trong trường học.

Trường Đại học Nam Cần Thơ khai giảng năm học 2019-2020 vào sáng ngày 10-9. Ảnh: Huỳnh Kim

Tại buổi lễ khai giảng năm học mới 2019-2020 vào sáng ngày 10-9, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ đã nhấn mạnh định hướng nói trên khi trao đổi với báo giới.

Giải thích về mô hình doanh nghiệp trong trường học, GS Xuân cho biết nhà trường đã và đang phối hợp với Tập đoàn Nam miền Nam, Công ty TNHH MTV Bệnh viện Đa khoa Nam Cần Thơ và Công ty TNHH một thành viên Thương mại Nam Cần Thơ DNC sản xuất, kinh doanh và đào tạo kiến thức thực hành cho sinh viên ở tất cả các khối ngành của trường. Đây cũng là 3 doanh nghiệp trực thuộc nhà trường.

Ngoài ra, theo GS Xuân, nhà trường còn liên kết với nhiều doanh nghiệp khác như Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, Bệnh viện Quân y 121, Công ty Dược Hậu Giang, Ngân hàng HDBank, Misa, FPT, Trung tâm Dịch vụ việc làm thành phố Cần Thơ… trong đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm cho sinh viên từ năm thứ nhất đến khi tốt nghiệp. Để khi ra trường sinh viên thực sự quen thuộc với môi trường làm việc của doanh nghiệp, đồng thời có thể tham gia làm việc như một nhân viên chính thức sau khi tốt nghiệp.

GS Xuân cho biết, năm ngoái, vào ngày 6-7, nhân lễ khánh thành xưởng cơ khí ô tô, trường đã ký kết hợp tác chiến lược với hai doanh nghiệp là Tata International và Isuzu An Khánh nhằm giúp sinh viên thực tập và có cơ hội tuyển dụng việc làm tại các đơn vị này. Tiếp đó, ngày 21-8, tại Hà Nội, DNC và Tập đoàn Vingroup đã ký hợp tác chiến lược trong giáo dục.

Theo đó, Vingroup và DNC sẽ hợp tác tài trợ các dự án nghiên cứu khoa học - công nghệ; trao đổi kinh nghiệm giữa các giáo sư, nhà nghiên cứu, sinh viên; giảng dạy và chia sẻ tri thức. Vingroup cũng đặt hàng DNC đào tạo với cam kết sẽ tiếp nhận khoảng 100.000 sinh viên tốt nghiệp ngành công nghệ thông tin trong vòng 10 năm tới.

“Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho phép trường tuyển sinh đại học chính quy đa ngành, một loại hình đào tạo giống như ở Mỹ là mỗi vùng lớn trong tiểu bang đều có một trường đại học cộng đồng có đủ các chương trình đào tạo vừa dài hạn, vừa ngắn hạn, phục vụ nhu cầu phát triển nhân lực dài hạn và cấp tốc của vùng”, GS Võ Tòng Xuân nhấn mạnh.

Đến nay, ngoài các khu giảng dạy, ký túc xá, thư viện điên tử, hồ bơi, các sân tennis, bóng đá, bóng rổ, bóng chuyền, cầu lông, bóng bàn... DNC đã đầu tư xây dựng xưởng cơ khí ô tô, thư quán, khu nghỉ dưỡng cho giảng viên, khối thực hành đa chức năng, Bệnh viện Đại học Nam Cần Thơ 300 giường, Showroom ô tô điện Nam Cần Thơ DNC... với tổng kinh phí đầu tư cho đất đai và xây dựng trên 2.000 tỉ đồng.

Riêng về hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học, GS Võ Tòng Xuân cho biết trường Đại học Nam Cần Thơ đang đẩy mạnh liên kết, hợp tác với Mỹ, Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, Malaysia, Philippines... Nhiều sinh viên nước ngoài cũng đến thực tập tại DNC.

Sau sau hơn 6 năm hoạt động, hiện trường Đại học Nam Cần Thơ đã thu hút trên 12.000 học viên, sinh viên chủ yếu đến từ 13 tỉnh, thành vùng ĐBSCL đang theo học tại 26 chuyên ngành như dược học, y khoa, xét nghiệm y học, kỹ thụât hình ảnh y học, quản lý bệnh viện, kế toán, tài chính – ngân hàng, quản trị kinh doanh, quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, quản trị khách sạn, quản lý nhà hàng và dịch vụ ăn uống, quan hệ công chúng, ngôn ngữ Anh, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên và môi trường, kỹ thuật công trình xây dựng, kiến trúc, kỹ thuật môi trường, bất động sản, công nghệ thông tin, công nghệ kỹ thuật hóa, công nghệ thực phẩm, luật kinh tế, lụât học, ông nghệ kỹ thụât ô tô và kỹ thuật cơ khí động lực. Ngoài ra, trường cũng đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh; liên kết với Đại học Khoa học - Công nghệ Malaysia đào tạo quản trị kinh doanh.

*Đã đăng TBKTSG Online 10-9-2019: