Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Sáu mươi năm… phù du


Sáng tác từ năm 14 tuổi (1966), năm nay tròn tuổi 60, cậu học trò Châu Phú - An Giang năm xưa “nhìn lại mình” bằng một tập thơ 37 bài viết trong vòng ba năm nay, với một thanh âm bàng bạc: phù du. Cũng lạ, đây là chuyện hiếm thấy ở Trịnh Bửu Hoài trong số 48 tác phẩm đã xuất bản của anh gồm thơ và văn xuôi. Bởi bao nhiêu năm rồi, thơ Trịnh Bửu Hoài được nhớ nhiều ở cái cốt nhẹ nhàng tươi thắm những giai điệu tình yêu, quê hương, bằng hữu.




Anh mở đầu tập thơ: Ta sinh vào cõi phù du / Nên mãi đi tìm vĩnh cửu / Một kiếp trần gian chẳng đủ / Chớp mắt đã là trăm năm… Thì ra đời quá mênh mông / Ta tự làm mình bẩn chật / Đứng giữa bao la trời đất / Sống hoài chẳng hết phù du trong bài Phù du - như muốn gởi đi một câu hỏi tìm lời chia sẻ về ý nghĩa cuộc đời.  

Đó là một cuộc sống hiện đại mà Một ngày trôi qua ngỡ như bình lặng (trong bài Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín) nhưng anh lại nhìn thấy Người giàu kẻ mạnh thống trị trên thương trường, chính trường, đạo đức và từ thiện / Người nghèo kẻ yếu đang co ro trong khí hậu, môi trường, tình trường và bất ổn / Có những người đang đi xuôi trong nghịch lý / Có những người đang đi ngược trong đạo lý… để rồi Vẫn cứ đi trong cõi tàn phai / Cho đến khi hóa thành hạt bụi.

Nhưng mà hạt bụi ấy không cầm lòng được, khi gặp một người con gái đồng hương xa xứ: Mưa bay mưa bay rừng rơi nước mắt… Quán trống người che không kín nổi / Ngọn gió hoang mù đêm phương xa / Tay chạm vào tay thêm bối rối / Chợt ấm hồn nhau nỗi nhớ nhà (Gặp đồng hương ở Dầu Tiếng).

Bởi vì phù du không phải là vô nghĩa. Vẫn đọng lại sau những chuyến đi dài xuyên đất nước của anh: Sông thì rộng mà lòng ta nhỏ hẹp… Trăm năm đi chưa hết một dòng đời (Cùng em đi dọc sông Tiền). Hoặc: Qua sông đầy thương cánh lục bình trôi / Bến cũ không còn ai đến tiễn / Lòng ta chín một màu hoa điên điển / Trời như vàng đến tận cõi mênh mông / Ta giấu mình trong sương trắng tàn đông… (Mùa hoa vàng).

Để rồi khép lại “kỉ niệm sáu mươi năm cuộc đời”, Trịnh Bửu Hoài lạc quan viết bài thơ Tinh sương chiều và chọn làm tên cho cả tập - với lòng khát khao trở lại cuộc sống ban đầu: Như dòng sông trôi / Buông mình đi mãi / Bỗng dưng ngoái lại / Đã miệt mài xa / Bóng chiều dần qua / Bầy chim về tổ / Nụ hoa vụt nở / Thèm chút tinh sương…   


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121016/sau-muoi-nam…-phu-du.aspx

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

Khách thương hồ ở lại


Sau Khóc hương cau (truyện ngắn), Công tử Bạc Liêu – sự thật và giai thoại (biên khảo) và Đạo gác cu miệt vườn (bút ký), nhà văn Phan Trung Nghĩa vẫn “cắm sào” ở lại quê nhà Bạc Liêu để cho ra mắt tiếp tập truyện ký Khách thương hồ (NXB Văn hóa - văn nghệ TP.HCM, quí III-2012) với 25 câu chuyện mà ai đang xa xứ miền Tây, lỡ đọc xong rồi, như nghe vọng lên một tiếng gọi thầm: “ôi, quê hương yêu dấu!”.



Lối kể chuyện của Phan Trung Nghĩa chơn chất mà buồn thương; chuyện nào cũng gợi nhớ hình ảnh quê nhà sông nước với bao thế hệ nông dân mang dòng máu “trọng nghĩa, khinh tài” của cha ông đi khai phá đất phương Nam. Như là chính tác giả bộc bạch trong Mùa rẹm hội: “Tôi có trọn vẹn một tuổi thơ là nông dân. Con rẹm, con cá, ngọn rau… ở vùng đồng chua nước mặn đã nuôi tôi nên vóc nên hình. Thế nên tôi quý yêu, kính trọng cái vùng đất Nam bộ giàu sản vật nức tiếng của ngày xưa”.
Là nhà báo, anh lang bạt khắp đồng bằng sông Cửu Long và kể lại những “câu chuyện quê mùa” bằng tâm hồn của một nhà văn. Tỉ như: “Trên dòng sông Bạc Liêu, trăng tháng Mười bàng bạc, từng đoàn ghe xuồng nối đuôi nhau kéo về. Tiếng quẫy nước, tiếng khua chèo, tiếng hát hò hòa lẫn với tiếng những con vạc ăn đêm đánh thức những dòng sông lạnh vắng. Tiếng hò của ai đó cất lên: “Đạo nào vui bằng đạo đi buôn / Xuống bể lên nguồn gạo chợ nước sông”… Khách thương hồ cứ theo dòng nước lũ của sông Tiền qua sông Hậu, rồi xuống Ngã Năm, Ngã Bảy để vào Bãy Xàu, Cổ Cò mà về Bạc Liêu, Cà Mau… Những vùng đất miệt Hậu Giang nổi tiếng phèn chua nước mặn với câu ca: “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn / Xuống bưng sợ đỉa lên rừng sợ ma” với những xóm nhà thưa thớt, đìu hiu, bỗng trở nên đông vui, nhộn nhịp” (Khách thương hồ).

Hay như trong Gió chướng lại về, sau khi da diết nhớ những sản vật mà mùa gió chướng đem về cho nông dân nghèo mỗi năm, Phan Trung Nghĩa kết thúc câu chuyện: “Tôi ao ước có tiền, tôi sẽ làm một gian trưng bày những dụng cụ nhà nông như cây cày, cây trục, cái ách trâu, cái vòng gặt, cây cù nèo, cây phảng… Phía sau nhà tôi chất một đống rơm và sau nữa là một ruộng lúa nhỏ được cấy những giống lúa mùa muộn… để tôi tặng bạn bè đi xa của tôi cái không gian của ký ức, tặng những người trẻ tuổi một điều mà họ chưa từng trông thấy, là: Ngày xưa, ông bà cha mẹ ta đi khai hoang lập ấp, làm ra hạt lúa khó khăn đến chảy máu mắt! Họ sống một cuộc sống vô cùng vất vả! Và niềm mơ ước nhỏ nhoi, đơn sơ của họ là mong chờ những mùa gió chướng hằng năm lại về”.

Những câu chuyện của anh, cứ vậy, dễ chạm vào nỗi niềm xa xứ của con người. Ta như muốn làm khách thương hồ lang bạt nhưng vẫn ham cắm sào đậu lại để nghe ai kể tiếp những chuyện: vườn xưa, mắm đồng một thuở, miền chim hát, cá kèo nổi như mù u rụng, tết quê, anh đi giăng câu, mùa tát đìa, nếp nhà xưa, những mùa lúa đã xa, tản mạn về ba khía, chái bếp nhà quê, chòm nhà giữa ruộng…

* Mời đọc thêm tại Báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121009/khach-thuong-ho-o-lai.aspx

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Thời gian của Lê Chí trôi như dòng sông


Nhà thơ Lê Chí vừa cho ra mắt tập thơ Thời gian, do nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Năm nay đã ngoài bảy mươi với gần chục tập thơ, từ thời kháng chiến, nhà thơ Lê Chí làm Thời gian rất kỹ. Anh đã dành nửa năm trời tuyển chọn hơn trăm bài thơ sáng tác trong vòng hai chục năm qua, gởi bạn bè “nhờ góp ý”. Cuối cùng, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư cùng quê Cà Mau của anh, giúp chọn lại còn 40 bài.



Đặc sánh từng giọt sự thật đầy nỗi niềm của một người đi ra từ chiến tranh và đi vào hòa bình cùng đất nước, Thời gian chầm chậm mà tinh tế và mê mải trôi, như một dòng sông. Ở đó, dù:
Sen vẫn trắng và hồng thuở ấy
Em khuấy dầm tan giấc chiêm bao
  (Nhớ đồng)

Nhưng:
Trái đất đang nóng dần lên
Sông suối nước mình chừng như đã cạn
  (Nhẩm đếm từng ngày)

Và dẫu cho:
Đêm đêm lắng nghe hồn gọi
Con người như có như không
  (Hồn gọi)

Nhà thơ quê hương Đất Mũi vẫn chiêm nghiệm:
Tiếng cười khẽ trong đêm gieo hạt
Kỳ vọng mùa xanh
  (Thời gian)

Trong dòng chảy đó, một đêm, nhà thơ chợt giật mình tự vấn:
Bao nhiêu đêm quấn mình trong phố
Mất hút rừng xưa thoang thoảng ánh đèn
Thuở vượt dốc men theo con đường nhỏ
Quên rất nhiều gương mặt thân quen
  (Tiếng xưa)

Để rồi, khi sông đã gặp biển, dòng thời gian của cuộc hành trình gần trọn một đời người ấy, đọng lại:
Mê mải sóng trùng khơi trắng xóa
Cầm san hô ngỡ đãi ra vàng


Bạc tóc
Tôi tìm tôi trên biển
Bão tố mênh mang trôi dạt phương nào
  (Tự bạch)

Khép lại tập thơ, vẫn còn nhớ ở trang bìa gấp, tác giả Thời gian nhỏ nhẹ đề từ, như là lời nhắn của con sông quê hương:
Những câu thơ
Như dấu chấm trên đường
Mưa nắng
Trở về với đất




* Mời đọc thêm:
http://baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=78&p=0&id=115755
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120925/dong-song-va-thoi-gian.aspx

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2012

Tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư




Nguyễn Ngọc Tư giao lưu tại Hà Nội, 18-9-2012
Từ bản thảo đầu tiên“Muôn dặm ly giang” gởi bạn bè đọc cách nay bốn tháng đến “Ngàn dặm sông” và tuần này chính thức ra mắt với tên “Sông”, tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư - theo như tác giả nói “đã được sửa nhiều, khoảng 50%”.
 
 
 
“Sông” là câu chuyện của một lớp người trẻ hiện đại đi tìm cội nguồn và ý nghĩa tồn tại của mình ngay trên chính quê hương mình. Không hề nhắc tới chủ thuyết nhân sinh nào, nhưng với sức tưởng tượng như phù sa của dòng sông mẹ, tác giả để cho từng nhân vật trôi đi trong một thực tại đầy hư ảo của kiếp người với ám ảnh “tồn tại hay không tồn tại, đó mới là vấn đề”. “Sông” cũng hoàn toàn không “có hậu” như câu chuyện“Cánh đồng bất tận” của mình hồi năm 2005; cũng vì vậy Nguyễn Ngọc Tư nhắn: “Phải chậm rãi đọc”.
 
Tiểu thuyết Sông & tác giả tại Hànội 18.9
 
 
Đây là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư sau 16 tập truyện ngắn và tản văn, kể từ năm 2000. Sách dày 230 trang, giá 70.000 đồng, do Nhà xuất bản Trẻ và Sài Gòn Media ấn hành.
 
Tư tại Hà nội, 18-9
 


(Tin này đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn 20-9-2012)

Ảnh: Cao Mạnh Tuấn

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Chuyện hai người


Hai cô gái trẻ đẹp và một người đàn ông trung niên ngồi chỗ lưng chừng núi nhìn ra biển bàn “chuyện hai người”.
Một cô đang yêu, một cô vừa có chồng và người đàn ông đã có vợ con. Họ quy ước với nhau là chỉ nói về trải nghiệm hoặc suy ngẫm của mình chứ không bình luận gì cả.

 



Câu hỏi họ đặt ra: “Có phải muốn có tình yêu và hôn nhân bền vững thì hai người phải nên hòa thành một?”.
Cô gái vừa có chồng kể:
- Ông xã em thích nhậu nên hay lai rai mỗi ngày sau khi tan sở. Em biết là ông ấy chỉ nhậu với bạn bè nhưng đôi khi nhậu về trễ thấy ổng hơi là lạ. Cho nên lúc đầu em chỉ nhắc là anh nhậu vừa thôi để giữ gìn sức khỏe và đừng có về trễ, vì mình vẫn nghĩ đó là niềm vui riêng của chồng, mình phải tôn trọng. Nhưng càng về sau, em hay nghĩ lung tung. Rủi mà ổng không chỉ lai rai với bạn bè mà còn đi “tăng hai, tăng ba” gì đó nữa thì sao? Thế là em “bắt buộc” ổng không được về nhà trễ như vậy nữa. Ổng cũng nghe nhưng đôi lúc cũng về trễ và thấy hổng có vui vì cái sự bắt buộc của mình. Như vậy, nếu chồng chịu “hy sinh” thú vui riêng để hòa mình với vợ thì chỉ có vợ vui, còn chồng miễn cưỡng và ngược lại. Vậy hai người nên “hòa thành một” làm sao đây? Còn nếu không “hòa thành một” thì mạnh ai nấy sống hay sao?
Cô gái đang yêu nói:
- Ai cũng có “cái tôi” to đùng. Theo em, có những cái chỉ là thế giới riêng của mỗi người, có những cái khác nên biết chia sẻ với nhau. Chuyện gì chia sẻ với nhau được thì coi như là đã “hòa thành một”. Nhưng khó nhất là có nhiều cái mình không biết được đâu là ranh giới và càng khó hơn là mình không làm được. Những lúc đó thường là cãi nhau hoặc giận nhau và ai cũng nói “em phải thế này” hoặc “anh phải thế kia”, vì ai cũng thấy mình đúng. Kéo dài hoặc lặp lại nhiều lần “cái tôi” ấy thì rất dễ chia tay nhau.
Rồi cô đúc kết:
- “Yêu nhau là không phải nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” cần được sửa lại cho hợp với thời nay: “Yêu nhau là phải biết nhìn nhau và cùng nhìn về một hướng”.
Người đàn ông trung niên nhìn ra mặt biển êm đềm dưới chân núi, kể:
- Bà xã tôi thích xem phim bộ trên ti vi mà không thích xem thời sự, còn tôi thì ngược lại. Tôi hay nhắc bà xã nên xem thời sự cho biết tin tức mỗi ngày. Thường thì bà xã im lặng hoặc đôi khi có mở chương trình thời sự xem qua. Một hôm, khi nghe tôi nhắc, bà xã mới nhẹ nhàng hỏi lại: “Vậy chớ em có kêu anh phải xem phim bộ cho vui hông?”. Trời đất, câu hỏi nhẹ re vậy mà tôi không biết trả lời làm sao, vì ngẫm nghĩ thấy bà xã vừa có lý vừa có tình, còn mình chỉ có lý mà thiếu tình.
Nghe chuyện của người đàn ông, cả hai người con gái đẹp cùng “à” lên, chợt cô gái có chồng la lên: “Có lý quá hén!”. Nhưng chỉ một giây sau, cô ấy lại nói: “Nhưng mà em không để cho ông xã em tự do đi nhậu hoài như vậy đâu!”.


 

* Mời đọc thêm trên Báo Phụ nữ TPHCM:
http://phunuonline.com.vn/tinh-yeu-hon-nhan/goc-dan-ong/chuyen-hai-nguoi/a73335.html

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Vì sao lúa lai không có ở ĐBSCL?



ĐBSCL đã thử nghiệm lúa lai từ lâu nhưng không thành công. Vậy lúa lai khác với lúa thuần như thế nào và vì sao lâu nay lúa lai chỉ được trồng ở miền Bắc là chính và không cho gạo xuất khẩu được? Chúng tôi vừa ghi nhận ý kiến của một số nhà khoa học nông nghiệp...

 
* PGS.TS BÙI BÁ BỔNG - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT): “Không nên tăng diện tích lúa lai”

 
Hiện nay diện tích trồng lúa lai cả nước khoảng 700.000 hecta, trong đó về lúa giống, ta tự sản xuất được 30%, nhập khẩu 70% từ Trung Quốc. Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu gạo không phải dựa vào lúa lai. Lúa xuất khẩu của Việt Nam là lúa thuần từ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Lúa lai chỉ chiếm 9,6% diện tích lúa toàn quốc, nói chung là không đáng kể. Còn tỷ lệ giống lúa lai nhập khẩu từ Trung Quốc, chỉ chiếm 6,7% số lượng lúa giống cả nước; nói cách khác 93,3% lúa giống hoàn toàn được sản xuất trong nước.
Theo tôi, không nhất thiết tăng diện tích lúa lai, còn giống thì cần nỗ lực để tăng tỷ lệ sản xuất trong nước. Giống lúa lai của Trung Quốc phù hợp với điều kiện khí hậu phía Bắc.
 
* GS.TS VÕ - TÒNG XUÂN - Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Tạo: “Miền Nam bỏ lúa lai”

 
Lúa lai hiện nay đại đa số chỉ có ở miền Bắc. Miền Nam đã thử nghiệm nhưng không thành công, vì lúa luôn bị sâu bệnh phá hại và không ngon cơm. Miền Nam bỏ lúa lai, phần lớn dùng lúa do các cơ quan khoa học phía Nam chọn tạo. Trong khi các cơ quan khoa học chọn tạo giống lúa phù hợp với sinh thái miền Bắc thì chưa có những giống lúa tốt như ở miền Nam, cho nên Bộ NN-PTNT chủ trương đưa giống lúa lai từ Trung Quốc về bán cho nông dân với giá bao cấp. Mấy cơ quan kinh doanh lúa lai Trung Quốc đều hưởng lời rất lớn nhờ cơ chế này.

* TS LÊ VĂN BẢNH - Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: “Chất lượng kém hơn lúa IR 50404”

 
Các tỉnh Bắc Trung bộ và miền Bắc sử dụng rất nhiều lúa ưu thế lai (thường gọi tắt là lúa lai). Lúa lai cũng như bắp lai là loại giống chỉ sử dụng trong sản xuất đời F1, nghĩa là đơn vị sản xuất ra giống bán cho nông dân sản xuất chỉ dùng một lần, muốn sản xuất tiếp phải mua lại của công ty cung cấp giống, nếu tiếp tục dùng sản phẩm lúa lai đã sản xuất này làm giống lần hai thì sẽ rất dễ cho ra “lúa lép”. Chứ không phải như “lúa thuần” của mình; bà con đến Viện Lúa ĐBSCL chẳng hạn, mua vài chục ký giống rồi về trồng và liên tiếp nhân ra mà vẫn tốt. Do vậy lúa lai được sản xuất độc quyền. Các viện nghiên cứu nội địa phía Bắc không đáp ứng được nên phải nhập rất nhiều của Trung Quốc hàng vụ để nông dân sản xuất.


Lúa lai Trung Quốc có ưu điểm là năng suất khá cao, chịu điều kiện khắc nghiệt tốt như hạn, lạnh... nhưng chất lượng thấp (kém hơn giống IR 50404) nên gạo chủ yếu dùng để giải quyết lương thực xóa đói ở địa phương, không dùng cho xuất khẩu.


 
Lâu nay, các giống lúa thuần dòng OM chiếm lĩnh vùng ĐBSCL và cả các tỉnh phía Nam, đáp ứng 90% lượng gạo xuất khẩu và nay ta đang xuất giống lúa qua Campuchia, Lào, các nước Nam Á và châu Phi. Do vậy, không có lúa lai ở ĐBSCL.
 
HUỲNH KIM (ghi)
 
Mời đọc thêm trên báo Cần Thơ