Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Chuyện anh Tùng in thơ trong nước



Giữa tháng 3 rồi, tôi nhận được email từ Pháp của TS. Nguyễn Tùng: “Cách đây vài tuần, tình cờ tôi tìm lại được hơn ba mười bài thơ viết vào cuối năm 1982 và chưa cho đăng ở đâu cả. Tôi bỗng nảy ra ý cho xuất bản ở trong nước toàn bộ thơ của mình mà phần lớn đã đăng trong các báo Việt kiều ở Pháp (Gió Nội, Tập san Khoa học xã hội và Đoàn Kết), chủ yếu để tặng bạn bè làm kỷ niệm. Nay xin gửi cho anh bản thảo hai tập "Dấu chân không" (đã xuất bản ở Paris năm 1984) và "Nhật ký trong tình" để anh đọc chơi cho vui và góp ý kiến. Nếu anh có kinh nghiệm gì về việc xuất bản thơ ở trong nước, thì xin "tư vấn" cho tôi nhé. Chắc là hơi khó xuất bản, vì trên cả thế giới rất ít người mua sách in thơ!”.



Đọc xong bản thảo hai tập thơ ký tên Đan Tâm của anh Nguyễn Tùng, tôi gởi email “tư vấn” anh nên xuất bản trong nước: “Có hai cách, hoặc do NXB tự kinh doanh hoặc tác giả xin giấy phép NXB rồi tự ấn hành. Làm cách thứ 2 dễ hơn; chỉ khó là làm sao bán được để thu hồi vốn. Còn nếu tác giả chỉ muốn in để tặng bạn bè thì càng dễ. Cả hai cách đều bắt đầu từ lúc gởi bản thảo cho nhà xuất bản. Thí dụ, Đan Tâm muốn làm cách thứ 2 thì xin hãy chuẩn bị bản thảo mail về cho NXB, sau khi có giấy phép thì tự lo in ấn, phát hành”.

Hổng dè anh làm nhanh quá. Ngày 21-4 rồi, anh gởi email cho biết: “Tôi đã nhờ một anh bạn giúp in cuốn thơ của tôi ở NXB Lao Động, tốn cả thảy 11 triệu đồng cho 500 bản”. Tiếp đó, anh nhờ người gửi về Cần Thơ cho tôi 15 tập với lời nhắn qua email: “Nhờ anh ký tặng bạn bè ở miền Tây, nhớ nói là tôi ở xa nên nhờ ký tặng để làm quen” – thật là dễ thương, trong khi chính tác giả chỉ mới nhìn thấy ảnh bìa qua email chứ chưa nhận được tập thơ của mình.

Anh Nguyễn Tùng quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, qua Pháp học xã hội học, dân tộc học và triết học ở Đại học Sorbonne. Anh chuyên nghiên cứu văn hóa Việt Nam, dạy ở Đại học Paris-Diderot và từng làm việc hơn 30 năm ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học (CNRS, Pháp). Cộng tác với nhiều tờ báo trong nước như Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, Xưa & Nay, Thanh Niên, Tuổi Trẻ… anh ký tên Nguyễn Tùng; làm thơ thì lấy bút hiệu Đan Tâm.

Dấu chân không và nhật ký trong tình” có 93 bài thơ, trong đó có 9 bài anh Nguyễn Tùng dịch thơ của Lorca, Mayakovsky, Aragon và Neruda. Với “Dấu chân không”, Đan Tâm tự bạch: “Chúng là dấu vết mờ nhạt của một quãng đời đầy tiếng ồn và cuồng nộ”. Đời như vậy nhưng vào thơ thì nghe nhiều những ám ảnh của nội tâm. Như bài Mùa đông viết năm 1963 ở Paris, chỉ có 4 câu: con chim con / khát khao / ánh sáng mặt trời mùa xuân / đã chết / mùa đông dài vô cùng. Hay bài thơ Dấu vết anh viết trong mùa thu Paris 1966: con chuồn chuồn thơ ấu / bay mất / trong cơn mơ đêm qua / để lại giọt nướt mắt / đọng khô trên má. Còn trong bài Ngày trở lại viết năm 1967, có hai đoạn mở và kết như nỗi ám ảnh tình cảnh quê nhà: ngày trở lại có nắng lên trên mạ / có mây bay về đắm giữa xanh trời / anh sẽ đặt những bước chân rụng lá / vì thưa em vạn vật sắp lên lời /… ngày trở lại giữa quê hương đổ nát / (những rào tre rụi cháy gió thôi bay) / nghe hy vọng reo vang trong tiếng hát / thưa bà con, tôi xin góp đôi tay.

Còn “Nhật ký trong tình” được viết vào cuối năm 1982 và theo như lời tác giả, đó là “chứng tích” sau lần anh và một người bạn thân “lạc vào chốn thiên thai ngay giữa Sài Gòn và gặp một nàng tiên tóc ngắn mà, sau đó, tôi chưa từng cầm tay!”. Thảo nào, họa sĩ Phạm Quốc Tuấn ở Paris đã vẽ được bức tranh màu tím “nàng tiên tóc ngắn” mà giờ đây người trình bày sách ở nhà đã lấy đưa lên bìa tập thơ này. Đọc những dòng “nhật ký” của thời mà tác giả vào tuổi bốn mươi, như trong bài Cảm ơn, có những câu buồn thương như thế này: Cảm ơn em đã làm lòng anh trẻ lại / ở tuổi bốn mươi / khi đã bước vào buổi chiều của cuộc đời / cảm ơn em / đã khiến anh lại có được những tình cảm vụn vặt và nông nỗi.

Giờ thì anh Nguyễn Tùng đã bước qua tuổi bảy mươi, đang nghỉ hưu ở Pháp, năm nào cũng về thăm quê nhà. Cuối năm ngoái anh đưa cả gia đình về thăm Cần Thơ. Ai cũng thích chợ nổi Cái Răng và chụp hình rất nhiều tại ngôi nhà cổ ở Bình Thủy, nơi được chọn đóng phim Người Tình, tác phẩm nổi tiếng của Pháp. Lúc đó, chưa nghe anh Nguyễn Tùng nói gì tới chuyện in thơ ở Việt Nam. ■

* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên thứ Bảy, 17-5-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130518/nguyen-tung-in-tho-trong-nuoc.aspx

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Đọc lại Thần thoại Hy Lạp

Lạc Long
 
Nền văn minh Hy Lạp cổ đại được xem như một trong những cái nôi của văn minh nhân loại với những công trình kiến trúc ấn tượng, các giá trị triết học, nghệ thuật và nền văn hóa hoàng kim một thời. Trong đó, có một di sản lớn, đó là kho tàng những câu chuyện thần thoại.
Đọc bộ Thần thoại Hy Lạp (Nguyễn Văn Khỏa biên soạn - NXB Văn học, 2004) hồi còn học lớp 9, nó đã thôi thúc lớp trẻ chúng tôi lòng ham mê khám phá cuộc sống. Giờ đây, bước vào tuổi thanh niên, đọc lại bộ sách này, tôi càng hiểu, vì sao những câu chuyện “thần thoại” này lại có thể tồn tại hàng nghìn năm trong lòng người, bất kể thuộc nền văn hóa nào.




Thần thoại Hy Lạp được hình thành trong khoảng thời gian khá dài, từ năm 2.000 - 1.100 trước Công nguyên. Mới đầu là chuyện truyền miệng; về sau được ghi lại khi có chữ viết. Thần thoại Hy Lạp tập hợp những câu chuyện kể, truyền thuyết về sự hình thành của thế giới, sự ra đời của các vị thần và sự có mặt của con người trên mặt đất. Những câu chuyện thần thoại mô tả về một thế giới mà trung tâm là ngọn núi Olympia do vị thần tối cao Dớt cai trị; sự tranh đấu của con người qua truyền thuyết về các vị anh hùng tiêu biểu như Hêraclex, Akhin… Những vị thần trong thần thoại Hy Lạp được mô tả hết sức sống động và giống với hình tượng của những con người trên trần gian, cũng có đủ vui buồn giận dữ, thương yêu thù hận… Có thể nói, cái gì thuộc về con người cũng đều thấy xuất hiện qua các vị thần linh trong truyện kể. Hết thảy, không phải là những nhân vật hoặc câu chuyện được “đóng khung” khô cứng mà như chính bản chất cuộc sống, đều “trôi chảy như dòng sông”. Đọc Thần thoại Hy Lạp, trong lòng ta thường vương vấn những niềm ước mơ, khát vọng sống tốt đẹp hơn.

Cho nên dễ hiểu, trong chặng đường dài phát triển của lịch sử nhân loại, ta thường thấy có dáng dấp những câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp. Thời cổ đại, những bức vẽ, bức tượng được tạc theo nguyên mẫu các nhân vật trong truyện. Thời phục hưng, rồi đến thế kỷ 17, 18, 19 và cả sau này, những đề tài, cốt truyện, nhân vật, điển tích của thần thoại này vẫn tiếp tục được khai thác trong sân khấu, văn chương, phim ảnh… Sự tồn tại và sức ảnh hưởng sâu rộng của thần thoại Hy Lạp chính do những giá trị nhân văn vốn có của nó. Đó là cái nền thiện thắng ác, là căn tính chân - thiện - mĩ gắn với nhân tính, lý tưởng sống… mà xã hội, chính thể nào của con người xưa nay cũng đều hướng tới.

Tính nghệ thuật đầy chất thi ca của thần thoại Hy Lạp như một yếu tố góp phần vào sự thành công của bộ truyện nổi tiếng này. Rồi tính triết lý của từng câu chuyện; thần thoại Hy Lạp phát triển đồng thời với sự phát triển của các tư tưởng triết học cổ đại nên qua bộ truyện, các tư duy lý luận, tư duy hình tượng… đã kết hợp và biến hóa vừa hài hòa, vừa chặt chẽ, tạo nên một bộ thần thoại mà cho đến hôm nay, người ta vẫn đánh giá đó là bộ danh tác huy hoàng của không riêng Hy Lạp. Xin trích dẫn một đoạn trong chương “Đêmêter truyền nghề cho Tơriptôlen”:

Hạt lúa mì gieo xuống đất, được đất đen ấp ủ, nuôi dưỡng. Đất đen đã đem cuộc sống của mình ra để chăm nom cho cuộc sống của hạt lúa mì. Con người cũng vậy, con người sống trên mặt đất, được đất đen đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng. Hơn nữa lại nuôi dưỡng con người bằng cuộc sống của hạt lúa mì. Con người cứ thế sống, sinh sôi, nảy nở, con đàn cháu đống cho tới khi con người từ giã cõi đời. Khi con người trở về với đất, sống trong lòng đất, biến thành đất. Từ đấy con người đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng lại cây cỏ… Cứ như vậy, sinh sinh hóa hóa tuần hoàn. Cái chết đối với con người là sự tiếp tục cuộc sống khác, cuộc sống vẫn có ích cho đồng loại… Như vậy là cõi chết chẳng có gì đáng sợ, đáng coi là khủng khiếp, thảm họa… Tạo hóa - sáng tạo và biến hóa - biến hóa và sáng tạo - mọi thứ cho cuộc sống vĩnh hằng, bất diệt”.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130514/doc-lai-than-thoai-hy-lap.aspx

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Mở ra cuộc sống




Lạc Long


Trong cuộc sống cũng như trong giao tiếp hằng ngày, đôi khi ta bắt gặp những thành ngữ, tục ngữ, ca dao, những điều tín ngưỡng hay những nhân vật, địa danh… chưa quen hoặc đã bị lãng quên khiến cho ta bối rối. Lúc đó, ta thường nghĩ đến việc nhanh chóng tìm được câu trả lời từ một quyển từ điển hay là từ bạn bè, người thân. Như một cuốn từ điển bỏ túi, quyển sách Cửa sổ tri thức (NXB Văn hóa - Văn nghệ, quý 2.2013) của PGS-TS Lê Trung Hoa có thể giúp chúng ta giải quyết được những “bối rối” này một cách thú vị và bổ ích.




Cuốn sách tập hợp 159 câu hỏi - đáp được bạn đọc báo chí quan tâm liên quan tới nhiều lĩnh vực như văn hóa, lịch sử, địa chí, ngôn ngữ… Để trả lời được những câu hỏi này, tác giả phải dựa vào một kiến thức sâu rộng từ một sở học bài bản. PGS-TS Lê Trung Hoa sinh năm 1947, chuyên môn trong lĩnh vực ngôn ngữ học và văn hóa học; là tác giả của nhiều cuốn sách chuyên ngành như: Mẹo luật chính tả (1984), Thú chơi chữ (1990), Địa danh ở TP.HCM (1991), Họ và tên người Việt Nam (1992), Từ điển TP.Sài Gòn - Hồ Chí Minh (2001), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ và tiếng Việt văn học (2003), Địa danh học Việt Nam (2006)…

Với cuốn Cửa sổ tri thức này, tác giả dường như muốn mở ra những căn nguyên của cuộc sống ở quanh ta với một văn phong nhẹ nhàng, lắm khi duyên dáng. Xin trích vài câu:

Tại sao ở đầu ghe thuyền, người ta thường vẽ hai con mắt? - “Điều này bắt nguồn từ một tín ngưỡng dân gian. Người xưa cho rằng ghe thuyền cũng là một sinh vật dưới nước, cần có mắt để nhìn, tránh được thuồng luồng, quái vật làm hại. Mặt khác, mắt ghe thuyền có thể giúp những người đánh cá phát hiện những ngư trường có nhiều cá. Sau cùng, các con mắt này có thể giúp những người đi buôn bằng ghe thuyền tìm được những bến bờ có nhiều tài lộc. Mắt thuyền có thể thay đổi tùy theo địa phương. Ở vùng Sài Gòn - Gia Định, mắt thuyền có màu đen và trắng vẽ trên nền đỏ; ở vùng Rạch Giá - Phú Quốc, mắt thuyền có màu đen và đỏ vẽ trên nền màu xanh”.

Tại sao gọi là “làm thinh”? -  “Âm gốc của từ tổ làm thinh là hàm thinh. Đây là từ tổ Hán Việt. Hàm có nghĩa là “ngậm” và thinh là “âm thanh”. Vậy hàm thinh có nghĩa là “ngậm âm thanh trong miệng”, tức không nói ra”.

Xin cho biết nguồn gốc cụm từ “chủ xị”? - “Nước ngọt xá xị được chế biến từ trái cây salsepreille (cây thổ phục linh). Người Việt đã gọi tắt salse thành xá xị. Dung tích của một chai xá xị là 1/4 lít. Do đó ban đầu người ta nói “một chai xá xị rượu”, rồi rút gọn thành “một xị rượu”, tức 1/4 lít rượu. Và người bỏ tiền mua rượu cho nhiều người cùng uống là chủ xị”.

Xin giải thích thành ngữ “lặng như tờ”? - “Lặng như tờ là thành ngữ rút gọn từ thành ngữ lặng như tờ giấy trải, nghĩa là rất tĩnh lặng (theo Đại Nam quấc âm tự vị, 1895-1896 của Huỳnh Tịnh Của). Vì bị rút gọn hai từ giấy trải khiến chúng ta ngày nay không rõ tờ là gì”.

Tại sao người miền Nam hay gọi đấng sinh thành là “ba”, “má”? - “Người Nam bộ cũng như Nam Trung bộ gọi cha mẹ là ba má. Ba má là hai từ có nguồn gốc từ tiếng Quảng Đông. Từ ba gồm từ phụ (nghĩa là “cha”) ở trên và từ ba (chỉ âm) ở dưới ghép lại; từ má gồm từ nữ (nghĩa là “đàn bà”) ở bên trái và từ mã (chỉ âm) ở bên phải ghép lại. Đây là kết quả của hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Quảng Đông với tiếng Việt”.

Tại sao để chỉ những nơi xa xôi, vắng vẻ, người Nam bộ thường gọi là “Hóc Bà Tó”?  - “Theo nhà văn Sơn Nam, Hóc Bà Tó là một địa danh cổ, chỉ một vùng đất thuộc tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Hóc là một từ cổ chỉ dòng nước nhỏ, đồng nghĩa với xẻo. Hóc trong Hóc Môn, Hóc Hươu (TP.HCM), Hóc Ớt (giữa TP.HCM và Tây Ninh), Hóc Bà Tó mang ý nghĩa này. Vậy ban đầu hóc Bà Tó chỉ dòng nước nhỏ mang tên Bà Tó (chưa rõ lý lịch bà này). Sau biến thành địa danh vùng Hóc Bà Tó. Vì Hóc Bà Tó ở một nơi xa cách khu dân cư nên dần dần trở thành tên gọi nơi xa xôi, vắng vẻ, ít người lui tới”.

 Câu nói dân gian “Ông già Ba Tri” do ai đặt? - “Câu chuyện về “Ông già Ba Tri” được ghi chép trong tác phẩm Monographie de la province de BenTre (Địa phương chí tỉnh Bến Tre - 1929), Kiến Hòa xưa và nay (1965) của Huỳnh Minh, Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (1757-1945) của Nguyễn Duy Anh. Câu chuyện đại khái như sau: Dân làng Ba Tri và dân làng bên cạnh bất đồng nhau về việc đắp một con đập. Nếu có cái đập này, kinh tế làng Ba Tri sẽ không phát triển được nên dân Ba Tri đi kiện. Quan xử ép dân Ba Tri. Do đó, dân làng cử một ông già ra tận kinh đô Huế để khiếu nại với vua. Từ Bến Tre, ông đi bộ mấy tháng ra đến Huế và cuối cùng thắng kiện. Từ đó có thành ngữ “Ông già Ba Tri” để ca ngợi tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già. Nhưng dần dần, thành ngữ này cũng chỉ những ông già khó tính, hay tranh chấp”.

Sao kêu là “nhậu ve kêu”? - “Nhậu ve kêu là nhậu lai rai, rỉ rả, kéo dài như tiếng ve kêu suốt ngày, từ sáng đến tối”. ● 

Đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130507/mo-ra-cuoc-song.aspx

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Nơi quê nhà bình yên



Lạc Long


Trong dịp kỷ niệm 38 năm đất nước hòa bình, đọc lại từng trang tạp bút Sương khói quê nhà (NXB Trẻ, quý 1.2013), càng quý tấm lòng của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, một người trưởng thành sau ngày đất nước thống nhất, 30.4.1975. Ký ức tuổi thơ; chuyện viết văn, làm báo; chuyện về những người bạn văn hay chuyện kể từ những chuyến đi nước ngoài… với đề tài nào, tác giả cũng chan hòa cuộc sống và để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm yêu thương ở ngay trong phút giây hiện tại.




Ở phần đầu của Sương khói quê nhà, Nguyễn Nhật Ánh đưa người đọc trôi vào thế giới êm đềm của những hồi ức và cảm nhận cuộc đời qua những câu chuyện hết sức bình dị như Cây trái tuổi thơ, Trường cũ, Tản mạn trong mưa… Có một câu chuyện dễ làm cho nhiều người Quảng Nam xa quê bồi hồi, Bà ơi, bán cho con lon nén!, tác giả tả một ngôi chợ độc đáo của người dân xứ Quảng quê anh nhưng lại nhóm họp mỗi ngày ở quận Tân Bình, TP.HCM. Tác giả viết: “Chợ Bà Hoa được xem như ngôi chợ Quảng Nam giữa lòng Sài Gòn. Ở đó, có thể tìm thấy hầu như không thiếu một thứ gì của xứ Quảng: đường bát, khoai lang khô, bánh tổ, dưa gang…”. Tuy nhiên, chỉ có củ nén mới thật sự là “hàng độc” mà không phải người miền Nam nào cũng biết: “Củ nén thuộc họ hành, còn gọi là hành tăm hay hành hoa”, một đặc sản của xứ Quảng, đã làm cho món cá chuồn chiên củ nén của mẹ hồi còn bé hiện về bên cạnh hình ảnh bà bán hàng thân ái như bà nội. Cuối câu chuyện, Nguyễn Nhật Ánh viết như muốn níu lại hình bóng quê nhà: “Một ngày đẹp trời nào đó bạn ghé chợ Bà Hoa, lần bước tới sạp hàng bày các thúng chứa củ gì tròn tròn, nho nhỏ, trăng trắng và nói với bà hàng trông giống hệt bà nội bạn ở nhà: “bà ơi, bán cho con lon nén” mặc dù cho đến lúc đó, có thể bạn chưa từng nhìn thấy củ nén bao giờ!”. 

Tiếp theo, Nguyễn Nhật Ánh tập hợp 9 bài viết về những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ… hay đơn giản chỉ là một người mê sách. Đó là những người bạn văn của anh: Đỗ Trung Quân, Lê Minh quốc, Lê Giang, Lư Nhất Vũ, Nguyễn Công Khế… Trong bài Chuyện ông Vu, Nguyễn Nhật Ánh kể chuyện một người đàn ông yêu và mê sách đến mức xem công việc và sách vở như cuộc sống của mình. Anh viết: “Làm sách, với Nguyễn Thắng Vu từ lâu đã không cỏn là công việc. Đó là tình yêu của ông. Còn hơn thế nữa, là cuộc sống của ông. Sách là bầu khí quyển quen thuộc mà rời khỏi nó, ông giống như cá rời khỏi nước”. Trong câu chuyện Nhớ Chim Trắng - người chờ hoa rụng, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn trẻ tài hoa nổi tiếng, đã nói về một bậc đàn anh: “Khi nghĩ về nhà thơ Chim Trắng, tôi thường nghĩ nhiều hơn về con người ông, về sự chăm lo chu đáo, về tình cảm ông dành cho các cây bút trẻ. Tôi chưa thấy một nhà thơ đàn anh nào quý trọng các cây bút trẻ như Chim Trắng”.

 Tác giả dành phần cuối kể chuyện về những chuyến đi nước ngoài; có khi là đi chơi hay đi giao lưu khi sách của mình được dịch ra tiếng nước ngoài hoặc đi hội chợ sách. Tác giả đưa người đọc chu du từ Á sang Âu rồi qua Mỹ như những nhịp cầu nối liền Việt Nam và thế giới, với cái nhìn rất riêng. Trong câu chuyện Lang thang Paris, Nguyễn Nhật Ánh tả một buổi tối cuối tuần: “Tối chủ nhật, trời Paris mưa và lạnh (mưa cuối năm ở Paris rất lạ: cứ mưa nửa tiếng lại tạnh nửa tiếng, rồi lại mưa nửa tiếng, cứ thế) nhưng đại lộ Champs-Élysées vẫn đông nghịt người qua lại. Hầu như tất cả đều mặc áo măng-tô hoặc áo khoác đen”. Hay như trong ngày lễ Noel ở Mỹ: “Họ rút hết vào trong nhà chứ không đổ ra đường như dân Việt Nam. Cho nên ở Mỹ trong những ngày này, trừ các khu giải trí dành cho khách du lịch, hổng thấy dấu hiệu gì của lễ hội vui chơi. Ở các khu phố của Mỹ, không khí vẫn bình lặng như ngày thường”.

Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn chuyên viết sách cho tuổi thơ với nhiều tác phẩm nổi tiếng như bộ truyện Kính vạn hoa (54 tập) hoặc Mắt Biếc, Chuyện cứ Lang Biang, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Đảo mộng mơ… Tác giả đã được trao nhiều giải thưởng văn học trong nước và giải thưởng văn học ASEAN vào năm 2010. Anh sinh năm 1955 tại huyện Thăng Bình (Quảng Nam); từng là giáo viên, thanh niên xung phong và hiện làm việc ở báo Sài Gòn giải phóng. Dù đã tập sáng tác từ trên ghế nhà trường trước 1975, nhưng toàn bộ hơn 100 tác phẩm văn học của Nguyễn Nhật Ánh đều được sáng tác trong thời đất nước hòa bình; có tác phẩm như bộ truyện Kính vạn hoa đã được in hơn một triệu bản, kỷ lục trong làng văn nước nhà.

Riêng với quyển tạp bút Sương khói quê nhà này, tựa một góc nhỏ về quá khứ và hiện tại của xã hội Việt Nam 38 năm qua với một bút lực - như lời nhà thơ Ý Nhi: “Nguyễn Nhật Ánh dẫn dụ người đọc bởi kiến thức đời sống sâu rộng, óc quan sát tinh tế, sự liên tưởng độc đáo và một văn phong giàu cảm xúc, sáng sủa, đĩnh đạc”. 

* Bài đã đăng Báo Thanh Niên 30-4-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130430/doc-sach-noi-que-nha-binh-yen.aspx

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Lúng túng trong truyền thông về biến đổi khí hậu


(TBKTSG Online) - “Các bạn đang gặp khó khăn về tài chính, về tính chuyên nghiệp và tính chính xác trong thông tin về biến đổi khí hậu nhưng các bạn vẫn tích cực truyền thông đến người dân. Chúng tôi sẽ tiếp tục hỗ trợ và kêu gọi các nhà tài trợ quốc tế giúp các bạn trong những vấn đề này”.

Bà Rabea Brauer - Trưởng đại diện Viện Konrad-Adenauer-Stiftung (KAS) của Đức tại Việt Nam, nhấn mạnh như vậy sau một ngày dự hội thảo “Vai trò của báo chí trong việc ngăn chặn và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu” do KAS và Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức tại Cần Thơ trong hai ngày 24 và 25-4 với sự tham gia của hơn 100 nhà báo, nhà khoa học, nhà quản lý.


Một góc hội thảo BC & BDKH tại Cần Thơ ngày 24-4-13

Bà Rabea Brauer cho biết KAS sẽ cùng Hội Nhà báo Việt Nam đáp ứng nhu cầu đào tạo cả cho sinh viên báo chí, phóng viên và biên tập viên nhiều cơ quan báo chí Việt Nam về biến đổi khí hậu. Ông Phạm Quốc Toàn - Phó chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam khẳng định hội sẽ hợp tác tốt với KAS trong vấn đề này. “Chính phủ Việt Nam đã có chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu. Vai trò của báo chí trong trong việc này rất thời sự. Phải đào tạo để phóng viên, biên tập viên có kiến thức chuyên môn về biến đổi khí hậu và biết hợp tác với các nhà khoa học, nhà quản lý để truyền thông cho đúng và có hiệu quả”, ông Phạm Quốc Toàn nhấn mạnh.

Trước đó, các đại biểu đều đề cập tới chuyện này như một trở ngại trong tác nghiệp. Nhà báo Nguyễn Phấn Đấu (báo Lao Động) tham luận: “Tại Việt Nam, chưa có phóng viên chuyên viết về biến đổi khí hậu mà mới chỉ là phóng viên theo dõi lĩnh vực môi trường – tài nguyên” và cho rằng “biến đổi khí hậu là một đề tài rất khó”. Anh dẫn kết quả hai tháng khảo sát các báo Lao Động, Tuổi Trẻ, Nhân Dân, Hà Nội Mới, Đài PTTH Hà Nội và một số tạp chí môi trường mới công bố của PANOS (mạng lưới toàn cầu của các tổ chức phi chính phủ hợp tác về truyền thông): chỉ có hơn hai bài báo liên quan tới biến đổi khí hậu.

Nhà báo Nguyễn Văn Ngọc (Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Cần Thơ – VTV Cần Thơ) cũng kêu: “Biến đổi khí hậu là một đề tài khó, bao trùm nhiều mặt của đời sống, xã hội và mỗi nhà báo không thể trang bị đủ kiến thức để hiểu hết”. Anh nói thêm: “Một số cơ quan báo chí do áp lực của cơ chế tài chính nên ít quan tâm đến biến đổi khí hậu, từ đó thiếu đầu tư nhân lực và phương tiện cho lĩnh vực này”. Nhà báo đại diện cho VTV Cần Thơ tỏ ra bức xúc: “Tôi băn khoăn và lúng túng trong thông tin về các vấn đề như xây đê biển, sạt lở mũi Cà Mau – nhà nước thì nói phải xây để biển để chống sạt lở, còn nhà khoa học thì cho rằng không bền vững bằng giải pháp trồng rừng. Hoặc vấn đề Trung Quốc, Lào vẫn xây đập trên thượng nguồn sông Mekong mà ta lại thiếu thông tin”.

Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu - Đại học Cần Thơ, nói: “Vần đề đê biển như ở Trà Vinh, chúng tôi đã cảnh báo nguy cơ đổ bể cao nhưng không được chú ý. Mới làm xong qua một năm giờ mấy chục tỉ đồng đổ sông đổ biển”. Ông cho biết: “Một số bài báo chưa chính xác, phóng đại kiểu “trăm dâu đổ đầu biến đổi khí hậu”, dễ rơi vào bẫy nhóm lợi ích" và kể: “Thí dụ như chuyện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề xuất dự án xây đê biển từ Bắc đến Nam dài 3.000 cây số, báo chí đồng loạt đưa tin, rất phản cảm. Kinh nghiệm của Hàn Quốc phải mất 19 năm mới làm xong con đê biển dài 33,9 cây số (dài nhất thế giới) vậy thì ta phải mất 2.000 năm mới làm xong con đê biển đó, mà lấy tiền đâu để làm?”. Tiến sĩ Lê Anh Tuấn nói: “Đó là nhóm lợi ích, họ chỉ cần làm khảo sát để lấy tiền”.

Nhà báo Sáu Nghệ (báo Tiền Phong), nói: “Cần phải có phản biện chính sách với nhà nước trong những vấn đề như vậy. Phải lắng nghe ý kiến của các nhà khoa học có nghề, có tâm và có thực tiễn chứ không nên thông tin một chiều từ nhà quản lý”.

Nhà báo Hoàng Văn Thành (báo Tài nguyên và Môi trường) cho biết: “Thực hiện chương trình quốc gia về biến đổi khí hậu của Chính phủ, các tỉnh đang đua nhau chạy dự án sau khi dựa vào những thông tin báo chí về các dự án này. Cho nên cần phải có bài về phản biện chính sách trong truyền thông ứng phó với biến đổi khí hậu”.

Ông Nguyễn Minh Thế - Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Cần Thơ nói: “Rất cần có nhà báo chuyên về biến đổi khí hậu. Phải dựa vào kiến thức chuyên môn của nhà khoa học. Chúng tôi là nhà quản lý, chúng tôi cũng phải dựa vào nhà khoa học để hoạch định chính sách cho đúng. Vừa rồi có một nhà báo cứ hỏi tôi phải khai thác cát cách xa cầu Cần Thơ bao nhiêu thì mới không gây ra sạt lở bờ sông, tôi nói tôi không thể trả lời được vì tôi chưa có kết quả khảo sát của nhà khoa học chuyên về vấn đề này”.

Nhà báo Mai Đức Lộc (báo Đà Nẵng) đề nghị: “Biến đổi khí hậu tác động toàn cầu nên Hội Nhà báo và KAS cần giúp tạo ra cơ chế để báo chí thông tin cho người dân hiểu đúng những vấn đề liên quan giữa các nước như các nước lưu vực sông Mekong”.

Đáng quan tâm là hầu như tham luận nào của các đại biểu dự hội thảo cũng dẫn thông tin từ kịch bản mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường về biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Theo đó, đến cuối thế kỷ 21, nếu nước biển dâng cao một mét thì 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích đồng bằng sông Hồng, trên 2,5% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích TPHCM có nguy cơ bị ngập.

Sáng ngày 25-4, các đại biểu này tham quan một số nơi bị sạt lở tại Cần Thơ.


Bài đăng tại:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/95252/Lung-tung-trong-truyen-thong-ve-bien-doi-khi-hau.html

Dám sống


Lạc Long

Khát vọng, niềm tin và nghị lực sống sẽ giúp con người vượt qua nghịch cảnh, nắm lấy ước mơ. Đó là thông điệp mà tác giả Nick Vujicic muốn chia sẻ qua cuốn tự truyện Cuộc sống không giới hạn (dịch giả Nguyễn Bích Lan, NXB Tổng hợp TP.HCM và First News ấn hành, quý II-2013; sách dày 406 trang, giá 98.000 đồng). 





Nick Vujicic sinh năm 1982 ở Úc trong một gia đình mà mọi người mạnh khỏe bình thường riêng bản thân anh lại không có tay và chân ngoại trừ một bàn chân nhỏ xíu mọc ra từ đỉnh đùi bên trái. Thế nhưng tới giờ thì dường như Nick đã làm được mọi chuyện. Anh đang sống ở Mỹ, làm chủ tịch và CEO tổ chức quốc tế Life Without Limbs kiêm giám đốc công ty thái độ sống Attitude Is Ailtitude.




Ngày cưới của Nick và Kanae Miyahara

Nick tâng bóng
Nick đi lại như chim cánh cụt.

Trong cuốn tự truyện, từ những chương đầu, tác giả đã chia sẻ với bạn đọc về những kinh nghiệm và niềm tin của một người không trốn chạy số phận tật nguyền. Tiếp đó, Nick kể về những chuyện dám làm, dám sống của mình. Từ nhỏ, Nick đã tự học cách dùng cái bàn chân bé xíu của mình để điều khiển xe lăn hoặc để đẩy và làm trụ đỡ cho cơ thể. Khi bị ngã, Nick cố trườn tới một bức tường hoặc một tảng đá, tì trán vào để nhích từng chút một cho tới lúc dựng thẳng người lên. Cũng với bàn chân dị dạng thân yêu, Nick miệt mài luyện tập đến thành thạo bao nhiêu việc khác như sử dụng vi tính, viết, vẽ… Nick đi lại như một chú chim cánh cụt; Nick nhảy cầu ván ở hồ bơi rồi bơi lội, chơi bóng bằng đầu, thậm chí lướt ván không khác một vận động viên. Tương tự, Nick dùng cằm, đầu, vai, miệng… kết hợp với các phần thân thể khác để xử lý điệu nghệ nhiều động tác vốn là việc của hai bàn tay; cả động tác khó như đánh golf, Nick cũng làm thạo. Gần đây Nick còn tham gia nhảy dù. Anh cũng vừa sáng tác và trình bày hết sức trữ tình ca khúc Something more... Xuyên suốt, đó là niềm tin yêu cuộc sống, ý chí và nghị lực phi thường của một con người mang tên Nicholas James Vujicic (Nick). 


Nick bơi như rái cá


Nick chụp hình cho vợ


Nick kể, trong một chuyến đi diễn thuyết ở Hawaii, tình cờ gặp cô Bethany, một vận động viên lướt sóng đẳng cấp dù đã bị cá mập cắn đứt một cánh tay vẫn không từ bỏ đam mê, thế là anh học kỹ thuật lướt ván. Chỉ với một chiếc khăn tắm cột vào miếng ván làm điểm tựa để đứng lên, anh đã có thể lướt đi cùng con sóng biển. Nick viết: “Đó là khoảnh khắc thích thú tuyệt vời, tôi không ngại nói với bạn rằng khi tôi đứng trên chiếc ván lướt đó cưỡi con sóng vào bờ, tôi đã hét lên đầy phấn khích hệt như một cậu học trò”. Rồi anh chia sẻ: “Nếu một người không tay không chân như tôi còn có thể học lướt sóng tại một trong những bãi biển nổi tiếng nhất thế giới thì bạn có thể thực hiện được bất cứ điều gì và tất cả mọi điều, bạn ạ!”. 


Nick học lướt sóng cùng Bethany


Nick lướt sóng một mình


Từ năm 19 tuổi, Nick đã chu du khắp thế giới để truyền cảm hứng và chia sẻ câu chuyện cuộc đời mình cho hàng triệu người. Nhiều câu nói của Nick Vujicic đã đi vào lòng người: “Tật nguyền lớn nhất trong đời là khi mất hy vọng. Hãy tin tôi đi, mất hy vọng còn tồi tệ hơn nhiều so với chỉ mất chân tay”; “Bạn không bao giờ có thể thay đổi được quá khứ của bạn, nhưng bạn có thể thay đổi tương lai”; “Đạt được lý tưởng không phải là đạt được sự hoàn hảo trong suốt cuộc đời bạn, mà là tìm kiếm sự hoàn hảo”; “Bạn có thể tin vào những giấc mơ của mình, nhưng bạn phải hành động để biến những giấc mơ ấy thành hiện thực”; “Tôi không có tay để chạm vào người khác. Nhưng trái tim tôi có thể chạm vào và làm rung động trái tim người tôi yêu”… 


Nick va Kanae Miyahara


Nhân dịp cuốn tự truyện này ra mắt bằng tiếng Việt, từ ngày 22 đến 26-5 tới, Nick đã “kín lịch” thuyết trình, giao lưu và làm từ thiện ở Hà Nội và TP.HCM; hàng chục nghìn người, nhất là các bạn trẻ, đã đăng ký gặp Nick. 


Nick diễn thuyết


Nhân đây, xin được nói về dịch giả Nguyễn Bích Lan. Đó là cô gái bị bệnh loạn dưỡng cơ nhưng đã không đầu hàng số phận. Cô đã học ở tấm gương Nick Vujicic, trao dồi Anh ngữ và trở thành dịch giả uy tín (cô từng dịch tác phẩm nổi tiếng Triệu phú khu ổ chuột và đã dịch tác phẩm đầu tiên của Nick, Đừng bao giờ từ bỏ khát vọng). Từ lâu, Nguyễn Bích Lan mong muốn được gặp Nick Vujicic. 


Ở cuối quyển Cuộc sống không giới hạn kèm nhiều hình ảnh độc đáo là phần phụ lục của người dịch về “điều kỳ diệu được mong chờ nhất”: Nick đã kết hôn với một cô gái xinh đẹp và hoàn toàn mạnh khỏe tên là Kanae Miyahara. Đám cưới của họ diễn ra tại California, Hoa Kỳ vào ngày 10-2-2012, đã thu hút hàng trăm tờ báo trên thế giới và nói như lời dịch giả, “đẹp như một câu chuyện cổ tích”. ■


Ảnh: Google.com

* Bài này của bạn trẻ Huỳnh Trần Lạc Long, lần đầu viết báo. Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130423/dam-song.aspx