Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

Đi chợ



Đi chợ như kiểu của hai vợ chồng nhà báo Lương Minh – Các Ngọc, thiệt là công phu; bởi không chỉ đi mua sắm, thăm thú chợ búa mà còn để viết báo, viết sách. Sau cuốn “Đời chợ” in năm 2000, tháng 10-2012, anh chị cho ra mắt tiếp cuốn “Chợ tỉnh - chợ quê”, do NXB Hội Nhà văn ấn hành.




Lần này anh chị kể chuyện về 116 cái chợ ở khắp ba miền đất nước; chuyện nào cũng có hình ảnh minh họa và vài phác thảo thú vị về nét văn hóa xã hội của địa phương liên quan tới chợ. Thí dụ như ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có hai cái “chợ lạ”, đó là chợ hột Cái Mơn ở Chợ Lách (Bến Tre) và chợ rơm Tân Hòa ở Lai Vung (Đồng Tháp). Dù chợ hột chỉ hoạt động từ sau Tết nguyên đán đến tháng 4 âm lịch nhưng bán đủ loại hột như hột xoài, hột sầu riêng, hột chôm chôm, hột cam, hột quýt… Và theo như tác giả, thì: “Phát sinh chợ hột từ khi nhu cầu trồng cây ăn trái các tỉnh miền Đông Nam bộ tăng vọt, tại Cái Mơn có một vài hộ thu mua các loại hột về bán cho các nhà vườn ươm cây. Những trái xoài, sầu riêng, chôm chôm được người tiêu dùng ăn xong bỏ hột, dân quét rác ở các chợ trên TP. HCM gom lại bán cho vựa hột ở chợ Hòa Bình và từ đây lại chuyển về cho các vựa ở chợ hột Cái Mơn. Hột xoài thì bán tính thiên, hột sầu riêng tính ký, hột cam, hột quýt thì bán đong từng lít”. (Chợ lạ ở ĐBSCL).

Đi chợ Dương Đông ở Phú Quốc hồi tháng 1-2005, tác giả kể: “Đặc biệt, khách du lịch nước ngoài đến chợ Dương Đông, họ không mua đồ khô mà mua thực phẩm tươi sống như thịt heo, rau quả, hải sản cùng với soong nồi để nấu ăn trong ngày. Một chị bán cá nói rằng khách nước ngoài đến Phú Quốc đều muốn tự khám phá nét độc đáo của hòn đảo này, thế nên 90% khách tự tổ chức lấy bữa ăn, thông thường họ chỉ ăn sáng ở khách sạn theo tiêu chuẩn, còn trưa chiều thì đi chơi đến đâu nấu ăn ở đó”.

Đi chợ nổi Cái Răng (Cần Thơ) vào một ngày giữa tháng 5-2011, tác giả nhìn thấy sức sống lan tỏa từ nơi này: “Hiện nay, dọc hai bên bờ sông cặp chợ nổi Cái Răng hình thành nhiều vựa trái cây, chuyên đóng hàng đi các tỉnh miền Đông Nam bộ, lên Đà Lạt, Tây Nguyên bằng xe tải. Mỗi ngày, thương lái chở trái cây từ các nơi tập trung về chợ nổi, đổ hàng lên bờ cho các vựa”.

Kể câu chuyện “Chợ Sài Gòn: giữ thêm đẹp đất, đẹp người”, tác giả viết: “Sài Gòn khi mới ra đời đã được định hình là chợ, là đầu mối giao thương phía Nam Việt Nam và với vài nước miền Nam châu Á. Với tiểu thương, chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là nơi giữ gìn những nét văn hóa đặc trưng của đất và người Sài Gòn”.

Cùng là nhà báo (Lương Minh làm ở Thời báo Tài chính Việt Nam, Các Ngọc làm ở báo Sài Gòn Tiếp thị), nên hai tác giả, trong “Lời nói đầu” cuốn sách của mình, đã đồng lòng gởi nhận xét này tới bạn đọc: “Theo cái nhìn của nhiều người đi chợ, thích tìm hiểu văn hóa chợ, chúng tôi nhận thấy chợ truyền thống rất phù hợp với người Việt Nam, nên dù có nhiều siêu thị, trung tâm thương mại thì chợ vẫn tồn tại trong cuộc sống của người Việt Nam”.

♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121127/di-cho.aspx

Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012

Bồng bênh mở đất



Nghỉ hưu, nhà thơ Hồ Thanh Điền (quê An Phú, An Giang - hội viên Hội Nhà văn Việt Nam), tuyển 60 bài thơ làm thành tập Bồng bênh tím (NXB Hội Nhà văn và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật An Giang ấn hành, tháng 6.2012). Anh níu cái tên dân gian bồng bênh tím của loài lục bình để viết bài thơ chọn làm tên tập thơ - như muốn tìm lại dấu vết tiền nhân đi mở đất: Sông chảy / lục bình trôi / ngàn đời châu thổ /…bầu trời trong / đáy sông trong.




Hai mươi năm trước, nhà thơ Đynh Trầm Ca (quê miền Trung) từng sống ở An Giang và viết một câu thơ hay: Lục bình vừa trôi vừa trổ bông. Nay nhà thơ Hồ Thanh Điền nhìn  dòng trôi ấy qua nhiều sắc màu của trời đất phương Nam: Lục bình ngược xuôi / sông trôi bao thuở / chở mặt trời sớm / đỏ lòm màu nắng / chở vầng trăng chiều / chưa kịp sáng / chở cơm mưa đêm / còn thấm lạnh / chở yêu thương / đứt đoạn hững hờ /…Đây bãi chờ / đây bến đợi / thương hồ dừng lại / trổ bông công phượng / lục bình ơi! (Bồng bênh tím).

Tác giả kể tiếp câu chuyện dài mở đất với những câu thơ bình dị mà nặng lòng: Ba trăm năm trước / từng tốp người đi / những đợt sóng ngầm / phương Nam, phương Nam… / ba trăm năm / mười thế hệ / chưa một người về quê /…Tôi thế hệ thứ mười / ba lần qua bắc miền Trung / qua Nghệ An, qua Quỳnh Lưu… / chợt nhận ra giọng nói mình đã khác (Những người lưu xứ).

Đến nay, đã là mấy lớp hậu sinh cắm sào giữ đất: Mùa mưa lênh láng nước dâng /…Cây lúa thần nông không mọc ở kinh Thần Nông được (Kinh Thần Nông); Đêm tôi nằm nghiêng đón gió / Hơi hớm đồng bằng chen vào hơi thở / Lơ mơ giấc ngủ tay cầm con cá con cua (Đồng Tứ giác); Tràm mấy úa / em mấy long đong / hình như lá / hình như nước / cuốn đời ta lận đận (Trà Sư mùa nước nổi). Đôi khi là một sản vật của vùng đất mới: Không mọc ngày nắng gắt / không mọc ngày mưa dầm /…Anh đến em sau vài cơn mưa nắng / đột nhiên như nấm mối mọc sau vườn (Nấm mối). Lúc leo lên đỉnh núi Cấm giữa đồng bằng, kẻ hậu sinh lại nhìn thấy… biển của thời Nam tiến: Điện Bồ Hong / Hình như gió biển / …Ai gõ be xuồng / Ta và đá lắt lư say (Đỉnh gió). 

Và có những lần độc thoại: Ta vịn bóng đời đi suốt / Rơi hết tuổi thơ trên đường xa / Thời gian, thời gian sót nhánh tre già (Về quê); Bài thơ viết vội thay nhang / Kính người xương cốt trăm năm vơi đầy / Chắp hai tay mở hai tay / Giật mình ngỡ có khói bay gió lùa (Ngàn năm Mo So). 

Để rồi từ phương Nam, những lúc đi ngược về phương Bắc, nhà thơ mang hồn cốt  lục bình trôi như nhớ cố hương: Ngàn xưa ai lạnh buốt ngàn sau / Bạch Đằng, Bạch Đằng, đời không bão (Qua Bạch Đằng giang); Hình như ta uống hết sông Gâm / Hình như em không là em nữa / Hình như đêm không còn thắp lửa / Để ta về thuở trước mấy ngàn năm (Thoáng chạm Nà Hang)…


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121120/bong-benh-mo-dat.aspx

Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Ai ơi bưng bát cơm đầy…



Từ hàng nghìn năm qua và hàng nghìn năm tới, chắc chắn hạt gạo vẫn là nguồn lương thực ổn định trong thực đơn của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà từ xưa tới giờ, người Việt Nam gọi bữa ăn là bữa cơm. Hằng triệu người dân các nước khác, chắc hẳn cũng vẫn cần có cơm gạo dài lâu.

Với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đến cuối thế kỷ thứ 20, vùng này đã trở thành nơi giữ vai trò chính bảo đảm an ninh lương thực cho cả nước và giúp Việt Nam thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới. Năm 2011, dù bị lũ lụt nặng, ĐBSCL đã làm ra trên 51% trong hơn 41 triệu tấn lúa của cả nước và chế biến xuất khẩu được hơn 90% trong số hơn 7 triệu tấn gạo xuất khẩu của cả nước. Tới tháng 11-2012, xuất khẩu gạo của nước ta đang dẫn đầu thế giới và có thể xuất được 7,7 triệu tấn vào cuối nay năm, theo VFA.

Nhưng rồi câu chuyện sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL trong tương lai sẽ ra sao khi mà vùng châu thổ này đang và sẽ là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nặng nhất về biến đổi khí hậu của trái đất? 

Đọc cuốn sách “Sản xuất lúa và tác động của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL” (do NXB Tổng hợp TP.HCM và Thời báo Kinh tế Sài Gòn ấn hành, tháng 10-2012), có thể giúp ta tìm được câu trả lời. 



Sách do hai nhà giáo và cũng là nhà khoa học đang làm việc tại trường Đại học Cần Thơ - PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ và TS Lê Anh Tuấn - biên soạn. PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ giới thiệu tổng quan về sản xuất lúa, tài nguyên giống lúa, các mô hình canh tác lúa và về vai trò của nông dân trong sản xuất lúa ở ĐBSCL. TS Lê Anh Tuấn giới thiệu về điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL, bức tranh chung về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu và việc thích nghi với biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa ở ĐBSCL. Trong chương cuối, hai tác giả cùng đưa ra nhận định về tương lai của câu chuyện sản xuất lúa ở ĐBSCL trong thời biến đổi khí hậu toàn cầu. 

Cuốn sách như một cẩm nang kiến thức phổ thông về sản xuất lúa và biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, rất cần cho những ai quan tâm tới đề tài này.

Đọc xong cuốn sách, chợt nhớ tới câu ca dao: 

Ai ơi bưng bát cơm đầy 
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Từ bao đời nay, câu ca dao ấy nhắc ta nhớ tới công lao làm ra hạt gạo của bao người, mà trực tiếp là của nhà nông. Và phải chăng, câu ca dao ấy cũng ẩn chứa nỗi lo về mùa màng lúa gạo khi mà ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên trái đất sẽ chẳng chừa một ai, nếu ta không lường trước được bao điều “cay đắng”? 

♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên ra ngày 13-11-2012

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Mía đường – nhìn từ một hội thảo quốc tế




Trở về từ hội thảo quốc tế tại Ấn Độ “Những lĩnh vực mới trong nghiên cứu cây mía” (15 đến 18-10), GS-TS Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo, cho biết: “Đây là dịp để nắm được toàn bộ khung cảnh nghiên cứu khoa học về cây mía, qua đó chúng tôi thấy rất rõ trình độ cây mía của Việt Nam còn thua xa các nước khác trên thế giới”.

Tại hội thảo này, Tiến sĩ S.K. Dutta, Phó Tổng giám đốc Hội đồng Nghiên cứu khoa học nông nghiệp Ấn Độ (ICAR) cho biết, mặc dù số nhà máy đường đã tăng từ 30 (năm 1930) lên 560 (năm 2012), nhiều địa phương trong nước vẫn cần thêm nhà máy đường. Tiến sĩ N. Vijayan Nair, Viện trưởng Viện Chọn tạo giống mía (SBI) của Ấn Độ cho biết trong 100 năm qua, viện đã cho ra đời khoảng 2.500 giống mía. SBI cũng đã nghiên cứu đặc tính di truyền của giống mía từ thập kỷ 1990 và đang nghiên cứu công nghệ biến đổi gen mía. Tiến sĩ Nair lưu ý các quốc gia sản xuất đường sẽ đối đầu với thách thức lớn trong tương lai. Đó là nhu cầu tiêu thụ đường ăn sẽ tăng 50% trong năm 2030 nên rất cần có giải pháp khoa học công nghệ thích hợp. Ông cũng nói, biến đổi khí hậu sẽ tác động xấu đến sản lượng mía bất kỳ ở vùng trồng mía nào trên trái đất. Các chuyên gia khí hậu dự đoán sản lượng mía sẽ giảm 20% mỗi khi nhiệt độ bình quân tăng 1 độ C.

Phía sau đoàn là bụi cỏ Erianthus arundinaceus đối tượng đang được dùng lai tạo với mía trồng để chọn ra những giống mía có giá trị cao hơn mía trồng hiện nay.
(Ảnh & chú thích: GS Võ Tòng Xuân)


Bên lề hội thảo, giáo sư Võ Tòng Xuân còn gặp riêng nhiều đoàn để tìm hiểu thêm kinh nghiệm sản xuất mía đường. 

Ở Brazil (đang dẫn đầu thế giới về sản xuất mía đường), có Mạng lưới Nghiên cứu giống mía Brazil (RIDESA) gồm 10 trường đại học liên bang. 20 năm qua, RIDESA tạo được 59 giống mía cao sản, (chiếm 59% giống mía ở Brazil). Năm 2011, RIDESA có thêm 2 giống mía chịu khô hạn và kháng bệnh rĩ sắt. Ngoài RIDESA, Brazil còn có Trung tâm Kỹ thuật cây mía (CTC) và Viện Nông học Campinas (IAC). CTC đang giữ bộ sưu tập giống mía lớn nhất của Brazil, cung cấp miễn phí những gen mía cho bất cứ nhà khoa học nào. Năm 2011, CTC cho ra đời thêm 2 giống mía chịu hạn. CTC cũng đang thử nghiệm tạo giống mía được biến đổi gen để tạo giống mía chịu hạn tốt. Viện IAC đang chọn tạo giống mía chịu hạn và chịu ngập để đối phó với tình huống biến đổi khí hậu. Vài con số về vụ mía 2011-2012 tại Brazil: Năm 2010 có 330 nhà máy đường; sản lượng mía 631 triệu tấn (tăng 2% so năm 2011) / 9,65 triệu ha (tăng 8% so năm 2010) - 46,6% dành sản xuất đường, 53,4% làm rượu ethanol; sản lượng đường 39,6 triệu tấn (tăng 1,45 triệu tấn so năm 2010); năng suất mía bình quân 71 tấn/ha; lượng đường thu hồi là 140,23 kg/tấn mía; xuất khẩu 27,3 triệu tấn đường.  

Ở Úc (nước đang cung cấp đường thứ 3 thế giới) đã xuất khẩu 2,8 triệu tấn đường vụ mùa 2011-2012 nhờ sản lượng 4,5-5 triệu tấn đường làm từ 32-35 triệu tấn mía (366.000 ha). Chữ đường của Úc đạt từ 13,9% đến 14,5%. Vụ mùa 2012-2013 Úc đã xuống giống 380.000 ha, tăng 14.000 ha. Nghiên cứu về mía đường để phục vụ cho nông dân chủ yếu do Công ty BSES (tư nhân, do hệ thống các nhà máy đường và nông dân lập ra) và Tổ chức CSIRO (nhà nước) lo. Úc hiện có 4.000 nông trại mía và 24 nhà máy đường. Phần lớn nông trại làm khoảng 100 ha, nhiều nông trại làm tới 1.000 ha. Nông trại Úc áp dụng hầu hết cơ giới trong trồng trọt và thu hoạch; nhưng lao động ngành trồng mía có khoảng 6.000 người.

Ở Thái Lan, vụ mùa 2011-2012, nông dân trồng 1,4 triệu ha mía, sản lượng 100-105 triệu tấn mía, năng suất bình quân 77,3 tấn/ha. Với tỉ lệ thu hồi 104,3 kg đường/tấn mía, tổng sản lượng đường Thái Lan lên đến 11 triệu tấn; đã xuất khẩu 9 triệu tấn, đứng hàng thứ 2 thế giới. Lượng tiêu thụ đường bình quân đầu người của Thái Lan (40 kg/người) xếp thứ 3 thế giới. Thái Lan phát triển giống mía bắt đầu từ Trung tâm Suphanburi ở U Thong; tiếp đó là trường Đại học Nông nghiệp Kasetsart chi nhánh ở Kamphaeng Saen (vùng mía miền Bắc) và Kanchanaburi (vùng mía miền Trung), Khoa Nông nghiệp trường Đại học Khon Kaen, Khoa Nông nghiệp trường Đại học Chiang Mai, và một số trung tâm vùng của Bộ Nông nghiệp. Hàng năm, Bộ Nông nghiệp Thái Lan tổ chức thí nghiệm cấp quốc gia “Đánh giá giống mía triển vọng từng vùng trồng mía” để các nhà máy đường áp dụng. Thái Lan hiện có 47 nhà máy đường; dự kiến sang vụ 2012-2013 sẽ có thêm 4 nhà máy nữa và đến 2017-201 sẽ có 60 nhà máy.

Khi ngành đường phát triển mạnh ở Thái Lan, nhu cầu giống mía bức xúc, riêng Công ty Mitr Phol đã xây Trung tâm Đổi mới và nghiên cứu cây mía Mitr Phol từ năm 1997 để phục vụ khoa học nông nghiệp cho 5 nhà máy đường của mình. Tiến sĩ R. Saravanan, khoa học gia cao cấp của Công ty Mitr Phol, cho biết trung tâm này phục vụ cho 20.000 nông hộ trồng 300.000 ha mía. Trung tâm có 60 chuyên viên lo từ việc sưu tập giống, chọn cây bố mẹ để lai tạo, chọn giống tại các vùng mía, nhất là nghiên cứu các biện pháp nông học để tăng năng suất mía và chữ đường, bảo đảm sản xuất của công ty đồng thời nâng cao lợi tức của dân trồng mía. Những giống mía của Mitr Phol tạo ra có tên bắt đầu bằng chữ MP. Công ty Đường Mitr Phol đang sản xuất 2,8 triệu tấn đường/năm (thứ 5 thế giới) đồng thời sản xuất ra 162 MWh điện cùng 800 triệu lit ethanol.

Còn ở châu Phi thì Nam Phi là nước sản xuất đường lớn nhất với một tổ chức rất căn cơ. Chính phủ Nam Phi đã thành lập Viện Nghiên cứu Mía Nam Phi (SASRI) từ năm 1925. Đến năm 2012, Viện SASRI đã phổ biến 53 giống mía, trong đó 45 giống do viện lai tạo, 8 giống nhập từ Ấn Độ và một số nơi khác. Hiện nay Nam Phi có 23.130 nông dân trồng mía trên tổng diện tích 400.000 ha, sản xuất được 19 triệu tấn mía và 2,7 triệu tấn đường từ 13 nhà máy đường.

***

Nhìn lại mình, giáo sư Võ Tòng Xuân nhấn mạnh: “Việt Nam không có gì đóng góp khoa học cho ngành sản xuất mía thế giới. Khi phát triển ngành mía đường trên các địa bàn trong nước thì chúng ta không có đủ dữ kiện khoa học cụ thể của từng vùng trồng mía để giúp cho nông dân trồng mía sản xuất có lợi cao”.

Theo giáo sư Xuân, đoàn Việt Nam đã thấy được những khiếm khuyết về mặt khoa học, từ lai tạo, chọn giống cho từng vùng trồng mía khác nhau, đến các kỹ thuật quản lý đồng ruộng bảo đảm cây mía có năng suất cao và chữ đường cao. Giai đoạn cạnh tranh mãnh liệt sẽ đến khi cam kết trong WTO sẽ cho nhập khẩu tự do đường từ các nước, nhất là Thái Lan.

Giáo sư Võ Tòng Xuân đề nghị: “Nhà nước cũng như các công ty đường của Việt Nam cần đầu tư kinh phí để thiết lập các chương trình nghiên cứu cây mía Việt Nam từ các viện, trường đại học sẵn có tại các vùng sinh thái, và cần thiết lập Viện Nghiên cứu Mía có đầu tư đích đáng, đồng thời cần cải tiến công cuộc đào tạo cán bộ ngành mía đường”. 


Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

GS-TS. Võ Tòng Xuân: “Phải cải cách và đổi mới mạnh hơn”




Năm nay 72 tuổi, GS-TS Võ Tòng Xuân – hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo, vẫn nóng bỏng những thao thức làm cho nông dân giàu lên và đổi mới được sự nghiệp giáo dục, như hồi còn làm việc ở đại học Cần Thơ, đại học An Giang…


GS-TS Võ Tòng Xuân sinh ra trong một gia đình nghèo ở Châu Đốc, An Giang. Lúc nhỏ ông lên Sài Gòn tự lập để phụ cha mẹ nuôi các em và để có tiền đi học đến khi thành tài. Ông đã từng đi bán báo dạo dọc các bến xe đò, đêm đi dạy kèm cho học sinh luyện thi. Thế mà một ngày đầu tháng 4-1975, trong khi nhiều người rời đất nước, ông quyết định quay về Việt Nam ngay sau khi trình luận án tiến sĩ nông học ở Nhật.

* Xác định mục đích sống cho đời mình 

Còn nhớ, trong một căn phòng làm việc chật chội ở Đại học Cần Thơ hồi năm 1985, giáo sư Xuân nói: 

- Anh nghĩ coi, nông dân mình, hễ trời sụp tối là phủi sơ hai bàn chân khô sình đất, leo lên giường. Trong lúc đó, ở các nước tiên tiến, nông dân họ đi giày trong nhà, ngồi trước ti vi, lò sưởi hoặc đến các câu lạc bộ nông trang. Mà chắc chắn là họ không anh hùng hơn dân tộc mình, tài nguyên của họ không giàu hơn của mình. 

Rồi ông lại đăm chiêu: 

- Cây lúa ĐBSCL còn bề bộn công việc vây quanh nó. Lúa mùa, đất ngập mặn, nhiễm phèn, trình độ dân trí… Làm sao để tìm ra được giống lúa thích hợp kèm theo các kỹ thuật tương ứng? Tôi thao thức nhiều về những vùng đất hoang lớn ở đồng bằng này, mà nông dân thì họ bỏ đi, bám sống ven quốc lộ với tỷ lệ sinh đẻ quá cao, cứ như phó mặc cho số phận.

Trước đó, những năm 1975-1977, người ta hay gặp ông và nhiều đồng nghiệp cùng hàng trăm sinh viên Đại học Cần Thơ, lặn lội qua hàng ngàn héc ta ruộng lúa cháy rụi vì giặc rầy nâu, băng qua những cánh rừng tràm xơ xác vì thuốc khai hoang thời chiến tranh, những đồng cỏ năn dày mịt, hoang vắng mênh mông. Khi thì lội bì bõm, khi thì lắc lư trên chiếc xuồng nhỏ hoặc ngồi nghêu ngao trên những mui tàu đò; lúc đi xe đạp, lúc chạy xe gắn máy hay đeo cửa một chuyến xe đò nào đó trên các tuyến hương lộ đồng bằng.

Mười năm đầu sau ngày hòa bình 1975, hoạt động khoa học của GS-TS Võ Tòng Xuân, Phó hiệu trưởng Đại học Cần Thơ, chỉ nhằm một hướng: phát triển nông thôn. Ông đã linh động vượt qua nhiều thử thách trong cơ chế bao cấp lúc đó để làm cho được mục tiêu đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất. Ông tâm sự: 

- Sự giàu có của dân lao động các nước nghèo tài nguyên thiên nhiên mà tôi đã đi qua làm tôi nghĩ đến dân mình - những người chủ nghèo sống trên tài nguyên giàu có. Từ đó tôi đã xác định mục đích sống cho đời mình: phải đem hết tri thức để đóng góp cho đất nước, làm sao cho dân mình mau trở thành những người chủ giàu như dân các nước tiên tiến. Cách cơ bản nhất, theo tôi, là phải đào tạo con người có tri thức và lý tưởng để cùng tham gia phát triển đất nước. 


Giáo sư Võ Tòng Xuân và đại úy Nguyễn Văn Trọng tại Nông trường Động Cát (Quân khu 9) năm 1985 với cây tràm được sạ đại trà trên những cánh đồng phèn.
Ảnh: DAVID CARLING


* Đóng cửa trường ra đồng cứu lúa

Nhớ lại cái thời cả nước thiếu gạo, ĐBSCL bị dịch rầy nâu, Đại học Cần Thơ tạm đóng cửa để ra đồng cứu lúa, ông kể:

- Đó là một quyết định táo bạo. Trong lúc ruộng lúa cao sản của hàng trăm ngàn nông dân bị thiệt hại vì rầy nâu, không còn gạo để ăn mà phải ăn thân cây chuối xắc mỏng, biện pháp hữu hiệu nhất và ít tốn kém nhất là sử dụng giống lúa kháng rầy nâu phủ kín đồng bằng. Cách thực hiện cũng phải phù hợp với thực tế. Chiến thắng của nông dân ĐBSCL đối với con rầy nâu là một kỳ công làm cho các chuyên gia quốc tế đều thán phục. 

Đây là một sự phối hợp lực lượng rất độc đáo. Từ 5 gram hạt giống lúa IR36 gởi trong một bao thơ từ Viện Lúa Quốc tế ở Philippines, tôi và anh Nguyễn Văn Huỳnh đã thanh lọc tính kháng rầy và tiềm năng năng suất của IR36, sau đó nhân ra khoảng 2 tấn lúa giống. Lúc đó giặc rầy nâu khủng khiếp đang đốt cháy hầu hết các cánh đồng lúa cao sản trồng giống lúa cũ TN73-2 và IR26. Hàng trăm ngàn bà con nông dân điêu đứng; nhiều người bán hết cả tủ thờ để đầu tư trừ rầy nâu nhưng vẫn thất bại, phải cột xuồng nối đuôi nhau đi sang các tình Sóc trăng, Bạc liêu, Cà Mau để mua gạo ăn. Tôi đề nghị ban giám hiệu cho đóng cửa trường trong 2 tháng để chúng tôi cho sinh viên đem phổ biến giống lúa mới IR36 kháng rầy để cứu nông dân. Chú Bảy Phạm Sơn Khai, Bí thư Đảng ủy kiêm Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ đã đồng ý cho thực hiện. Hơn 2.000 sinh viên nông nghiệp và sư phạm, sau 2 ngày được huấn luyện cấp tốc 3 phương pháp: sản xuất mạ, chuẩn bị đất cấy, và cấy lúa 1 tép/buội, đã ra quân dưới sự hướng dẫn của cán bộ Khoa Trồng trọt đến tất cả các địa phương đang có rầy nâu xuất hiện. Mỗi sinh viên mang 1 kí lúa giống IR36 để cấy ra 1.000 mét vuông, trái với tập quán của nông dân là phải cần đến 8-10 kí lúa giống. Cán bộ nông nghiệp ở các huyện, xã trong tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Vĩnh Long và Cần Thơ bố trí cho từng sinh viên đến ruộng của nông dân đang gặp hại để chuẩn bị trồng giống lúa IR36 theo kỹ thuật mới. 

Ba tháng sau, tất cả các ruộng IR36 chuẩn bị được gặt, nông dân phải ra đồng ngủ giữ lúa để không bị ăn cắp giống. Bà con đổi lúa giống cho nhau và tiếp tục nhân giống kiểu 1 tép/buội như sinh viên đã hướng dẫn, và chỉ trong hai vụ lúa, giống mới IR36 đã phủ kín khắp các vùng lúa cao sản, đánh đuổi giặc rầy nâu, chấm dứt thảm họa của nông dân”. 
          
Nhìn lại công cuộc đổi mới về kinh tế của đất nước, giáo sư Xuân nhận xét:

- Cũng con người này, đất nước này, nhờ có thay đổi chính sách một chút là có cải cách, có đổi mới. Từ một đất nước thiếu thốn đủ thứ, phải ăn gạo theo tem phiếu… trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới, dân mình đã khá hơn xưa. Nhưng, đến giờ đại bộ phận nông dân vẫn còn nghèo và thua thiệt. Cái chính của thời hội nhập là Nhà nước mình phải dám thay đổi thêm chính sách, cải cách và đổi mới mạnh hơn thì chúng ta mới có thể thắng được cái nghèo.

* Lấy người học làm trung tâm

Trăn trở về giáo dục, ông nói:

- Sản phẩm giáo dục của nước ta còn nhiều hụt hẫng so với các nước tiên tiến. Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đánh giá rằng hệ thống giáo dục Việt Nam chưa phải là nơi tạo động lực tối hảo cho sự nghiên cứu và phát triển đất nước và chưa làm được nơi ươm mầm cho các tài năng xuất chúng của quốc gia. 

Đổi mới giáo dục sẽ phải bắt đầu từ bậc phổ thông, lần lên đến bậc đại học, trong đó sự đổi mới phương pháp đào tạo tại đại học sư phạm đóng vai trò then chốt. Nhưng rất tiếc là Nhà nước chưa thấy sự cần thiết đó. Và như thế chúng ta sẽ càng làm chậm đi tiến trình đổi mới. Hệ thống đào tạo của Việt Nam hiện nay, từ chương trình đào tạo quá nặng nề - có quá nhiều môn học lý thuyết, nhiều môn học không quan trọng cho ngành chuyên môn, gấp đôi thời gian lên lớp so với sinh viên các nước khác, đến cách dạy chủ yếu vẫn là đọc – chép, vì dạy theo kiểu mới như “lấy người học làm trung tâm” sẽ bị cháy giáo án, cho nên không phát huy được tính sáng tạo, suy nghĩ độc lập của người học. Trong khi đó, nhất là đối với những sinh viên xuất sắc, nhu cầu học cấp bách những kỹ năng cao cấp ngày càng tăng, nhưng bị hệ thống giáo dục kìm hãm, không phát huy được. Mọi sinh viên phải chờ nhau cùng đi lên chầm chậm, người muốn đi nhanh không có cách gì để đi trước được. Trong khi đó, hệ thống giáo dục ở các nước chung quanh Việt Nam đều đã chuyển từ lâu. 
              
Còn đây là tâm sự của giáo sư Võ Tòng Xuân với thanh niên: 

- Thanh niên ngày nay có thể bị mất phương hướng phấn đấu khi thấy những biểu hiện xã hội hiện nay. Nhiều em phân vân tự hỏi mình phấn đấu học giỏi làm gì khi tiềm năng đất nước rất giàu đẹp, hàng bao nhiêu người không cần học hành gì mà vẫn làm giàu nhờ biết cách sử dụng của cải của người khác? Nói thế chứ chúng ta không thể bắt chước người vi phạm mà cũng vượt đèn đỏ khi đến nút giao thông. Thanh niên chúng ta không nên buông trôi theo cách sống “chụp giựt” mà cần nên là một cá nhân kiểu mẫu để góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, tri thức thông thái trong tương lai. Phải có ước mơ là mình sẽ làm gì để góp phần xây dựng xã hội ấy, phải thích cái ước mơ ấy, tức là phải có cái tâm với nó. 

Để thực hiện, trước nhất và cơ bản nhất là phải học thật và học giỏi, không học tắt để lên lớp hoặc để lấy bằng cấp. Trong mọi hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, càng phải có nghị lực vượt khó, luôn tìm cơ hội để phát huy trong mọi hoàn cảnh, không để mình bị trói buộc bởi những trở ngại. Như thế thì thanh niên sẽ có tri thức và kỹ năng, từ đó mới có nhiều sáng kiến thực hiện ước mơ của mình. Nhưng thế chưa đủ. Có tâm và trí rồi, thanh niên phải dũng cảm tìm cách thực hiện những sáng kiến của chính mình để làm giàu và đồng thời tạo của cải giúp ích xã hội. Trong quá trình thực hiện ý tưởng ước mơ, thanh niên còn phải trong sạch, liêm chính, không tráo trở, gạt gẫm và tham nhũng với bất cứ ai. Tóm lại, người thanh niên mới của thời đại phải có “tâm, trí, dũng, liêm.”    


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121107/gs-ts-vo-tong-xuan-phai-cai-cach-va-doi-moi-manh-hon.aspx

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Dân khúc buồn



Khúc ca dao / Hát một mình / Ta ru ta / Cả mảnh thinh không buồn / Tạ tình người / Đoạn thơ suông / Cứa lòng nhau / Gió lạnh suồng sã cây. Tự tình với bài thơ Dân khúc bằng hai khổ lục-bát-rơi ấy, nhà thơ Vĩnh An như muốn chạm vào cái điệu buồn sinh tử của một câu Kiều: Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 




Không dưng mà anh để dành bài Những chuyện bình thường vào cuối tập thơ với những câu sầu não như vầy: Đi qua năm tháng nước lã khí trời / Gạo chợ nước sông cùng cực / Mùi tiền đăng quang làm chuẩn mực /…Gọi em lột dùm xác ve sầu. Trước đó, trong bài Thú nhận, anh viết: Nơi cánh đồng tận cùng cuống rạ /… Em treo tôi trên sợi tơ óng ả / Không thể đứng yên / Không thể lao về phía gió /… Đêm muộn màng / Tôi gọi khẽ và rơi.

Dân khúc còn có nhiều bài lục bát buồn hiu “những điều trông thấy” kiểu như vậy. Trong bài Gởi một buổi chiều: Bỗng dưng chiều ngã vào đêm / Người dưng vuột miệng hẹn tìm người dưng. Trong bài Trời mưa tháng sáu: Yêu đời đi dọc cơn mưa / Trắng tay từ độ mới vừa xa em. Hay trong bài Những người thương phải xa nhau: Những người thương phải xa nhau / Nên ngàn sóng cứ xô vào đá xanh / Yêu hoài dẫu rất mỏng manh / Lúc gần gũi, lúc đã thành người dưng. Để rồi: Chợt gần mà cũng chợt xa / Chẳng còn em, chẳng còn ta, chẳng còn (Vét tình).

Và khi quay trở về nhà, theo vợ đi chùa lễ Phật, người đàn ông nhìn lại mình: Đã hai màu tóc trên đầu / Chợt vụng dại với mấy câu nguyện thầm / …Cắm nhang xong nắm bàn tay / Nghe nhoi nhói mấy vết chai đàn bà (Theo em lễ Phật đầu năm).


Trong tập Dân khúc của nhà thơ Vĩnh An (hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Trà Vinh), còn có một chùm thơ hai-ku 4 bài. Đọc hai bài này, tôi hiểu được lòng tác giả: Làm giáo chức nửa đời / Cha làm thày con đi bán sách / Cha phủi bụi thơ con (Cha); Những nỗi đau người khác / Ám ảnh cuộc sống và giấc mơ / Thì ra của chính mình (Thi sĩ)   ◙


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121106/dan-khuc-buon.aspx