Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013
Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013
Châu Á đang sử dụng nguồn nước dành cho tương lai
![]() |
| GS B. Chellaney |
Theo Giáo sư Brahma, hiện nay các nền kinh tế của châu Á đang chịu áp lực về nước có Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Hàn Quốc và Nhật Bản - dù ba thập kỷ qua, chuyện này chưa xảy ra. Không chỉ là nước sông hồ mà cả với nước ngầm; ông nói: “Ở nhiều thành phố, nguồn nước này có nguy cơ cạn kiệt trong vài năm tới” và: “Những nơi tìm được nước ở tầng sâu hơn, hàng triệu giếng khoan sẽ hút cạn những tầng trữ nước cuối cùng ở châu Á”.
Lý do, vẫn theo Giáo sư Brahma, có bảy yếu tố: kinh tế tăng quá nhanh; mức tiêu thụ trên đầu người tăng vọt; mở rộng tưới tiêu; nhu cầu xài nước của đô thị và công nghiệp tăng; quá tải trong việc xây đập ngăn sông; gia tăng tác động môi trường; thiếu cơ chế ngăn ngừa xung đột. Về kinh tế, ông cho biết với mức tăng trưởng 7% vào năm 2000, châu Á đã sử dụng tới 92% tổng lượng nước thế giới mỗi năm. Về xây đập, là “nguồn gốc tranh cãi” của những nước ở thượng và hạ lưu, Giáo sư Brahma nói: “Chỉ một nước Trung Quốc, tính sơ đã chiếm hơn một nửa trong số gần 50.000 đập lớn trên hành tinh chúng ta”. Ông cho rằng châu Á không chỉ là trung tâm tưới tiêu của thế giới mà còn là trung tâm đập của toàn cầu. “Đây là châu lục có nhiều đập nhất thế giới và như vậy chỉ làm tồi tệ thêm những thách thức về nước ở nơi này”, ông nhấn mạnh.
Giáo sư Brahma nói nhiều tới yếu tố “thiếu cơ chế ngăn ngừa xung đột”, một nguyên nhân làm mất an ninh nguồn nước. Mới chỉ có 4/57 lưu vực sông ở châu Á có sự chia sẻ nguồn nước hoặc thỏa thuận hợp tác; đó là sông Mekong, sông Ganges, sông Indus và sông Jordan. Nhưng ở lưu vực Mekong thì: “Sự không tham gia của Trung Quốc, quốc gia chiếm ưu thế ven sông, đã gây cản trở nghiêm trọng đến thể chế hợp tác”, ông nhấn mạnh và dự báo việc quản lý cạnh tranh nguồn nước ở châu Á sẽ càng trở nên khó khăn: “Tiềm năng của các cuộc xung đột về nước giữa các quốc gia châu Á được nhấn mạnh bởi việc đơn phương đắp đập ngăn dòng các con sông quốc tế và sự chia sẻ nguồn nước thiếu phù hợp trong hầu hết các lưu vực xuyên quốc gia. Căng thẳng lâu dài giữa các quốc gia và bất ổn nội bộ, cùng với nhu cầu về nước tăng cao trong một thời đại suy thoái môi trường, tạo ra điểm nóng tiềm ẩn cho các cuộc xung đột nguồn nước nghiêm trọng ở một số lưu vực xuyên quốc gia ở châu Á”.
| Khô hạn ở huyện Tịnh Biên, An Giang. Ảnh: Lê Hoàng Vũ |
Dẫn kinh nghiệm hợp tác của châu Âu về xây dựng thể chế nguồn nước, Giáo sư Brahma cho biết châu Âu dẫn đầu trong việc phát triển công nghệ nước sạch và “nắm giữ chìa khóa cho một tương lai an toàn hơn cho thế giới”. Từ kinh nghiệm này, ông đặt câu hỏi: “Làm thế nào các quốc gia châu Á có thể ngăn chặn các cuộc tranh giành quyết liệt về nguồn nước để dẫn tới các cuộc xung đột công khai?” và tự trả lời: “Để ngăn chặn các nguy cơ an ninh, các nước châu Á phải đầu tư nhiều hơn về việc thể chế hóa hợp tác về tài nguyên lưu vực sông xuyên biên giới nhằm củng cố sự ổn định chiến lược, tiếp tục bảo vệ tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững môi trường”.
Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013
“Giải mã” Nguyễn Nhật Ánh
Nhà thơ Lê Minh Quốc, đồng hương Quảng Nam của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, vừa cho ra mắt cuốn sách do anh biên soạn: “Nguyễn Nhật Ánh – hoàng tử bé trong thế giới tuổi thơ” (NXB Kim Đồng ấn hành). Sách như một lời “giải mã” về Nguyễn Nhật Ánh, nhà văn đang có bút lực sung mãn và được hàng triệu bạn đọc trẻ yêu thích.
Trong vòng 28 năm, từ 1984-2012, Nguyễn Nhật Ánh đã cho ra đời 112 tác phẩm văn học gồm thơ, truyện dài, truyện ngắn, tiểu thuyết, tạp bút. Trong đó, riêng bộ truyện thiếu nhi “Kính vạn hoa” 54 tập đã được NXB Kim Đồng in hơn một triệu bản. Đây cũng là nhà văn tuổi trung niên (năm nay anh 58 tuổi) nhận được nhiều giải thưởng văn học trong và ngoài nước: “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” nhận Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009, Giải Văn chương ASEAN 2010 và Gỉải sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam năm 2009; “Kính vạn hoa” được Hội Nhà văn Việt Nam trao Giải thưởng Văn học năm 2002; “Chú bé rắc rối” nhận Giải Văn học Trẻ hạng A của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1990; “Tôi là Bêtô” nhận Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn TP.HCM năm 2008…
Sách của anh cũng được bạn đọc nước ngoài chọn, như “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” được dịch sang tiếng Anh, tiếng Thái, tiếng Hàn; “Mắt biếc” dịch sang tiếng Nhật; “Cô gái đến từ hôm qua” được dịch sang tiếng Nga và được đưa vào giáo trình dạy tiếng Việt tại ĐH Moscow và nhiều trường ĐH khác ở Nga. Ngoài ra, nhiều tác phẩm văn học của Nguyễn Nhật Ánh được chuyển thể thành phim và truyện tranh như “Nữ Sinh”, “Bồ câu không đưa thư”, “Buổi chiều Windows”, “Chú bé rắc rối”, “Thằng quỷ nhỏ”, “Kính Vạn hoa”, “Bong bóng lên trời”, “Những chàng trai xấu tính”, “Trước vòng chung kết”…
Nguyễn Nhật Ánh còn là nhà báo chuyên viết bình luận bóng đá (bút danh Chu Đình Ngạn) trên báo Sài Gòn giải phóng - nơi anh đang làm việc; giữ mục “Vườn hồng” chuyên tư vấn tình cảm (bút danh Anh Bồ Câu) trên báo Thanh Niên. Nhà văn một thời là thanh niên xung phong và nhà giáo này hiện cũng là chủ quán ăn đặc sản món Quảng Nam mang tên Đo Đo và chủ tiệm sách Kính vạn hoa ở TP.HCM.
Trong cuốn sách, nhà thơ Lê Minh Quốc đã kể những câu chuyện nhẹ nhàng về Nguyễn Nhât Ánh từ tuổi thơ cho tới năm 2012. Sách cũng sưu tầm nhiều bài viết của các bạn văn ở trong và ngoài nước ngoài kèm với nhiều hình ảnh minh họa, niên biểu tác phẩm, phụ lục thơ, tạp bút, bình luận thể thao, tư vấn tình cảm và cả những lời tâm huyết của Nguyễn Nhật Ánh về quan niệm sống và sáng tác. Xin trích:
Nguyễn Nhật Ánh: “Tôi tin điểm mạnh của văn chương nằm ở khả năng thẩm thấu. Bằng hình thức đặc thù của mình, văn chương góp phần mài sắc các ý niệm đạo đức nơi người đọc một cách vô hình. Được nuôi dưỡng bởi văn chương chân chính, trẻ em lớn lên sẽ biết yêu thương đồng bào, đồng loại, biết dị ứng và chống lại cái xấu, cái ác, biết yêu tự do”. “Mỗi dân tộc đều có thể treo một quả chuông trước cửa sổ tâm hồn của mình. Nhà văn có sứ mạng phải rung những quả chuông đó lên, bằng văn chương”. “Theo đuổi công việc viết văn là chấp nhận sống dưới áp lực thường trực từ nhiều phía. Áp lực của độc giả. Áp lực của sự đổi mới. Áp lực của sự vượt qua chính mình”. “Mỗi nhà văn đều tự nhiên có một nhà phê bình trong người… Chẳng hạn, tại sao anh chọn từ này mà không chọn từ kia, dùng lối diễn đạt này mà không dùng lối diễn đạt kia… Chất lượng văn chương của một nhà văn tùy thuộc vào chất lượng phê bình của chính nhà văn đó”.
Bạn văn trong nước: “Bí quyết tạo nên sự thành công kỳ lạ của Nguyễn Nhật Ánh có lẽ là ở khả năng nắm bắt tâm lý lứa tuổi học trò” (Nhà thơ Trần Đăng Khoa). “Có thể nói mỗi cuốn sách của Nguyễn Nhật Ánh như một chuyến tàu về tuổi thơ, ở đó có nhiều toa, mỗi toa là mỗi bất ngờ thú vị, mỗi háo húc mỗi say mê; khi làm ta bật cười, khi làm ta rưng rưng, hoặc ngồi lặng đi suy ngẫm” (Nhà văn Nguyễn Quang Lập). “Sử dụng thành thạo và thể hiện được sự trong sáng, phiêu linh, giàu có của tiếng Việt là tài năng của nhà văn... Trong số đó, có Nguyễn Nhật Ánh”. (Nhà thơ Lê Minh Quốc). “Đã vào tuổi ngũ tuần, sức sáng tạo từ con người này vẫn không có dấu hiệu dừng lại… Nguyễn Nhật Ánh là thế. Một nhà văn lương thiện, chân chính. Những giọt mồ hôi rơi trên trang viết hôm nay của anh cũng hệt như giọt mồ hôi trên lưng áo của anh thanh niên đạp xích lô năm 1976, và đẫm chiếc áo xanh những năm sau đó trên các công – nông trường gió bụi. Mồ hôi của sự lao động bao giờ cũng giống nhau”. (Nhà thơ Đỗ Trung Quân, 2005).
Bạn văn nước ngoài: “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh phản chiếu thế giới kỳ diệu của tuổi thơ và trí tưởng tượng phong phú của con trẻ, những điều mà người lớn không bao giờ biết tới hay không bao giờ nghĩ đến, đó là đời sống thật của trẻ em, nơi có mọi điều tốt lành mà chúng ta cần học hỏi” (Emme Achara - nhà xuất bản Nameebooks - Thái Lan). “Giọng văn trong “Mắt biếc” rất hay và nhẹ nhàng. Câu chuyện tình cảm trong sáng. Sau khi đọc truyện này, tôi bỗng muốn đi Việt Nam” (Nhà thơ Takatsuki Fumiko - Nhật). ■
* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 26-3-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130326/giai-ma-nguyen-nhat-anh.aspx
Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013
ASEM bàn chuyện hợp tác bảo vệ nguồn nước
![]() |
| Thanh niên Cần Thơ dự mít-tinh hưởng ứng “Ngày nước Thế giới 2013”. Ảnh: Duy Khương |
(TBKTSG Online) - Phát biểu khai mạc hội thảo “ASEM quản lý nước và lưu vực sông – cách tiếp cận tăng trưởng xanh” tại Cần Thơ sáng nay 21-3, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh: “Việc bảo vệ tài nguyên nước chỉ có thể bền vững nếu chúng ta có cách tiếp cận dài hạn, toàn diện và đa ngành, đặt trong chiến lược phát triển bền vững và tăng trưởng xanh của từng quốc gia”.
Ông Dũng đề nghị: “ASEM cần tích cực hơn, chủ động hơn trong việc hỗ trợ và kết nối các chương trình tiểu vùng, khu vực mà các thành viên đang triển khai, nhất là trong các dự án hợp tác Mekong” và khẳng định: “Việc bảo vệ và quản lý nguồn nước nằm trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam”.
Bày tỏ quan điểm về hợp tác ở lưu vực sông Mekong trước 51 chuyên gia thành viên Diễn đàn ASEM cùng đại diện của Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế dự hội thảo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Chỉ trong một thập kỷ vừa qua, Mekong đã trở thành một trong 5 lưu vực sông lớn trên thế giới có dòng chảy bị suy giảm nhiều nhất, tác động trực tiếp đến vựa lúa lớn nhất của Việt Nam” và cam kết: “Chúng tôi cùng các nước ven sông tăng cường hỗ trợ lẫn nhau, đề xuất và triển khai các chương trình hợp tác trong các khuôn khổ Ủy hội sông Mekong quốc tế, Hợp tác tiểu vùng Mekong mở rộng, Chiến lược hợp tác kinh tế ACMECS, hợp tác Mekong với các đối tác như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ”.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn kỳ vọng: “Hội thảo này sẽ giúp các nước ASEM cấp thiết nỗ lực chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững”. Ông mong muốn, vấn đề bảo vệ nguồn nước và lưu vực sông phải được nghiên cứu, đánh giá trong tổng thể chiến lược phát triển bền vững về bảo vệ sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, tiếp cận nguồn nước sạch…
Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang, thế giới đang có 148 lưu vực sông quốc tế, 273 tầng chứa nước ngầm xuyên biên giới với trên 3.600 thỏa thuận quốc tế liên quan đến nguồn nước xuyên biên giới. Hiện đang có 150 quốc gia cùng chia sẻ và sử dụng chung các nguồn nước. Theo dự báo đến năm 2025, có 1,8 tỉ người dân sống tại khu vực “hoàn toàn khan hiếm nước” và 2/3 dân số toàn cầu sẽ sống trong khó khăn về nguồn cung cấp nước.
![]() |
| Một bến nước ở Rạch Chanh, Cần Thơ - Ảnh: Trần Kim Đính |
Giáo sư Brahma Chellaney, Trung tâm nghiên cứu độc lập về chính sách của Ấn Độ, cho rằng khác với châu Á, “châu Âu dẫn đầu trong việc phát triển công nghệ nước sạch, nắm giữ chìa khóa cho một tương lai an toàn hơn cho thế giới”. Ông cho hay, 53/57 lưu vực sông xuyên biên giới ở châu Á không có cơ chế hợp tác như ở châu Âu. Ông đặt câu hỏi: “Làm sao để các quốc gia châu Á có thể ngăn chặn các cuộc tranh giành quyết liệt về nguồn nước?” rồi trả lời: “Các quốc gia châu Á phải đầu tư nhiều hơn việc thể chế hóa hợp tác về tài nguyên lưu vực sông xuyên biên giới”.
Về việc xây đập, Giáo sư Brahma Chellaney cho rằng châu Á là châu lục có nhiều đập nhất thế giới. Ông nói: “Chỉ một nước Trung Quốc, tính sơ đã chiếm hơn một nửa trong số 50.000 đập lớn trên hành tinh này và nó chỉ làm tồi tệ thêm những thách thức về nước”. Ông cũng kêu gọi tiết kiệm nước, nhất là trong nông nghiệp. “Các biện pháp sử dụng hiệu quả nước cho nông nghiệp là phải tăng năng suất trên từng giọt nước”, ông nhấn mạnh.
Hội thảo còn làm việc tiếp trong ngày mai, 22-3, gồm các chuyên đề: “Tài nguyên nước và phát triển bền vững”, “Nước – lương thực – năng lượng: hướng tới sự cân bằng”, “Nước và cuộc sống của người dân”, “Nâng cao hiệu quả hợp tác Á- Âu trong quản lý bền vững nguồn nước” với nhiều tham luận của các đại biểu Việt Nam, Ngân hàng Thế giới, Rumani, Hungary, Hàn Quốc, FAO, Ý, Lào, Indonesia, Trung Quốc, Hà Lan, Thái Lan, Ấn Độ…
![]() |
| Toàn cảnh hội thảo - Ảnh: Duy Khương |
Báo giới chỉ được dự họp phiên khai mạc hội thảo này theo yêu cầu của đại diện ban tổ chức – Bộ Ngoại giao.
* Mời đọc thêm tại TBKTSG Online 21-32-2013:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/93363/ASEM-ban-chuyen-hop-tac-bao-ve-nguon-nuoc.html
Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013
Chuyện cũ miền Nam
Cuối năm 2012, NXB Trẻ ấn hành tập di cảo thứ tư của học giả Vương Hống Sển (1902-1996) mang tên “Ăn cơm mới, nói chuyện cũ: Hậu Giang – Ba Thắc chứng tích, nhân vật, đất đai thủy thổ của miền Nam cũ”. Cuốn sách gồm 18 câu chuyện, đa phần được viết vào năm 1966, kể chuyện miền Nam hồi hai thập niên đầu thế kỷ thứ XX, thuở mà tác giả đã sống cả một thời tuổi trẻ.
Sách giữ đúng văn phong truyền cảm và chánh tả rất riêng của cụ Vương thời đó; thí dụ cụ viết Sốc-Trăng chứ không viết Sóc Trăng hoặc Bãi-Xàu thay cho Bãi Xào, hay là Cơ-me thay vì Khmer như bây giờ.
Thí dụ trong bài “Cánh đồng Cà-Mau, vựa cá mắm thiên nhiên của trời dành cho dân Việt”, cụ mở đầu bằng một đoạn ngắn mà có thể giúp ta hình dung ra được nguồn cội và thủy thổ cả một vùng đồng bằng sông Cửu Long: “Con sông lớn Mỹ-Công (Mékong) từ Tây-Tạng chạy suốt trên bốn ngàn cây số bề dài, như con rồng chín khúc (Cửu-Long-giang), xuyên qua Tây-Tạng, Trung-Hoa, Lào-quốc, Cam-bu-chia và Việt-Nam. Khi nhập vào đất Nam, nó chia làm hai nhánh con sông Tiền và con sông Hậu, và đèo thêm hai cái “túi thật lớn” chứa giữ nước dư ối là vùng Tháp-Mười về sông Tiền và vùng Cà-Mau về sông Hậu. Nhờ hai túi nầy đủ sức chứa nước thặng dư vào mùa nước đổ mà Miền Nam khỏi nạn lụt như Miền Bắc đã bị con sông Nhĩ-Hà làm khổ mỗi năm”. Đọc đoạn này ta có thể giựt mình, vì giờ đây “hai cái túi nước” đó, nay đã bị bao đê làm lúa vụ ba gây lụt lội tưng bừng như hồi năm 2011.
Về địa danh Cà Mau, cụ Vương viết: “Từ Bạc-Liêu đi một đỗi gặp một cánh đồng thấp phì nhiêu vô cùng, nhưng đặc biệt là nước sông rạch đều một màu đen thâm gần như mực xạ. Tiếng Cao-Miên gọi “swrock tưc khmau”, dịch “sốc nước đen”. Ông bà chúng ta Việt-hóa thành Cà-Mau, chớ không phải “Cà-Mâu” như nhiều đồng bào thường viết”. Kết thúc câu chuyện này, cụ kể: “Cũng vùng Ca-Mau có giống tràm mục lưu-lai nhiều đời, lá rụng cây ngã giữ nước đọng lại rồi nát thành bùn, biến ra một chất “than đá non” “nê-thán” (tourbe), xắn vuông-vắn phơi cho khô, chụm rất tốt. Đó là một nguồn lợi rất lớn về tương lai mà nước ta chưa khái thác vậy”.
Trong bài “Ba-Thắc, Hậu-Giang, năm mươi năm về trước” viết vào tháng 7-1966, cụ Vương giải thích cái tên Ba Thắc và vùng Hậu Giang: “Miền Ba-Thắc, tức là Srock Bassac theo cách đọc của người Cơ-me, gồm các tỉnh trù phú miệt Hậu-Giang, kể từ Châu-Đốc (Thổ gọi Moat-chrut có nghĩa là “miệng heo”) xuống đến mũi Cà-Mau, mấy tỉnh nầy muốn giao thông với Sài-Gòn, thì có tàu sắt gọi xà-lúp (chaloupe) liên lạc chạy đều đều”.
Ai muốn biết ruộng đất thời đó ở miền Tây Nam bộ giá trị ra sao, xin đọc thử đoạn này trong bài “Phương pháp làm giàu của vài ông chủ điền lớp trước”:“Thuở ấy, trước năm 1930, đồng Rạch-Giá và Cà-Mau đã có người đứng tên xin khẩn, hoặc choán chỗ và khai phá gần hết sạch. Cho nên mặc dù đất trũng có phèn mà các tay kinh doanh đến trễ cũng đổ xô và đua nhau xin khẩn, kẻ thì đất ở Đồng Tháp Mười, kẻ thì dọc hai bên bờ con kinh Phụng Hiệp nầy”.
Gần đây báo chí có nhắc tới “thương cảng Bãi Xào” ngày xưa, nơi xuất khẩu gạo nổi tiếng của miền Tây, nằm ở Hậu Giang. Trong bài “Nói bắt quàng, lẩm cẩm” viết hồi cuối năm 1965, cụ Vương Hồng Sển - người “sanh trưởng miền quê đất Hậu Giang, chỉ biết nhớ tỉnh nhà Sốc-Trăng” - kể: “Bãi-Xàu ngày nay rất phồn thịnh vì đây là chợ lúa gạo trong xứ, chỗ dự trữ lúa đợi đủ số có ghe chài vận chuyển lên Chợ-Lớn xay ra gạo cho chúng ta ăn. Lúa miệt đồng Bưng-Xà-Mo, đồng Trà-Thê, đồng Mã-Tộc, Giồng Có, đều qui tụ về đây”, rồi giải thích thêm: “Bãi-Xàu có một tên khác rất nên thơ là làng Mỹ-Xuyên, lấy tên con sông chạy ngang đây nối liền rạch Ba-Xuyên (Sốc-Trăng) ra biển cả, nhưng Mỹ-Xuyên chỉ là danh-từ dùng trên mặt giấy tờ gởi lên quan, chớ dân bản xứ vẫn gọi Bãi-Xàu quen miệng”.
Về ẩm thực quê nhà, cụ Vương miêu tả kĩ càng hơn. Thí dụ như trong bài “Nhớ cá cháy, thèo-lèo, mè-láo là nhớ Hậu-Giang và nhớ Sốc-Trăng”, cụ kể chuyện ăn trứng cá cháy như vầy: “Còn nói về trứng cá cháy, theo ý tôi, trứng cá muối đóng hộp, món ăn đặc biệt của người Nga, gọi caviar, tuy ngon và rất đắt tiền, nhưng không sánh bằng trứng cá cháy và không khoái khẩu dân Việt đâu. Một khứa cá cháy có trứng, kho một lửa, ăn và với bún, ớt xoài chua với một mớ giá đậu xanh lót dưới tô thì đối với hộp caviar tôi không đổi”. Ở cuối bài này, giọng văn của cụ thật là ngậm ngùi, phải chăng bởi thời thế lúc ấy (tháng 9-1966) xứ sở hãy còn chinh chiến: “Nghe đâu con cá cháy cũng ngộ. Còn chiến chinh mãi, cá cháy miệt Đại-Ngãi Trà-Ôn biến đâu mất. Những người ở đó nói với tôi lúc nầy không lưới được con nào. Nó chờ thái bình mới ra mặt. Tuy vậy tôi ráng sống, để chờ một ngày kia hòa bình trở lại, thanh niên ta bớt ham học làm thầy cử thầy kiện và sẽ học nghề nuôi cá cháy để hộp và vô hộp trứng cá cháy bán ra làm món quốc hồn”.
* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 19-3-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130319/chuyen-cu-mien-nam.aspx
Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013
Cuốn sách quý về chủ quyền Việt Nam
Giáo sư Nguyễn Đình Đầu sinh năm 1920 tại Hà Nội - là nhà nghiên cứu địa lý lịch sử Việt Nam nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ. Ông từng học ở trường Bách nghệ Hà Nội (1939-1941) và Đại học Công giáo Paris (1951-1953). Tác phẩm chính của giáo sư đã được xuất bản là Bộ sách nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn (1805-1836). Quí I-2013, NXB Trẻ vừa ấn hành tác phẩm Việt Nam quốc hiệu và cương vực – Trường Sa và Hoàng Sa của ông; sách dày 208 trang, in bìa cứng.
Phần 1 (Quốc hiệu và cương vực qua các thời đại) gồm bốn chương, ghi chép súc tích sử liệu kèm nhiều bản đồ qua bốn thời kỳ lịch sử đất nước: Thời kỳ dựng nước (Hùng Vương dựng nước Văn Lang; Thục Vương chiếm Văn Lang đổi tên nước là Âu Lạc); Thời kỳ đấu tranh giành độc lập (từ nước Nam Việt năm 207 trước Công nguyên đến thời Lý Bôn xưng Nam Việt Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân với cương vực và các cuộc tranh đấu dưới các đời vua nhà Tùy, nhà Đường năm 603-907); Thời kỳ độc lập tự chủ (từ khi họ Khúc dấy nghiệp và họ Ngô dựng nghiệp năm 907-959 đến cương vực Đại Việt thời Tây Sơn (1771-1802); sau cùng là Thời kỳ thống nhất lãnh thổ với quốc hiệu Việt Nam (ghi chép cương vực và quốc hiệu nước ta từ triều Nguyễn (1802-1945) đến nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Kết thúc phần 1, sách thống kê một bảng tóm lược quốc hiệu, thủ đô và dân số nước ta từ thời Giao Chỉ (năm 6000 trước Công nguyên) đến năm 2011.
Giải thích về việc “tạm chia ra bốn thời kỳ” như vậy, Giáo sư Nguyễn Đình Đầu viết: “Quốc hiệu và cương vực nước ta, qua các thời đại, đã thay đổi khá nhiều. Quốc hiệu và cương vực lại không đồng thời thay đổi, cũng không nhất thiết thay đổi theo các triều đại hay phân kỳ lịch sử nào”. Mỗi thời kỳ, tác giả thường tóm tắt gọn và dễ nhớ. Thí dụ ở Thời kỳ đấu tranh giành độc lập, tác giả viết: “Kể từ khi Triệu Đà thôn tính nước Âu Lạc (-206) tới khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng (938) đem lại nền tự chủ cho xứ sở, dài 1.088 năm. (Nhà Tiền Lý đặt quốc hiệu là Vạn Xuân được 68 năm)”.
Tác giả đặt biệt dành phần 2 (Biển Đông, Hoàng Sa – Trường Sa) dài hơn 100 trang để biên soạn 6 chương, khẳng định “lịch sử Nam tiến và Biển Đông” và “chủ quyền biển đảo Việt Nam qua các bản đồ cổ và tư liệu lịch sử”.
Mở đầu phần này, tác giả cho đăng Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) và viết: “Đây là bản đồ ghi chép nước ta đầy đủ về cương vực, cả lãnh thổ và lãnh hải, trước khi Pháp tới xâm lăng. Lãnh thổ nước ta bị thu hẹp khá nhiều, nhưng nay ta vẫn tôn trọng các đường “biên giới lịch sử”. Trên Biển Đông, hầu như vẫn còn nguyên vẹn. Khối quần đảo Hoàng Sa – Vạn lý Trường Sa có dáng hình tương tự như cả ngàn bản đồ cổ Tây phương từ 1525 đến đầu thế kỷ XIX với tên gọi Paracel hay Pracel là của Việt Nam. Khoảng giữa thế kỷ XIX, họ mới gọi phần Trường Sa là Spratly và chia thành hai quần đảo cách xa nhau”.
Dẫn sử liệu và hai bản đồ An Nam quốc (thời Hồng Đức, 1490) và Vương quốc An Nam (Alexandre Rhodes, 1650), tác giả nhận định hai bản đồ này “đã biểu hiện khá rõ bờ biển, biển Đông và hải đảo Việt Nam đương thời”.
Tới thời các chúa Nguyễn (1600-1777), có bài “Các nhà hàng hải, tu sĩ Phật giáo, Công giáo, các sách địa lý thế giới đều nói Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”. Dưới triều Nguyễn (1802-1884), tác giả giới thiệu tiếp “Bốn bản đồ cùng khẳng định Việt Nam là cường quốc và Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”.
Gần cuối sách, tác giả viết riêng một bài tựa là “Những cuộc xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa” với đoạn kết: “Cuộc đấu tranh trên biển Đông vì toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam thật là cam go và phức tạp. Sao cho công lý và hòa bình cùng được thực hiện. Đó là nhiệm vụ thiêng liêng của chính quyền và của mỗi công dân trong cương vị và khả năng của mình”.
Không dừng lại ở đó, trên bìa bốn tác phẩm này, Giáo sư Nguyễn Đình Đầu còn trân trọng viết: “Chúng tôi đã thu thập và nghiên cứu hàng trăm bản đồ thế giới của các nước phương Tây thực hiện, hầu hết trong đó đều có ghi đất nước ta với các hải đảo Hoàng Sa – Trường Sa mà họ gọi tên chung là Paracel hay Pracel. Bờ biển Pracel (Costa da Pracel) là ở Trung bộ Việt Nam. Không một bản đồ nào ghi bờ biển Pracel ở Nam Trung Hoa hay ở Phi Luật Tân, Inđônêsia hay Mã Lai. Thật hiển nhiên, khắp thế giới đều thừa nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam”.
* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 12.3.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130312/cuon-sach-quy-ve-chu-quyen-viet-nam.aspx
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

















