Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013

Một thời để nhớ


Xin được mượn “một chút” tựa cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Erich Maria Remarque, Một thời để yêu và một thời để chết, để nói về cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn Nguyễn Đông Thức, Không có gì và không một ai, do NXB Trẻ ấn hành vào năm ngoái.

Bởi vì cuốn kia viết về tình yêu và chiến tranh thời thế chiến thứ hai ở châu Âu còn cuốn này viết về tình yêu và xã hội thời hòa bình ở Việt Nam sau 1975. Cả hai đều là “một thời để nhớ”, dù bối cảnh và nhân vật của Nguyễn Đông Thức hẹp hơn, chủ yếu là chuyện của tuổi trẻ trong xã hội Việt Nam và Mỹ. Vì nói cho cùng, đụng tới thân phận con người thì “thời nào cũng là người” và họ luôn sống trong những hoàn cảnh xã hội nhất định.



Ba nhân vật chính của Nguyễn Đông Thức, một nữ, hai nam, “dân học sinh - sinh viên Sài Gòn chính hiệu”, người có gốc gia đình là “sĩ quan cao cấp ngụy”, người có gốc gia đình là “sĩ quan cách mạng tập kết” và “hoạt động nội thành” - họ cùng dấn thân vào xã hội Việt Nam, từ ngày giải phóng cho đến hôm nay. Họ là bạn thân thiết vì có chung sở thích yêu âm nhạc và ngoéo tay nhau chung một lời nguyền, “không có gì và không một ai có thể thay đổi tình bạn tụi mình”. Nhưng rồi “trải qua muôn cuộc bể dâu” với bao  biến động của đất nước và với đặc điểm xã hội hai miền Nam - Bắc sau 1975,  liệu rồi lời nguyền của họ sẽ ra sao? Hay nói cách khác, số phận của họ - và cả xã hội mà họ đang sống - sẽ diễn biến ra sao? Xin để dành cho bạn đọc khám phá những trang sách đầy hư cấu nhưng lại hết sức gần gũi với những chuyện đời mà ta đã và đang sống.

Như là lời tâm sự của tác giả: “Tôi bắt đầu viết tiểu thuyết này vào cuối năm 2010, hy vọng sẽ xong trước tháng 10.2011, như món quà tự mừng sinh nhật 60 của mình. 60, “rửa tay gác kiếm”, ai ngờ nhanh vậy! Ngày 20.7.1975, tôi 24 tuổi, vác ba lô gia nhập đại đội 3 Thanh niên xung phong Thành đoàn, bắt đầu cuộc đời mới. Rồi ngày 31.3.1981, tôi 30 tuổi, từ Kompong Chàm về nhận việc ở Tuổi Trẻ, làm báo miệt mài suốt ba chục năm… Tất cả như chỉ sau vài cái chớp mắt. Y như cảm giác của những nhân vật chính, vào cuối truyện… Không có gì và không một ai là một câu chuyện hoàn toàn hư cấu, nhưng không thể không có chút ít bóng dáng tôi và bạn bè một thời có mặt trong đây. Cả một thời chúng tôi đã sống, mạnh mẽ và sôi nổi, vất vả và gan lì, để cùng vượt qua bao khó khăn đi tới ngày hôm nay”.

Như là cách nhìn “thiên về thế sự” của nhà thơ Lê Minh Quốc, người cùng thời với tác giả: “Sự kiện của đời sống lọt vào quan sát của nhà báo chỉ là thông tin. Với nhà văn lại khác, nó còn là chất liệu quý báu khi xây dựng một tác phẩm văn chương. Hầu hết tác phẩm của Nguyễn Đông Thức có thế mạnh khai thác hợp lý nhiều sự kiện của đời sống. Chính vì thế, khi muốn nhìn lại giai đoạn của một thời đã qua - các tiểu thuyết thế sự ấy dứt khoát có một vai trò nhất định. Tiểu thuyết mới nhất của anh - Không có gì và không một ai, là một đóng góp sáng giá khi nhìn lại tiến trình của nền báo chí Việt Nam sau 1975. Không chỉ đầy ắp sự kiện mà còn thông qua số phận khốc liệt của nhân vật, chắc chắn bạn đọc vừa ngậm ngùi, vừa mỉm cười chua chát”.

Thí dụ như “sự kiện” làm báo trong những năm 1975-1985, như lời của một nhân  vật tại một cuộc họp tòa soạn (trang 98): “Tại sao làm báo mà lại đòi nhà nước chi tiền? Chúng ta không thể sống tự lập bằng tờ báo của mình à? Chúng ta vui vẻ làm những ông quan báo, tờ báo dở ẹc không ai đọc cũng được hưởng lương như mọi cán bộ công nhân viên các ngành khác?... Tôi đề nghị các anh chị chấm dứt ngay tư duy làm báo bao cấp ấy. Đừng ngậm vú mẹ nữa! Ra đời kiếm ăn, làm giàu bằng chính tài năng, sức lực của mình đi! Tờ báo xứng đáng phải vào được từng gia đình, sống được bằng chính sự chi trả của người đọc”.

Còn với ai mê âm nhạc thì có thể chia sẻ nhận xét này của nhà văn Đoàn Thạch Biền: “Đây là cuốn tiểu thuyết mà ba nhân vật đã trôi theo dòng nhạc, từ Cho lần cuối của Lê Uyên Phương đến You’ve got a friend của Carole King. Có hay không một tình bạn giữa người nữ và người nam? Bạn đọc sẽ có câu trả lời khi cùng trôi theo dòng nhạc – dòng đời đó, để hiểu về tình bạn và tình yêu của chính mình”.

Dù có như vậy, và dù đây là cuốn truyện “rửa tay gác kiếm” sau 21 tác phẩm văn học bao gồm truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài sáng tác trong gần 40 năm qua, nhưng rồi chính tác giả cũng phải thú nhận: “Cuốn truyện hóa ra quá khó viết. Chỉ có ba nhân vật chính, nhưng ai cũng có một cuộc đời chìm nổi, lại trong một thời kỳ đầy biến động. Ba người bạn thân, cũng là một cuộc tình tay ba… sẽ sống như thế nào trước bao biến cố cuộc đời?”.

Bài đã đăng báo Thanh Niên:http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130611/mot-thoi-de-nho.aspx

Thứ Tư, 5 tháng 6, 2013

Khi trẻ thơ níu kéo người già



Lạc Long 
Tuổi thơ là một thế giới đặc biệt mà đời người đều trải qua và luôn đọng lại những bồi hồi trong tâm trí. Và có đôi khi, lúc ta đã trải nghiệm cuộc đời, một ngày nào đó, ta bỗng muốn “nhìn lại mình”, muốn “đón một toa tàu” để trở về với thế giới tuổi thơ.


Không phải để “hoài cổ” mà để tiếp tục hiện hữu sao cho có ý nghĩa hơn trong cõi đời này. Có một tác phẩm đoạt nhiều giải thưởng và đã được NXB Trẻ tái bản hàng chục lần kể từ ngày ra mắt hồi tháng 3.2008 của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, đã làm được điều này.



Quyển sách như một cuốn tự truyện nho nhỏ của tác giả, với những câu chuyện hết sức đời thường, bắt đầu từ hồi 8 tuổi. Tác giả đã “vẽ nên một bức tranh tuổi thơ” khác với những gì mà người lớn biết tới. Có khi là những việc thường ngày như sáng thức dậy thì đi học, về nhà rồi lại ăn, uống, học bài rồi đi ngủ… Nhưng qua giọng văn nhẹ nhàng với nhiều tình tiết, kể cả những “ý nghĩ trẻ con” được đưa vào đúng lúc, tác giả đã dễ dàng kéo người đọc tham gia vào câu chuyện, có khi là để cùng suy nghĩ với nhân vật vào lúc đó. Hãy xem một giờ ra chơi của học sinh 8 tuổi: “Ra chơi có thể là điều tuyệt vời nhất mà người lớn có thể nghĩ ra cho trẻ con. Ra chơi có nghĩa là những lời vàng ngọc của thầy cô tuột khỏi trí nhớ nhanh như gió, hết sức trơn tru. Ra chơi nghĩa là được tháo cũi sổ lồng (tất nhiên sau đó phải bấm bụng chui vào lại), là được tha hồ hít thở không khí tự do”. Quả thật, đối với người lớn thì một giờ ra chơi chỉ đơn giản là quãng thời gian để trẻ con được nghỉ ngơi và nạp năng lượng cho những tiết học sau, nhưng với góc nhìn của một đứa trẻ 8 tuổi thì nó lại rất khác, gần như là một thế giới riêng mà hầu hết người lớn đều không thể chạm tới được. 

Cũng có thể nói, xuyên suốt quyển truyện là thế giới trẻ nhỏ mà một khi đã lớn, người ta có thể lãng quên tự bao giờ không hay biết. Cho nên tác giả đã tài tình để cho nhiều tình huống mà một khi đã diễn biến thì lại vượt ra khỏi những dự đoán, những cảm nhận khuôn phép thông thường. Tất cả, dệt nên một thế giới nội tâm của người-lớn-đang-hiện-hữu bên cạnh thế giới của một tuổi thơ hồn nhiên và bình dị. Nói như chính thông điệp của tác giả in ở bìa bốn quyển truyện dài này: “Tôi viết cuốn sách này không dành cho trẻ em. Tôi viết cho những ai từng là trẻ em”.

Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này đã dành được giải Sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam và Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009 rồi Giải thưởng Văn chương ASEAN năm 2010. Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ còn được độc giả Công ty CP phát hành sách TP.HCM (FAHASA) bình chọn là một trong mười tác phẩm được yêu thích nhất năm 2012; và cũng là một trong mười tác phẩm được yêu thích nhất trong cuộc bình chọn “Sách Việt tôi yêu” do Hội Nhà văn TP.HCM và Thành đoàn TP.HCM tổ chức năm 2012. Năm 2008, ngay khi mới ra đời, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đã trở thành cuốn sách bán chạy nhất tại Hội chợ Sách quốc tế TP.HCM và được bạn đọc Báo Người Lao Động bầu chọn là tác phẩm hay nhất trong năm.

Sau thành công với Giải thưởng Văn học ASEAN, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ đã được TS Montira Tato dịch sang tiếng Thái, NXB Nanmeebooks ấn hành. Một NXB của Mỹ là Hannacroix Creek Books và NXB Dasan Books của Hàn Quốc cũng đã ký hợp đồng chuyển ngữ tác phẩm này sang tiếng Anh và tiếng Hàn để xuất bản và phát hành trên đất nước của họ.

Riêng ở Thái Lan, họ đã nói gì? Emme Achara ở NXB Nameebooks: “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh phản chiếu thế giới kỳ diệu của tuổi thơ và trí tưởng tượng phong phú của con trẻ, những điều mà người lớn không bao giờ biết tới hay không bao giờ nghĩ đến, đó là đời sống thật của trẻ em, nơi có mọi điều tốt lành mà chúng ta cần học hỏi” (Đài RFA, 25.8.2012). Nhà văn Binlah Son thì rạch ròi: “Tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ giúp tôi nhận ra ba điều khác biệt. Khác biệt giữa thế giới trẻ em và thế giới người lớn. Khác biệt giữa trẻ em Việt Nam và trẻ em Thái Lan. Cuối cùng là khác biệt giữa những người đã đọc cuốn sách này và những người chưa đọc cuốn sách này. Tôi tiếc cho những ai chưa đọc nó”. (Báo Thanh Niên, 28.8.2011). Còn một độc giả khác tên Pornwadee Meesuk, đã tâm sự: “Tôi mong mọi tầng lớp độc giả ở Thái Lan có cơ hội làm quen với cuốn truyện thú vị này. Cuốn Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ không chỉ làm chúng ta nuối tiếc thuở ấu thời, nó còn níu kéo ta về với những ngày thơ dại ấy” (Đài RFA, 25.8.2012). ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130604/khi-tre-tho-niu-keo-nguoi-gia.aspx

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Bàn cách quản lý lưu vực sông Mekong


(TBKTSG Online)Sau Xazaburi là gì? Đó là câu hỏi được các chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý tìm cách trả lời tại hội thảo “Khía cạnh pháp lý trong hợp tác quản lý lưu vực sông Mekong” do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức tại Cần Thơ sáng 30-5.

TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (CEWAREC) cho biết đập Xazaburi, một trong 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong đã được Lào khởi công vào tháng 11-2012 dù trước đó Lào đã chia sẻ đề nghị của Việt Nam và nhiều nước khác nên hoãn lại trong vòng 10 năm để có đánh giá tác động môi trường hoàn chỉnh.


TS Dương Văn Ni đang trình bày tại hội thảo vào sáng ngày 30-5 tại Cần Thơ

Ông Tứ nói: “12 đập này là đập dâng, dung tích từ 200 triệu đến 2 tỉ mét khối nước/đập, sẽ tác động rất lớn đến an ninh lượng thực, an ninh nguồn nước và an ninh xã hội của 18 triệu dân vùng ĐBSCL”. Ông Tứ đề nghị: “Lào đã xây đập Xazaburi và đã coi đây là chuyện bình thường rồi thì nhà nước ta cần phải có chính sách thông suốt để các nhà khoa học tham gia thực hiện Hiệp định về Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong (Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan ký năm 1995) và Công ước của Liên hiệp quốc về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích không phải giao thông thủy ra đời năm 1997”.

Ông Tứ cũng cho biết ở thượng nguồn sông Mekong, đến năm 2040, Trung Quốc sẽ xây dựng 15 đập thủy điện lớn và đã đưa vào hoạt động 4 đập trong khi Trung Quốc không tham gia Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC). “Có thể nói Trung Quốc hoàn toàn chủ động sử dụng và chi phối đối với các bậc thang thủy điện ở hạ lưu vực”. TS Đào Trọng Tứ nhấn mạnh và kiến nghị: “Là quốc gia cuối nguồn, chịu tác động mạnh từ thượng lưu, Việt Nam cần có đối sách hợp lý và kiên định mới bảo đảm cho sự phát triển của ĐBSCL trong tương lai”.

Nói về vai trò của lưu vực sông Mekong, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – Đại học Cần Thơ, nhấn mạnh đây là một trong 10 con sông lớn nhất thế giới; nơi cung cấp gạo lớn nhất thế giới; có nguồn cá và đa dạng sinh học lớn thứ hai thế giới; có tải lượng phù sa thứ sáu trên thế giới (160 triệu tấn/năm) và là vùng đất có đa dạng văn hóa nhất trên giới. Ông Tuấn cho rằng “Việt Nam, đặc biệt là ĐBSCL, hoàn toàn không có hưởng lợi gì đáng kể từ các đập thủy điện trên sông Mekong” trong khi “các tổn thất sẽ đánh ngay vào 2 trụ cột kinh tế lớn nhất vùng là nông nghiệp và thủy sản”. Ngoài ra, “sự suy giảm hệ sinh thái đất ngập nước và đa dạng sinh học hoàn toàn không khôi phục được; người nghèo bị tổn thương nặng nhất, hiện tượng di cư sẽ diễn ra trên diện rộng và sẽ làm cho các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu khó thực hiện”.

Tiến sĩ Dương Văn Ni (Đại học Cần Thơ), đề nghị “phải xác định lại lưu vực ĐBSCL”. Ông nói: “Lưu vực ĐBSCL không chấm dứt ở bờ biển mà bao gồm cả thềm lục địa. Thiệt hại do 12 đập thủy điện chưa tính tới lượng cá lớn bị biến mất ngoài ven biển ĐBSCL vì lượng phù sa hạ lưu sông Mekong ra đây cũng không còn”. Ông cho biết: “Malaysia ở xa phía Nam chúng ta nhưng khi nghe 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong sẽ được xây dựng, họ đã lo mất nguồn cá của ngư dân Malaysia”.

Là chuyên gia độc lập, trưởng nhóm Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐTM) đối với dự án Xazaburi, thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho biết nhóm của ông đã thực hiện quy trình PNPCA (thông báo - tham vấn - thỏa thuận) theo đúng tinh thần Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên tới thời điểm tham vấn thì “Chính phủ Lào đã nộp đề xuất dự án cho MRC vào năm 2010, nhưng báo cáo ĐTM không được phổ biến cho đến tháng 3-2011 nên các chính phủ láng giềng không có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc tham vấn”. Ông Thiện cũng cho biết, “quy trình PNPCA không có được tiếng nói của cộng đồng bị ảnh hưởng là 18 triệu dân ĐBSCL”.

TS. Lê Đức Trung, Chánh văn phòng Ủy ban sông Mekong Việt Nam, nói: “Việt Nam làm PNPCA cực kỳ gương mẫu” nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. “Khía cạnh pháp lý trong hợp tác quản lý lưu vực sông Mekong là các nước thành viên phải dựa trên cơ sở pháp lý và khoa học thật sự và phải áp dụng PNPCA làm công cụ quốc tế để có thể xử lý những vấn đề tiếp sau Xazaburi”. Ông Trung nhấn mạnh và cho biết sẽ mời Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tham gia vào ủy ban này. ■

==========================
Bài đã đăng trên TheSaigontimes.vn:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/97199/Ban-cach-quan-ly-luu-vuc-song-Mekong.html

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Cuốn sách “nhất nghệ tinh”



“Với cuốn sách này, như cựu giám đốc Vinappro Lê Tùng Hiếu, người từng học ở Đức nhận xét, một thợ cơ khí ngồi ở ĐBSCL có thể mở cửa hàng cơ khí, và biết kinh doanh thế nào”, TS Nguyễn Xuân Xanh, đồng dịch giả, đã nói như vậy về cuốn sách Chuyên ngành cơ khí, vừa được NXB Trẻ và Quỹ Thời báo kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation) phối hợp với Ủy ban Tương trợ người Việt Nam tại CHLB Đức (VSW) ấn hành. Sách dày 625 trang, giá 560.000 đồng.



20 chuyên gia thuộc VSW từng làm việc lâu năm trong môi trường kỹ nghệ ở Đức đã mất hơn 2 năm để dịch và hiệu đính cuốn sách này, từ nguyên tác tiếng Đức Fachkunde Metall - được viết bởi 9 đồng tác giả là những kỹ sư và giáo viên chuyên ngành người Đức. Đây là cuốn sách dạy nghề bán chạy nhất của NXB chuyên ngành nổi tiếng Europa-Lehrmittel, đã được dịch ra 20 thứ tiếng và hiện đang dùng trong  chương trình giảng dạy của hầu hết các trường kỹ thuật tại CHLB Đức.



Vì sao lại chọn sách Đức để dịch? Những người làm sách cho biết: “Nước Đức nổi tiếng thế giới về cơ khí máy móc với hệ thống dạy nghề vừa học vừa làm rất thiết thực, điều này thể hiện rõ trong sách học nghề của họ mà điển hình nhất là tủ sách nghề của NXB Europa-Lehrmittel mà chúng tôi đã mua bản quyền để xuất bản tại Việt Nam lần này”. Đây là cuốn đầu tiên trong “Tủ sách học nghề Nhất Nghệ Tinh”, nhằm “đáp ứng phần nào nhu cầu cấp bách về lực lượng công nhân lành nghề được đào tạo bài bản cả về lý thuyết lẫn thực hành tại Việt Nam”. 2 cuốn sẽ ra đời tiếp theo thuộc về lĩnh vực điện và chất dẻo.

Trong lời giới thiệu sách, PGS-TS Dương Đức Lân, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB-XH) và TS Horst Sommer, Tổ chức Hợp tác quốc tế CHLB Đức (GIZ), cùng nhấn mạnh: “Vừa qua, Bộ LĐ-TB-XH Việt Nam đã phê duyệt danh mục các nghề trọng điểm để hỗ trợ đầu tư đạt cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế, trong đó có các nghề thuộc lĩnh vực cơ khí. Bởi vậy, chúng tôi rất vui mừng giới thiệu cuốn sách Chuyên ngành cơ khí bằng tiếng Việt... Tất cả các thông tin cơ bản về kỹ thuật kim loại đều được thể hiện trong cuốn sách này”. Ngay sau ngày sách phát hành (9.4), văn phòng GIZ tại Hà Nội đã đặt mua 200 cuốn để tặng các trường dạy nghề ở Việt Nam. 

Chuyên ngành cơ khí có 8 chương, nói về quản lý chất lượng, kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật vật liệu, kỹ thuật máy và thiết bị, kỹ thuật tự động hóa, kỹ thuật công nghệ thông tin, kỹ thuật kiểm tra độ dài và kỹ thuật điện. Ngoài ra, sách còn có 13 phần thực tập và thư mục thuật ngữ bằng 3 thứ tiếng Việt, Đức và Anh. Tất cả các nội dung này được trình bày gọn gàng, khoa học và đặc biệt là ở bài nào cũng đều có kèm bảng vẽ kỹ thuật, bảng biểu và hình minh họa in 4 màu rất dễ hiểu. 

Cụ thể, có 8 đối tượng mà quyển sách này nhắm đến: công nhân chuyên về cơ khí công nghiệp và chế tạo dụng cụ; công nhân chuyên về sản xuất; công nhân chuyên về gia công cắt gọt kim loại; kỹ thuật viên đồ họa; quản đốc và kỹ thuật viên; người có kinh nghiệm thực hành trong kỹ nghệ và thủ công; thực tập sinh và sinh viên; giáo viên trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Là đồng dịch giả, TS Nguyễn Xuân Xanh cho biết: “Xã hội Việt Nam vẫn chưa trọng lao động tay chân có kỹ thuật, tổ chức, mà vẫn còn trọng vọng hư danh, bằng cấp. Chăm lo đào tạo những thợ chuyên nghiệp, kỹ sư hiện đại, xem trọng vai trò của họ, có những chính sách lương bổng xứng đáng, đó là mệnh lệnh bức thiết hiện nay”. Ông kỳ vọng: “Nếu xuất bản xong loạt này, Việt Nam sẽ có khoảng năm sáu ngàn trang sách dạy nghề theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, góp phần cho các cơ sở đào tạo nghề Việt Nam có giáo trình, tư liệu hiện đại nhất, đúng chuẩn quốc tế trong việc đào tạo nghề chất lượng cao, giúp các sinh viên, thợ thủ công có điều kiện nâng cấp tay nghề”.

Về phần mình, dù không theo nghề cơ khí, nhưng sau khi đọc, chúng tôi thấy, quyển Chuyên ngành cơ khí này như một cuốn “cẩm nang nghề” mà người thợ cơ khí yêu nghề nào cũng có thể thủ đắc để “nhất thân vinh” theo cách “nhất nghệ tinh”. ■



Bài đã đăng trên báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130528/cuon-sach-nhat-nghe-tinh.aspx

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Chuyện anh Tùng in thơ trong nước



Giữa tháng 3 rồi, tôi nhận được email từ Pháp của TS. Nguyễn Tùng: “Cách đây vài tuần, tình cờ tôi tìm lại được hơn ba mười bài thơ viết vào cuối năm 1982 và chưa cho đăng ở đâu cả. Tôi bỗng nảy ra ý cho xuất bản ở trong nước toàn bộ thơ của mình mà phần lớn đã đăng trong các báo Việt kiều ở Pháp (Gió Nội, Tập san Khoa học xã hội và Đoàn Kết), chủ yếu để tặng bạn bè làm kỷ niệm. Nay xin gửi cho anh bản thảo hai tập "Dấu chân không" (đã xuất bản ở Paris năm 1984) và "Nhật ký trong tình" để anh đọc chơi cho vui và góp ý kiến. Nếu anh có kinh nghiệm gì về việc xuất bản thơ ở trong nước, thì xin "tư vấn" cho tôi nhé. Chắc là hơi khó xuất bản, vì trên cả thế giới rất ít người mua sách in thơ!”.



Đọc xong bản thảo hai tập thơ ký tên Đan Tâm của anh Nguyễn Tùng, tôi gởi email “tư vấn” anh nên xuất bản trong nước: “Có hai cách, hoặc do NXB tự kinh doanh hoặc tác giả xin giấy phép NXB rồi tự ấn hành. Làm cách thứ 2 dễ hơn; chỉ khó là làm sao bán được để thu hồi vốn. Còn nếu tác giả chỉ muốn in để tặng bạn bè thì càng dễ. Cả hai cách đều bắt đầu từ lúc gởi bản thảo cho nhà xuất bản. Thí dụ, Đan Tâm muốn làm cách thứ 2 thì xin hãy chuẩn bị bản thảo mail về cho NXB, sau khi có giấy phép thì tự lo in ấn, phát hành”.

Hổng dè anh làm nhanh quá. Ngày 21-4 rồi, anh gởi email cho biết: “Tôi đã nhờ một anh bạn giúp in cuốn thơ của tôi ở NXB Lao Động, tốn cả thảy 11 triệu đồng cho 500 bản”. Tiếp đó, anh nhờ người gửi về Cần Thơ cho tôi 15 tập với lời nhắn qua email: “Nhờ anh ký tặng bạn bè ở miền Tây, nhớ nói là tôi ở xa nên nhờ ký tặng để làm quen” – thật là dễ thương, trong khi chính tác giả chỉ mới nhìn thấy ảnh bìa qua email chứ chưa nhận được tập thơ của mình.

Anh Nguyễn Tùng quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, qua Pháp học xã hội học, dân tộc học và triết học ở Đại học Sorbonne. Anh chuyên nghiên cứu văn hóa Việt Nam, dạy ở Đại học Paris-Diderot và từng làm việc hơn 30 năm ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học (CNRS, Pháp). Cộng tác với nhiều tờ báo trong nước như Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, Xưa & Nay, Thanh Niên, Tuổi Trẻ… anh ký tên Nguyễn Tùng; làm thơ thì lấy bút hiệu Đan Tâm.

Dấu chân không và nhật ký trong tình” có 93 bài thơ, trong đó có 9 bài anh Nguyễn Tùng dịch thơ của Lorca, Mayakovsky, Aragon và Neruda. Với “Dấu chân không”, Đan Tâm tự bạch: “Chúng là dấu vết mờ nhạt của một quãng đời đầy tiếng ồn và cuồng nộ”. Đời như vậy nhưng vào thơ thì nghe nhiều những ám ảnh của nội tâm. Như bài Mùa đông viết năm 1963 ở Paris, chỉ có 4 câu: con chim con / khát khao / ánh sáng mặt trời mùa xuân / đã chết / mùa đông dài vô cùng. Hay bài thơ Dấu vết anh viết trong mùa thu Paris 1966: con chuồn chuồn thơ ấu / bay mất / trong cơn mơ đêm qua / để lại giọt nướt mắt / đọng khô trên má. Còn trong bài Ngày trở lại viết năm 1967, có hai đoạn mở và kết như nỗi ám ảnh tình cảnh quê nhà: ngày trở lại có nắng lên trên mạ / có mây bay về đắm giữa xanh trời / anh sẽ đặt những bước chân rụng lá / vì thưa em vạn vật sắp lên lời /… ngày trở lại giữa quê hương đổ nát / (những rào tre rụi cháy gió thôi bay) / nghe hy vọng reo vang trong tiếng hát / thưa bà con, tôi xin góp đôi tay.

Còn “Nhật ký trong tình” được viết vào cuối năm 1982 và theo như lời tác giả, đó là “chứng tích” sau lần anh và một người bạn thân “lạc vào chốn thiên thai ngay giữa Sài Gòn và gặp một nàng tiên tóc ngắn mà, sau đó, tôi chưa từng cầm tay!”. Thảo nào, họa sĩ Phạm Quốc Tuấn ở Paris đã vẽ được bức tranh màu tím “nàng tiên tóc ngắn” mà giờ đây người trình bày sách ở nhà đã lấy đưa lên bìa tập thơ này. Đọc những dòng “nhật ký” của thời mà tác giả vào tuổi bốn mươi, như trong bài Cảm ơn, có những câu buồn thương như thế này: Cảm ơn em đã làm lòng anh trẻ lại / ở tuổi bốn mươi / khi đã bước vào buổi chiều của cuộc đời / cảm ơn em / đã khiến anh lại có được những tình cảm vụn vặt và nông nỗi.

Giờ thì anh Nguyễn Tùng đã bước qua tuổi bảy mươi, đang nghỉ hưu ở Pháp, năm nào cũng về thăm quê nhà. Cuối năm ngoái anh đưa cả gia đình về thăm Cần Thơ. Ai cũng thích chợ nổi Cái Răng và chụp hình rất nhiều tại ngôi nhà cổ ở Bình Thủy, nơi được chọn đóng phim Người Tình, tác phẩm nổi tiếng của Pháp. Lúc đó, chưa nghe anh Nguyễn Tùng nói gì tới chuyện in thơ ở Việt Nam. ■

* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên thứ Bảy, 17-5-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130518/nguyen-tung-in-tho-trong-nuoc.aspx

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Đọc lại Thần thoại Hy Lạp

Lạc Long
 
Nền văn minh Hy Lạp cổ đại được xem như một trong những cái nôi của văn minh nhân loại với những công trình kiến trúc ấn tượng, các giá trị triết học, nghệ thuật và nền văn hóa hoàng kim một thời. Trong đó, có một di sản lớn, đó là kho tàng những câu chuyện thần thoại.
Đọc bộ Thần thoại Hy Lạp (Nguyễn Văn Khỏa biên soạn - NXB Văn học, 2004) hồi còn học lớp 9, nó đã thôi thúc lớp trẻ chúng tôi lòng ham mê khám phá cuộc sống. Giờ đây, bước vào tuổi thanh niên, đọc lại bộ sách này, tôi càng hiểu, vì sao những câu chuyện “thần thoại” này lại có thể tồn tại hàng nghìn năm trong lòng người, bất kể thuộc nền văn hóa nào.




Thần thoại Hy Lạp được hình thành trong khoảng thời gian khá dài, từ năm 2.000 - 1.100 trước Công nguyên. Mới đầu là chuyện truyền miệng; về sau được ghi lại khi có chữ viết. Thần thoại Hy Lạp tập hợp những câu chuyện kể, truyền thuyết về sự hình thành của thế giới, sự ra đời của các vị thần và sự có mặt của con người trên mặt đất. Những câu chuyện thần thoại mô tả về một thế giới mà trung tâm là ngọn núi Olympia do vị thần tối cao Dớt cai trị; sự tranh đấu của con người qua truyền thuyết về các vị anh hùng tiêu biểu như Hêraclex, Akhin… Những vị thần trong thần thoại Hy Lạp được mô tả hết sức sống động và giống với hình tượng của những con người trên trần gian, cũng có đủ vui buồn giận dữ, thương yêu thù hận… Có thể nói, cái gì thuộc về con người cũng đều thấy xuất hiện qua các vị thần linh trong truyện kể. Hết thảy, không phải là những nhân vật hoặc câu chuyện được “đóng khung” khô cứng mà như chính bản chất cuộc sống, đều “trôi chảy như dòng sông”. Đọc Thần thoại Hy Lạp, trong lòng ta thường vương vấn những niềm ước mơ, khát vọng sống tốt đẹp hơn.

Cho nên dễ hiểu, trong chặng đường dài phát triển của lịch sử nhân loại, ta thường thấy có dáng dấp những câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp. Thời cổ đại, những bức vẽ, bức tượng được tạc theo nguyên mẫu các nhân vật trong truyện. Thời phục hưng, rồi đến thế kỷ 17, 18, 19 và cả sau này, những đề tài, cốt truyện, nhân vật, điển tích của thần thoại này vẫn tiếp tục được khai thác trong sân khấu, văn chương, phim ảnh… Sự tồn tại và sức ảnh hưởng sâu rộng của thần thoại Hy Lạp chính do những giá trị nhân văn vốn có của nó. Đó là cái nền thiện thắng ác, là căn tính chân - thiện - mĩ gắn với nhân tính, lý tưởng sống… mà xã hội, chính thể nào của con người xưa nay cũng đều hướng tới.

Tính nghệ thuật đầy chất thi ca của thần thoại Hy Lạp như một yếu tố góp phần vào sự thành công của bộ truyện nổi tiếng này. Rồi tính triết lý của từng câu chuyện; thần thoại Hy Lạp phát triển đồng thời với sự phát triển của các tư tưởng triết học cổ đại nên qua bộ truyện, các tư duy lý luận, tư duy hình tượng… đã kết hợp và biến hóa vừa hài hòa, vừa chặt chẽ, tạo nên một bộ thần thoại mà cho đến hôm nay, người ta vẫn đánh giá đó là bộ danh tác huy hoàng của không riêng Hy Lạp. Xin trích dẫn một đoạn trong chương “Đêmêter truyền nghề cho Tơriptôlen”:

Hạt lúa mì gieo xuống đất, được đất đen ấp ủ, nuôi dưỡng. Đất đen đã đem cuộc sống của mình ra để chăm nom cho cuộc sống của hạt lúa mì. Con người cũng vậy, con người sống trên mặt đất, được đất đen đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng. Hơn nữa lại nuôi dưỡng con người bằng cuộc sống của hạt lúa mì. Con người cứ thế sống, sinh sôi, nảy nở, con đàn cháu đống cho tới khi con người từ giã cõi đời. Khi con người trở về với đất, sống trong lòng đất, biến thành đất. Từ đấy con người đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng lại cây cỏ… Cứ như vậy, sinh sinh hóa hóa tuần hoàn. Cái chết đối với con người là sự tiếp tục cuộc sống khác, cuộc sống vẫn có ích cho đồng loại… Như vậy là cõi chết chẳng có gì đáng sợ, đáng coi là khủng khiếp, thảm họa… Tạo hóa - sáng tạo và biến hóa - biến hóa và sáng tạo - mọi thứ cho cuộc sống vĩnh hằng, bất diệt”.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130514/doc-lai-than-thoai-hy-lap.aspx