Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

STF: đã có 1.053 sinh viên được vay tiền học không tính lãi



(TBKTSG Online) - Ngày 9-9-2009, Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation – STF) phối hợp với Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng (TP.HCM) và trường Đại học Cần Thơ ra mắt dự án Mekong thuộc “Chương trình Cho vay tiền học không tính lãi”, cho sinh viên ĐBSCL. Đến nay chương trình này đang có thêm hai dự án hoạt động tại miền Trung và TP.HCM


Tiếp bước Mekong



Sinh viên ĐBSCL với chương trình Mekong
Dự án Mekong do Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng tài trợ 4 tỉ đồng, cho sinh viên 3 trường đại học Cần Thơ, An Giang, Cửu Long và Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau vay theo mức học phí của mỗi trường.

Giao lưu với sinh viên tại Đại học Cần Thơ hôm 17-2-2012, ông Võ Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng nói rằng, đồng hành cùng với STF làm chương trình này, ông chỉ mong hỗ trợ cho nhiều sinh viên quê ở ĐBSCL thành công trong việc học và có việc làm ổn định để góp phần xây dựng quê hương. Còn PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ vào thời điểm đó thì tin là “Chương trình này sẽ được mở rộng hơn vì nó đã và đang giúp cho hằng trăm sinh viên ĐBSCL có tiền để đóng học phí học tới ngày tốt nghiệp”.  


Chương trình Cho vay học phí không tính lãi của STF bắt đầu với Chương trình Mekong tháng 9-2009.

Chương trình Cho vay học phí không tính lãi của STF bắt đầu với Chương trình Mekong tháng 9-2009.
Tiếp bước dự án Mekong, ngày 23-3-2012, dự án miền Trung của chương trình “Cho vay tiền học không tính lãi” được STF triển khai tại Đại học Bách Khoa Đà Nẵng. Kinh phí đầu tiên 300 triệu đồng, trong đó 200 triệu đồng do TBKTSG gây quỹ từ chương trình hòa nhạc Saigon Times Concert năm 2011 và 100 triệu đồng do Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam tài trợ. 30 sinh viên đầu tiên, mỗi sinh viên được vay 5 triệu đồng, tương đương mức học phí một năm học.

Đến ngày 27-12-2012, tại trường Đại học Bách Khoa TP.HCM, Công ty Bảo hiểm nhân thọ Manulife Việt Nam và STF giới thiệu tiếp chương trình “Manulife – điểm tựa tương lai”. Chương trình trị giá 500 triệu đồng, do Manulife tài trợ, cho 100 sinh viên năm 3 và 4 thuộc 3 trường, Đại học Bách Khoa TP.HCM, Đại học Sư phạm TP.HCM và Đại học Cần Thơ vay học phí không tính lãi, mỗi suất 5 triệu đồng. Tổng giám đốc Công ty TNHH Manulife Việt Nam, ông Chung Bá Phương, nhận xét: “Đây là một chương trình mang nhiều ý nghĩa xã hội và rất thiết thực, nhằm giúp các bạn sinh viên khắc phục những khó khăn tài chính trước mắt, an tâm học hành để chuẩn bị cho việc tốt nghiệp đại học. Năm 2012 cũng là năm đầu tiên Manulife triển khai chương trình này và nhận được nhiều phản hồi rất tích cực”.

Đến nay, dự án Mekong đã có 994 sinh viên ĐBSCL vay hơn 4,1 tỉ đồng và đã có 198 sinh viên ra trường hoàn trả món vay gần 1 tỉ đồng cho lớp sau vay tiếp. 8 tháng đầu năm 2013, có thêm 23 sinh viên Đại học Bách khoa Đà Nẵng vay tiếp từ dự án miền Trung. Ở  TP.HCM, trong 8 tháng qua, STF có 35 sinh viên Đại học Bách Khoa vay từ chương trình. Như vậy sau 4 năm, tổng số sinh viên vay tiền từ “Chương trình Cho vay tiền học không tính lãi” đã lên đến 1.053 sinh viên với tổng số tiền vay là 4,318 tỷ đồng.


"Tôi đã đạt được ước mơ"


Bạn Cao Thị Hồng Nhung, cựu sinh viên Đại học An Giang, đã trả món vay 8,4 triệu đồng khi ra trường vào tháng 9-2012. Hiện đang làm việc ở Công ty TNHH MTV Bao bì Vemedim (Cần Thơ), Hồng Nhung tâm sự: “Nguồn tiền vay từ chương trình đã giúp tôi rất nhiều, ở thời điểm gia đình tôi đang gặp khó khăn, chi phí học tập là một gánh nặng lớn đối với ba mẹ. Nhờ có nguồn vốn vay từ chương trình, tôi đã theo đuổi đến đích ước mơ của mình là một chuyên viên kinh doanh. Đã có lúc khó khăn, tưởng chừng ước mơ đó phải dừng lại, nhưng dự án Mekong đã tiếp cho tôi thêm sức mạnh vật chất lẫn tinh thần. Điểm đáng quí của dự án là hỗ trợ không lãi suất, sinh viên tự vay bằng tín chấp và giúp sinh viên có trách nhiệm hơn”. Hồng Nhung kỳ vọng: “Tôi rất mong chương trình được tiếp tục để truyền sức mạnh, hỗ trợ cho các bạn sinh viên khóa sau. Quê hương An Giang còn nhiều sinh viên khó khăn, rất cần nguồn vốn vay này để học tập”.

Cựu sinh viên Đại học Cần Thơ, Ngô Văn Xuân Phong, đang làm việc tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Xây dựng Thuận Thành Phú (Long Xuyên, An Giang), đã trả món vay 7,4 triệu đồng khi tốt nghiệp vào năm 2011. Xuân Phong cho biết: “Dự án Mekong có ý nghĩa thiết thực. Nếu như không có số tiền vay này thì cuộc sống của tôi sẽ gặp thêm nhiều khó khăn do hoàn cảnh gia đình tôi không được như những bạn khác. Nếu có thể, thì chương trình nên bỏ qua điều kiện sinh viên đã vay tiền của ngân hàng chính sách thì không được vay từ chương trình. Khi đó, chương trình chỉ xét cho vay đối với những sinh viên có chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo và những trường hợp đặc biệt”.

Chia sẻ với các bạn sinh viên lớp sau đang vay từ các dự án Mekong, miền Trung và TP.HCM của STF, cả hai bạn Hồng Nhung và Xuân Phong đều mong muốn, tới ngày tốt nghiệp, người vay nên “hoàn trả vốn vay cho dự án, để dự án có thể quay nguồn vốn kịp thời đến các bạn sinh viên khó khăn khác”.



Năm nay, Manulife tài trợ tiếp 500 triệu đồng

Manulife trao giấy chứng nhận cấp vay cho sinh viên Đại học Bách Khoa TPHCM
Trao đổi với TBKTSG, ông Chung Bá Phương, Tổng giám đốc Công ty TNHH Manulile Việt Nam, cho biết: “Năm nay, với mong muốn biến chương trình này thành một hoạt động thường niên, Manulife sẽ tiếp tục tài trợ số tiền 500 triệu đồng cho 100 sinh viên có hoàn khó khăn tại một số trường đại học khác”.


Với các bạn sinh viên, ông chia sẻ: “Đây cũng là cơ hội để các bạn dần có ý thức quản lý chi tiêu cũng như hoạch định tài chính cho tương lai sau này của mình. Tôi mong các bạn sinh viên luôn giữ vững niềm tin, nhiệt huyết và sức mạnh của tuổi trẻ để vượt qua những khó khăn trước mắt, sớm gặt hái những thành công sau này”. 

Bài đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/doisong/101864/STF-da-co-1053-sinh-vien-duoc-vay-tien-hoc-khong-tinh-lai.html

Nhớ…


Tác giả cuốn sách này, nhà báo Trần Thanh Phương, tâm sự: 'Tôi cầm bút đã 45 năm. Nhưng chưa có trang viết nào tôi thấy ngòi bút mình khó khăn như soạn cuốn sách này. Tôi tự dặn lòng, phải thật cẩn thận từng câu từng dòng, vì chữ nghĩa ở đây đã chạm đến những giây phút cuối cùng của một đời văn. Cho nên, trước khi ngồi vào bàn viết, tôi có sửa soạn mâm cơm, thắp nén nhang xin hương hồn các nhà văn, nhà thơ quá cố cho phép tôi được làm cái việc ghi chép lại giờ phút lâm chung và việc hậu sự của họ'. Và ông đã chọn nửa câu Kiều, Còn là tinh anh, để đặt tên cho cuốn sách này; sách được NXB Văn hóa - Văn nghệ in 2.000 cuốn bìa cứng, giá 120.000 đồng/cuốn, vào quý 2.2013.




Trần Thanh Phương đã sắp xếp theo thời gian qua đời của 50 nhà văn, nhà thơ hiện đại mà tác giả có đủ tư liệu, để soạn cuốn sách này. Đó là Vũ Trọng Phụng (mất năm 1939), Hàn Mặc Tử (1940), Trần Đăng (1949), Thâm Tâm (1950), Thôi Hữu (1950), Nam Cao (1951), Nguyễn Huy Tưởng (1960), Lê Văn Trương (1964), Nguyễn Bính (1966), Nguyễn Thi (1968), Lê Anh Xuân (1968), Dương Thị Xuân Quý (1969), Chu Cẩm Phong (1971), Nguyên Hồng (1982), Đặng Thai Mai (1984), Xuân Diệu (1985), Vũ Ngọc Phan (1987), Nguyễn Tuân (1987), Thanh Tịnh (1988), Xuân Quỳnh (1988), Lưu Quang Vũ (1988), Quang Dũng (1988), Nguyễn Minh Châu (1989), Đoàn Giỏi (1989), Thế Lữ (1989), Chế Lan Viên (1989), Lưu Trọng Lư (1991), Hoàng Trung Thông (1993), Phùng Quán (1995), Yến Lan (1998), Nguyễn Văn Bổng (2001), Trinh Đường (2001), Ngân Giang (2002), Tố Hữu (2002), Nguyễn Đình Thi (2003), Thu Bồn (2003), Bảo Định Giang (2005), Huy Cận (2005), Anh Thơ (2005), Trần Bạch Đằng (2007), Bàn Tài Đoàn (2007), Phạm Tiến Duật (2007), Nguyễn Khải (2008), Sơn Nam (2008), Thảo Phương (2008), Tế Hanh (2009), Hữu Loan (2010), Hoàng Cầm (2010), Hoài Anh (2011) và Chim Trắng (2011).

Với mỗi tác giả, trước khi kể chuyện về “phút lâm chung” và “việc hậu sự”, nhà báo Trần Thanh Phương đều chọn in ảnh chân dung, tóm tắt thân thế, sự nghiệp, các tác phẩm chính và đặc biệt là chọn đăng một đoạn văn, câu thơ hay một đoạn phê bình văn học để đời của họ làm đề từ. Thí dụ về nhà văn Vũ Trọng Phụng, ông chọn câu nói nổi tiếng của nhân vật chính trong tiểu thuyết Số đỏ, đó là câu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Kể chuyện chữa bệnh lao phổi thời đó, Vũ Trọng Phụng đã phải nghe lời bác sĩ, hút thuốc phiện để kéo dài sự sống, rồi nói với bạn văn: “Nghiện thuốc phiện thì đê hèn thật, nhưng còn hơn chết chứ. Tôi, trên còn bà, dưới còn vợ, và con. Bằng ấy người trông vào tôi”. Nhưng rồi nhà văn đã ra đi khi mới 27 tuổi, vào ngày 13.10.1939, tại Hà Nội. Sách kể tiếp: “Hố huyệt của nhà văn được đào từ hôm trước, cách mộ Tản Đà vài bước chân. Linh cửu vừa từ từ hạ xuống thì bà Vũ Trọng Phụng vì quá thương chồng đã lăn xuống huyệt”. Sau khi nhà thơ Lưu Trọng Lư đọc điếu văn, nhà văn Bùi Huy Phồn đọc hai câu đối có lồng tên 6 tác phẩm nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng: Cạm bẫy người tạo hóa khéo căng chi, qua Giông tố tưởng nên Số đỏ/ Số độc đắc văn chương vừa túng thế, nỡ Dứt tình, Không một tiếng vang.

Chuyện về nhà văn Nam Cao, ông hy sinh năm 1951 trong vùng địch hậu ở Ninh Bình, được người dân địa phương chôn cất chung với đồng đội trong cùng một nấm mồ. Vì vậy, mãi tới năm 1998, gia đình mới tìm được hài cốt nhà văn đưa về quê Hà Nam cải táng. Và đây là một câu chuyện ly kỳ, phải nhờ đến nhà ngoại cảm phối hợp với Viện Khoa học hình sự Bộ Công an công phu tìm kiếm và xét nghiệm mới có kết quả.

Nhà văn Sơn Nam mất ngày 13.8.2008 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, thọ 82 tuổi. Lễ viếng nhà văn vào sáng hôm sau tại nhà tang lễ TP.HCM. Sách kể: “Nhiều nhà văn và bạn đọc yêu mến ông, sau khi thắp nén nhang trước quan tài ông, lại kéo nhau ra quán rượu gần nhà tang lễ nhắm ly rượu tiễn biệt người quá cố. Buồn thương, nhưng không bi lụy”. Trước đó 2 trang, sách viết: “Tự dưng thấy sức khỏe của mình không được như trước, năm 2003, ông đã đến phòng công chứng làm tờ di chúc. Biết tôi thích lưu giữ tài liệu về ông, ông tặng tôi bản sao tờ di chúc đó, nội dung có đoạn: “Hôm nay, ngày 20.11.2003, tại phòng công chứng số 5 thành phố Hồ Chí Minh, tôi tự nguyện tuyên bố nội dung di chúc của tôi và do công chứng viên ghi chép chính xác, đánh máy lại như sau: Tôi tên là Phạm Minh Tày, sinh năm 1926, chứng minh nhân dân số 021144502 cấp ngày 26.6.1978 tại công an thành phố Hồ Chí Minh…”.

Kể chuyện nhà thơ Chim Trắng (mất ngày 28.9.2011 tại nhà riêng ở Bình Dương), có đoạn: “Khi chứng ung thư gan bộc phát, ông vẫn kiên quyết không vào bệnh viện. Cô con dâu út phải năn nỉ ông”. Và: “Khi cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy, ông đã bứt hết dây truyền dịch thuốc, hét lên: “Tôi là người tự do…”. Rồi lịm dần”. Ở trang cuối, 472, tác giả cuốn sách này trích thơ của nhà thơ Lê Chí ở Cần Thơ, tiễn biệt Chim Trắng: Ông là con chim của vườn dừa thăm thẳm/ Lượn thong dong trên sóng Hàm Luông/ Vỗ cánh miệt mài đất nước. ■



Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130910/nho%E2%80%A6.aspx

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Thơ của một nhà giáo



Tác giả tập thơ Vết thời gian (NXB Hội Nhà văn, tháng 6.2013) là Ths Nguyễn Thanh Toàn, giảng viên Khoa Thủy sản Trường ĐH Cần Thơ, sinh năm 1960, quê Thái Bình, hội viện Hội Nhà văn TP.Cần Thơ. Lâu nay làm thơ anh ký bút danh Nắng Xuân, lần này chọn 58 bài thơ in thành tập, anh giữ tên thật.



Quê phương Bắc, định cư ở vùng đồng bằng sông nước phương Nam, lại làm nghề giảng dạy ở ngành thủy sản, thơ Nguyễn Thanh Toàn như những trang giáo án của cảm xúc. Trong bài Chuyện tình sông Hậu, anh mượn dòng sông để nói chuyện đời. Khúc đầu: Hậu Giang ơi!/Thương nhớ bồi hồi!/Dòng chảy xuôi có bao giờ hiểu được/… Mỗi cuộc đời sinh ra như đã biết yêu/ Yêu quê hương, yêu bến bờ, nguồn cội/ Yêu câu ca dao, yêu giọng hò diệu vợi / Yêu cái nhìn như đốt lửa… khát lòng nhau. Hai khúc cuối, chuyện của đời mình: Từ chối sông Đà, sông Đuống, sông La/ Hương Giang, La Ngà, Đồng Nai, Vàm Cỏ…/ Gái đoan trang, hàng trăm đám ngỏ/ Vẫn chung thủy đợi chờ dù biết rất xa anh/ Hậu Giang đôi bờ cây lá lên xanh/ Đi nhớ mãi, chân tình lưu luyến mãi/ Hẹn hò em mùa thu hoạch trái/ Chín ngọt tình yêu như thuở mới ban đầu/ Em đón anh về, ta say đắm bên nhau…

Là nhà giáo mang tâm hồn thơ ca, Nguyễn Thanh Toàn thường ghi lại cảm xúc của mình trước những sự kiện kinh tế xã hội trong đời sống. Thí dụ trước sự kiện khánh thành cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, anh viết bài Chiếc cầu mở lối tương lai có những hình ảnh bình dân và chất phác như vầy: Cầu Cần Thơ, mang dáng vóc kỷ nguyên/ Cõng sức trẻ xứ Chín Rồng nhập cuộc/ Đánh thức tiềm năng của miền sông nước/ Dang vòng tay chào đón bạn muôn phương…

Trong bài Về Ba Tri nhớ cụ Đồ Chiểu, nhà giáo Nguyễn Thanh Toàn đã Đốt nhang thầm nguyện trước đền/ Nương làn gió thuận/ xuôi thuyền thơ ca để tự nhắc nhở mình, kẻ hậu sinh của bậc tiền hiền “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm”: Ở đời phải ráng giữ mình/ Đức như gốc rễ, còn tình tay chân…

Tình yêu ở tuổi trung niên trong tâm hồn nhà giáo này khổ đau và lãng mạn đến dường nào mà anh lại chọn bài thơ Vết thời gian làm tựa đề cho cả tập thơ? Có phải nó ở đây: Như con sóng/ khi triều dâng để lại/ Trên cát hằn/ đầy những vết thời gian… Hay là đây: Dòng thời gian/ vẫn cuộn chảy không ngừng/ Đừng ngã gục/ và cũng đừng bỏ cuộc.

Dù sao, tình yêu vẫn còn đó. Giờ thì tôi đã hiểu vì sao anh từng ký bút danh Nắng Xuân. Trong bài Nắng xuân, thầy giáo Nguyễn Thanh Toàn đằm thắm viết: Uống từng giọt nắng xuân/ Càng uống càng thấy khát/ Hương mùa hoa ngào ngạt/ Lắng sâu tận đáy lòng. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130903/tho-cua-mot-nha-giao.aspx

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

15 năm Bạc Liêu


Lạc Long

Sau hơn một thập niên tái lập tỉnh và đổi mới, Bạc Liêu giờ đây đang trên đà phát triển, vươn lên với biết bao đổi thay. Nhân dịp tổng kết cuộc thi ký báo chí chủ đề Bạc Liêu - 15 năm đổi mới và phát triển do Hội Nhà báo Việt Nam tỉnh Bạc Liêu tổ chức, 24 tác phẩm tiêu biểu của nhiều tác giả đã được tập hợp in thành sách với tựa đề Bạc Liêu tình đất, tình người do Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu ấn hành, tháng 1.2012.    

Trong bút ký Điện gió - nguồn năng lượng mới ở ĐBSCL của tác giả Vũ Thống Nhất, Bạc Liêu được miêu tả như một địa phương tiên phong trong vùng châu thổ sông Cửu Long với việc phát triển điện gió, một nguồn năng lượng xanh, sạch. Để hình dung về quy mô của công trình này, xin trích một đoạn: “Dọc biển Đông hàng cây số, kéo dài từ phường Nhà Mát qua Vĩnh Trạch Đông đến ranh giới tỉnh Sóc Trăng là những tua-bin gió với cánh quạt khổng lồ xếp hàng thẳng tắp quay vù vù”. Thêm nữa, “công trình điện gió đã là một sản phẩm du lịch đáng giá cho đất biển Bạc Liêu và kéo theo nhiều dịch vụ mới cho khu đô thị mới”.

Trong Bạc Liêu: những gam màu tôm lúa, tác giả Thanh Thủy phản ảnh bức tranh kinh tế sau 15 năm tái lập tỉnh, đời sống của người dân Bạc Liêu đã được đổi mới. Nhờ biết chuyển đổi mô hình sản xuất từ độc canh cây lúa sang trồng lúa, nuôi tôm kết hợp với mô hình 1 lúa - 1 tôm mà thu nhập đầu người của Bạc Liêu năm 2011 đã cao hơn năm 1997 đến hơn 9 lần. Tác giả khẳng định: “Như vậy là sau 15 năm đổi mới, đời sống của người dân Bạc Liêu được nâng lên rõ rệt, với mức thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 24 triệu 590 ngàn đồng, so với 5 năm trước, tăng 4,4 lần và so với năm 1997 thì mức thu nhập tăng 9,07 lần”.



Những chuyên gia chân đất của tác giả Thanh Phong khái quát chân dung người nông dân điển hình với quy trình nuôi tôm “gây sốc” hay việc một lão nông hơn 40 năm gắn bó với ruộng đồng đã lai tạo nên những giống lúa mới, chất lượng cao. Đó là “vua tôm” Võ Hồng Ngoãn thành công trong nhiều năm liền với việc thả nuôi tôm mật độ thưa “từ 7- 9 con/m2, thay vì 25 - 30 con/m2 như nhiều người áp dụng, nhưng hiệu quả thì hơn hẳn”. Còn ông “Tám lúa giống” chính là lão nông Nguyễn Văn Lạc, người đã chọn lọc, lai tạo thành công 146 dòng lúa giống mới dù chỉ là “một nông dân không có bằng cấp nào lận lưng”. Tác giả cho biết nổi bật trong những giống lúa mới của ông, có giống BL17, BL29 cho năng suất cao từ 8 - 8,5 tấn/ha/vụ, được nhiều hộ nông dân ĐBSCL áp dụng sản xuất.

Bộ mặt đô thị của TP.Bạc Liêu cũng được ghi nhận trong cuốn sách này, như điểm nhấn về sự đổi mới của một vùng đất gắn bó lâu đời với nông thôn. Đó là hình ảnh phố phường khang trang, sạch đẹp. Tác giả Đỗ Hiếu Liêm, trong bút ký Cảm nhận trên những con đường được thay áo mới, miêu tả những dãy vỉa hè mới nằm dưới tán cây xanh của 35 tuyến đường kiểu mẫu: “Mới ngày nào đó, cũng trên đường phố này, cũng trên vỉa hè này còn bộn bề lo toan với những bụi bặm, rác rưởi, khập khiễng dưới chân thì nay, dưới đôi bàn chân ta bước là những dãy vỉa hè thông thoáng, thẳng băng với đủ màu sắc”. Điều đáng nói ở đây, theo tác giả, là “100% vốn xây dựng đều là do dân đóng góp”, “chính quyền giữ vai trò chỉ đạo, định hướng”.

Tuyển tập này còn có ký sự của nhà văn Phan Trung Nghĩa, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đang công tác tại Báo Bạc Liêu và Hội Văn nghệ Bạc Liêu. Kể chuyện xây dựng nông thôn mới với đủ loại tiêu chí mà không thấy ai nhắc cái hồn cốt của nông thôn như câu ca dao Chiều chiều ra đứng bờ ao, ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều - nhà văn bèn viết bút ký Giữ cho làng một khúc đồng dao. Nhắc lại chuyện 16 người đầu tiên làm Báo Bạc Liêu sau khi tách tỉnh Minh Hải, Phan Trung Nghĩa kể trong bút ký 15 năm báo Bạc Liêu - một hòn than âm ỉ cháy: “Về Bạc Liêu là chúng tôi về một vùng kỷ niệm, về lại cái thời tấm mẳn của mình. Ở đó cái gì cũng quen thuộc và đầy ray rứt. Đời sống xã hội những năm đầu chia tách tỉnh đầy ngổn ngang bề bộn. Đất nước đã chuyển sang nền kinh tế thị trường được vài năm, dấu hiệu chuyển động tích cực đã rõ nhưng thị xã Bạc Liêu vẫn nghèo nàn với những dãy phố rêu phong, cổ kính. Càng đi sâu vào nông thôn càng thấy cái nghèo hiện diện khắp nơi”.

Từ một Bạc Liêu danh tiếng với bản Dạ cổ hoài lang của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu và giai thoại Công tử Bạc Liêu, qua tuyển tập khiêm tốn và chứa nhiều thông tin này, tôi lại muốn làm một du khách, tìm về với tình đất, tình người Bạc Liêu của thời đổi mới. ■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130827/15-nam-bac-lieu.aspx

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

Nói cho người ta nghe

Lạc Long

Không phải là một người có khiếu về lĩnh vực thuyết trình hoặc nói trước công chúng nhưng khi đọc quyển sách Bí quyết trình bày từ các chuyên gia (NXB Dân Trí và Alphabooks ấn hành vào quý 2.2013), tôi cảm thấy mình bị thu hút bởi nghệ thuật thuyết trình từ các diễn giả chuyên nghiệp.

Quyển sách dày 339 trang, gồm 16 chương, theo lời các tác giả, dành cho những ai muốn những cuộc thuyết trình hoặc nói chuyện hằng ngày trở nên cuốn hút người nghe và có sức thuyết phục hơn. Và “đây cũng là cuốn sách cần thiết cho những người muốn theo đuổi sự nghiệp diễn thuyết, huấn luyện hay giảng dạy chuyên nghiệp”. Nói cách khác, cuốn sách như một cẩm nang “nói cho người ta nghe”, từ cách nói chuyện bình thường trong gia đình, với bạn bè, “thuyết phục” sếp trong công sở… cho đến chuyện thuyết trình trước công chúng.



Diễn giả chính, Quách Tuấn Khanh, cùng 13 đồng sự - Hồng Phương Lan, Vũ Hoàng Quốc Tuấn, Lu Tùng Thanh, Lưu Ngọc Lâm, Nguyễn Anh Tuấn, Trần Đức Hưng, Trần Thiên Lý, Nguyễn Đức Nhật, Phan Cử Nhân, Hoàng Minh Việt, Nguyễn Hoài Nam, Huỳnh Ngọc Minh và Trần Hữu Lễ - đã chia sẻ nhiều bí quyết để “nói cho người ta nghe”. Riêng Quách Tuấn Khanh, “là một doanh nhân thành công và là một diễn giả hàng đầu Việt Nam”; là “chủ tịch Power UP Group, diễn giả chính của Công ty d’Oz International (Singapore) và là 1 trong 6 PEP (Personal Efficiency Program – chương trình nâng cao hiệu suất cá nhân), người đầu tiên được chứng nhận quốc tế ở châu Á”. Các đồng tác giả khác cũng là những doanh nhân thành đạt, những diễn giả tiêu biểu có sức ảnh hưởng trong lĩnh vực phát triển con người ở Việt Nam.

Đầu tiên, các tác giả gợi ý việc sử dụng quyển sách sao cho hiệu quả: “Trước khi đọc, hãy nghiêm túc đánh giá kỹ năng trình bày của mình ở mức nào để biết những điểm cần cải thiện hoặc phát huy; đọc kỹ và không nên bỏ qua những bài thực hành được gợi ý trong từng chương; bạn có thể không đọc hết cuốn sách, chỉ đọc những chương mình quan tâm; khi soạn bài trình bày, bạn hãy sử dụng cuốn sách như một cẩm nang hướng dẫn để chuẩn bị thật tốt”.

Mở đầu chương 1, diễn giả Quách Tuấn Khanh bày tỏ: “Thực tế cho thấy, khả năng nói chuyện và trình bày của nhiều người Việt Nam không được tốt”. Theo ông, đa số người ta sinh ra không phải ai cũng là những nhà hùng biện bẩm sinh mà thành công đạt được là do quá trình rèn luyện. Ông viết: “Nếu bạn muốn trình bày tốt, thì cũng giống như mọi kỹ năng khác, hãy thực hành nhiều và điều chỉnh sau mỗi lần thực hành”. Tác giả lấy ví dụ điển hình của cựu giám đốc Apple, Steve Jobs, đã tiến bộ như thế nào qua những cuộc thuyết trình từ năm 1984 đến thành công “tuyệt diệu” vào năm 2007. Quách Tuấn Khanh nhấn mạnh: “Chính việc cam kết rèn luyện đã tạo nên sự khác biệt”. Tác giả khẳng định, khi đã có kỹ năng trình bày tốt, bạn sẽ thu được những lợi thế trong cuộc sống, đó là: có được việc làm tốt; thăng tiến trong công việc; ký được nhiều hợp đồng hơn; tổ chức các cuộc họp chất lượng; xua tan chán nản và căng thẳng; tạo dựng diện mạo bản thân mạnh mẽ hơn; tạo dựng các mối quan hệ; gia tăng quyền lực và trao dồi sự tự tin.

Trong chương 3, chuyên gia Hồng Phương Lan chỉ ra bí quyết để có thể có một buổi thuyết trình thành công, xua tan đi nỗi sợ hãi khi phải đứng trước một đám đông hoàn toàn xa lạ. Bí quyết ấy bao gồm 8 ý: tận dụng mọi cơ hội; chuẩn bị sớm và kỹ lưỡng; dùng lối độc thoại tích cực; thả lỏng cơ thể; không có buổi thuyết trình nào hoàn hảo trăm phần trăm; tập thư giãn; ăn uống hợp lý; chuẩn bị tâm lý trước những tình huống không ngờ. Ngoài ra, để có được một bài thuyết trình hay, thu hút người nghe thì cần phải đảm bảo đủ 3 phần chính, như chuyên gia Lưu Ngọc Lâm giới thiệu trong chương 6: “phần mở đầu” để thu hút sự chú ý; “phần nội dung chính” bám sát các kịch bản đã chuẩn bị trước, xem phản ứng của người nghe và “phần kết luận” giúp người nghe hình dung và sắp xếp lại những điều đã được trình bày, sao cho họ nhớ được càng nhiều thông tin càng tốt.

Ở chương 9, diễn giả Huỳnh Ngọc Minh chia sẻ những bí quyết về việc sử dụng ngôn ngữ để chinh phục người nghe: “Để dùng lời nói hiệu quả, nên tránh dùng biệt ngữ, nên sử dụng ngôn từ mạnh mẽ, giàu hình ảnh, hùng hồn, dứt khoát và chính xác”. Tuy nhiên, trong một buổi thuyết trình, thì không phải chỉ có giọng nói hay nội dung đã được chuẩn bị sẵn, mà “ngôn ngữ cơ thể” cũng được cho là một yếu tố “dẫn đắt người nghe”. Dẫn nghiên cứu của giáo sư tâm lý học Albert Mehrabian, ĐH California, tác giả Lu Tùng Thanh cho biết: “Trong ba yếu tố chuyển tải thông điệp - ngôn từ, giọng nói và ngôn ngữ cơ thể - thì ngôn ngữ cơ thể chiếm vị trí quan trọng nhất, 55% so với 2 yếu tố còn lại là 7% cho ngôn từ, 38% cho giọng nói”.

Đến chương cuối, chuyên gia Trần Hữu Lễ cho rằng “kể chuyện” là một trong những cách chinh phục người nghe. Ông viết: “Các câu chuyện có thể giúp người nghe nắm được một điểm trình bày quan trọng nào đó chỉ với một hình ảnh duy nhất, đôi khi là một chữ duy nhất nào đó. Các câu chuyện có thể đơn giản hóa được các ý niệm phức tạp, làm rõ lên những gì mang tính nhập nhằng, lộn xộn và soi sáng những ý tưởng khó nắm bắt”. Dẫn kinh nghiệm thành công của Steve Jobs, “ông vua” của thương hiệu Apple, tác giả nhấn mạnh: “Steven Jobs là người biết cách biến những buổi thuyết trình của ông thành những show diễn trên sân khấu mà ông là diễn viên chính”.■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130820/noi-cho-nguoi-ta-nghe.aspx

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Thơ của một lão nông


Bìa kép tập thơ Sông Trắng in ảnh trắng đen chân dung một ông già có lông mày bạc, tóc bạc và khuôn mặt đen cháy rặt nông dân với chú thích: “Nguyễn Thái Thuận. Sinh năm 1939. Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Cà Mau. Sáng tác từ những năm 1970 đến nay. Hiện trồng rau trên mảnh đất vườn nhà”.



Sau mấy ngày đọc 36 bài thơ được trình bày chăm chút, sang và giản dị, tôi nói: “Sông Trắng là thơ của một lão nông”. Nhà thơ Lê Chí đang ở Cần Thơ, cùng quê Cà Mau và cùng thế hệ với tác giả, nói: “Lão nông có chữ. Là cán bộ ở Khu đoàn Khu 9, lên miền Đông học rồi vào giải phóng Sài Gòn năm 1975. Lão nông hiền lắm, tâm trạng lắm”. Người bạn đang làm việc ở báo Thanh Niên nói: “Hồi còn làm ở báo Minh Hải, mình đã in thơ của ổng. Thơ ổng có nhiều hình ảnh”. Xin được trích:

Như hạt sương, bài mở đầu tập thơ: đến một ngày không xa lắm/ mình sẽ như hạt sương lấm tấm/ tan biến/ dần/ có một nỗi đắm say/ được trèo lên hái trái/ càng đến gần/ bật thèm nhỏ dãi/ đạp dưới chân mình những thảm cỏ non tơ/ tan biến dần/ những vị ngọt giả vờ.

Còn đây, Buồn giáp hạt (trang 44): tháng năm nắng cháy/ đất bạc đầu/ người bất lực bạc đầu/ cả cuộc đời lặn ngụp đồng sâu/ nay đất cũng hóa thành đất trắng/ tiếng vạc đói mồi kêu đêm rời rạc/ trâu quay về nứt nẻ dấu chân/ tháng Năm ơi/ đậm đặc nỗi nhọc nhằn/ nuôi hy vọng trong bàn tay nhỏ bé. Bài thơ không ghi thời gian sáng tác và chữ của lão nông đã hóa nỗi buồn.

Ký ức chiến tranh bàng bạc trong Sông Trắng. Bài Ngày về của người lính có đoạn chót như vầy: cầm lại cuốc cày bằng một bàn tay máu ứa/ một mảnh vườn hoang/ mấy hố bom há miệng/ đè lên nỗi đau/ bước vào chiến trận/ phía trước phía sau chỉ có một mình/ đêm chong đèn/ ngày lam lũ, lặng thinh/ thương con cuốc không còn chỗ ở/ bầy ròng ròng lẩn quẩn chờ mưa/ bên này mấy liếp dưa/ bên kia vườn cà chín đỏ/ cô gái lỡ thì gánh hàng ra chợ/ không buồn bớt một thêm hai/ mấy lượt trở mình nghe gió khuya lay/ cái lạnh tràn vào bếp trống/ người đã khuất non cao sông rộng/ mươi năm đắng đót đợi chờ/ cây đã nặng cành/ thèm một tiếng ầu ơ. Cuối bài thơ Viếng mộ chị Võ Thị Sáu được viết vào năm 2012: hàng dương lặng/ cõi vô thường tĩnh lặng/ khói hương bay đắp trên giấc ngủ dài/ lược gương như bao người con gái/ gió đã già, chị vẫn còn trẻ mãi.

Một ngày tháng 10.1995, ông gởi tâm trạng của mình vào bài thơ Sông Trắng: mưa trên sông hóa thành sông trắng/ đẩy lùi những bến bờ xa/ chiều Năm Căn trời sa, đất lặng/… sông quê bạc phếch hạt mưa chiều/ ngửa mặt trầm tư mi sông bạc.

Bước vào tuổi 73, lão nông viết bài thơ Lỡ hẹn, 3 câu đầu: anh không về như đã hẹn/ căn nhà nhỏ bên sông Trẹm/ từ hôm ấy tạnh đợi mong; và 4 câu cuối: tháng tư nào rạng rỡ non sông/ anh đã ngủ giấc dài trên bậc cửa/ buổi sum họp chỉ thiếu vài bước nữa/ để tay em chới với suốt đời.

Tới trang chót của Sông Trăng, trang 74, tác giả ghi ở cuối bài Vào cuộc rong chơi năm sáng tác là 2013. Và đây là “cuộc rong chơi” của lão nông 74 tuổi: sớm mai nào ta trở về với gió/ lay nhẹ cành, vờn luống mạ non/ mãi rong ruổi những chân trời thẳm/ bỏ sạch trơn thương nhớ, mất còn/ sớm mai nào ta lơ lửng cùng mây/ lang thang trôi tận trời cuối đất/ hóa thân thành núi non huyền hoặc/ những đền đài ảo ảnh thoắt biến tan/ sớm mai nào ta tan vào biển/ không dấu chân không sợi tóc ngắn dài/ miên man sóng khỏa/ trăng xanh lạnh/ bờ bãi xưa bỏ lại bên sông/ sớm mai nào ta cuộn trong chăn đất/ miên man chiêm bao giấc ta bà/ khói hương bay trên cánh đồng quên lãng/ tang tình tang hồn vào cuộc rong chơi.

Nhà thơ Lê Chí nói: “Bìa tập thơ đẹp” - bìa của Hiếu Vũ. Sông Trắng in 500 bản, do NXB Thời Đại và Hội Văn học nghệ thuật Cà Mau ấn hành, quí 3.2013, không in giá bán. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130813/tho-cua-mot-lao-nong.aspx