Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Gạo thơm ST ra thế giới


Cục Sở hữu trí tuệ đã chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” từ cuối năm 2011 cho dòng sản phẩm gạo thơm mang tên ST. Người xây đắp cho thương hiệu này, kỹ sư Hồ Quang Cua, nay đang mong muốn nâng ST lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới.

Thái Lan làm được, sao mình không làm ?


Kỹ sư Hồ Quang Cua - Ảnh: H.Kim

Tốt nghiệp kỹ sư trồng trọt Trường ĐH Cần Thơ năm 1978, anh Hồ Quang Cua  trở về quê nhà Sóc Trăng, làm việc tại Phòng Nông nghiệp H.Mỹ Xuyên, sau đó được đề bạt làm Phó giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Sóc Trăng. Đến nay, anh đã cùng nhóm cộng sự đi qua chặng đường hơn 20 năm xây dựng thương hiệu gạo thơm ST. 

Từ năm 1991, Hồ Quang Cua đã tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và ĐH Cần Thơ lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Được làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng.

Dạo đó, anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn tạo; vậy mà những năm 1992 - 1997, mỗi năm Thái Lan thu gần 1 tỉ USD nhờ xuất khẩu hơn một triệu tấn gạo này. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỷ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?” - Hồ Quang Cua tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện lao vào công việc bất kể ngày đêm. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã rút ra 3 kết luận hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1/ Quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2/ Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không thể như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3/ Phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, ít người tán thành những nhận định mới này, nhưng rồi được Bộ Nông nghiệp và lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo, trong đó có gien giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía bắc và giống Tào Hương của Sóc Trăng. Tới năm 2013 này, đã có 21 giống ST. Riêng ST20, cho hạt gạo thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm. 

Từ năm 2009, đã có gần 25.000 ha lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta nữa được các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL trồng. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình hành tím - lúa và tôm - lúa. Ông Trà Diên ở xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi đang làm 2.500 ha lúa ST5, nói: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Hồ Quang Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được vài trăm ngàn héc ta giống ST. Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”.

Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ tiến sĩ hồi tháng 10.2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”. 

ST ra thế giới, nông dân và doanh nghiệp cùng có lợi


Cuối năm 2011, đã có 5 đơn vị được Sở NN-PTNT Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty Gentraco ở Cần Thơ, Công ty lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Cũng năm đó, lần đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu được hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine vì giống ST chưa có nhiều, mới đủ tiêu thụ nội địa.

Tình hình này đã thôi thúc kỹ sư Hồ Quang Cua cùng các đồng sự dấn thân tiếp vào một kế hoạch mới. Họ đang làm đề án “Xây dựng liên minh nông dân và doanh nghiệp dựa trên quan hệ sản xuất mới” với mục tiêu hàng đầu là “tăng thu nhập cho nông dân”. Nông dân trồng lúa thơm ST sẽ tăng thu nhập lên tối thiểu 20% trong năm đầu tiên và tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và năm thứ 3 nhờ nắm bắt đầy đủ kỹ thuật canh tác. Cơ sở nào để có dự án này? Anh Cua cho biết giá gạo trắng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2013 chỉ nhỉnh hơn 400 USD/tấn dẫn tới hiệu quả sản xuất lúa gạo thấp. Trong khi đó, Công ty lương thực Sóc Trăng và Công ty TNHH Trung An ở Cần Thơ đã xuất khẩu gạo ST20 với giá 900 USD/tấn và đang thiếu hàng để bán.

Hồ Quang Cua hỏi: “Vậy ta có nắm được cơ hội này để thâm nhập sâu vào thị trường gạo cao cấp của thế giới không? Và ta có thể tổ chức sản xuất một vài chủng loại lúa đặc thù của Việt Nam, như ST, với mô hình doanh nghiệp liên kết với nông dân?”. Rồi tự trả lời: “Làm được nghĩa là chúng ta tạo được một quan hệ sản xuất mới, hữu cơ giữa nông dân và doanh nghiệp, điều mà Chính phủ vừa phê duyệt trong kế hoạch tái cơ cấu sản xuất lúa của Bộ NN-PTNT”.

Theo các tác giả dự án, gạo thơm ST20 và ST21 là gạo thơm cao cấp, rất được người tiêu dùng trung lưu thành thị ưa chuộng, bán được giá cao, nội địa bình quân 1 USD/kg, xuất khẩu tới 900 USD/tấn, như vậy là gạo Việt Nam bắt đầu cạnh tranh được với gạo thơm cao cấp của Thái Lan. Giờ  đây, nếu mô hình liên kết nông dân - doanh nghiệp được đầu tư làm bài bản ở quy mô lớn hàng ngàn héc ta ngay từ năm đầu, thì chẳng những gia tăng thu nhập ngay cho nông hộ và doanh nghiệp mà còn là mô hình để làm đúng việc liên kết bốn nhà trong cánh đồng mẫu.

“Mong ước cuối cùng của tôi là việc xác lập quan hệ sản xuất mới mang tính bền vững cho chuỗi giá trị, và gạo thơm Sóc Trăng sẽ có ngày được nâng lên thành thương hiệu gạo Việt Nam trên thương trường thế giới”, kỹ sư Hồ Quang Cua quả quyết như vậy.■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131007/gao-thom-st-ra-the-gioi.aspx

Thứ Hai, 7 tháng 10, 2013

Đọc sách: HỒI KÝ CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP



Vào tháng 3.2006, NXB Quân đội Nhân dân đã ấn hành Tổng tập hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với lời giải thích: “Việc có trong tay cùng một lúc nhiều tác phẩm hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã và đang trở thành một nguyện vọng tha thiết của rất nhiều bạn đọc”. Bộ sách dày 1.360 trang, in 1.350 bản, giá bìa 380.000 đồng, nay không còn thấy trong nhiều nhà sách. 




Bộ tổng tập gồm sáu hồi ký đã xuất bản trước đó: Từ nhân dân mà ra (in năm 1964), Những năm tháng không thể nào quên (1974), Chiến đấu trong vòng vây (1998), Đường tới Điện Biên Phủ (2001), Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử (2004) và Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng (2005). Năm cuốn đầu do nhà văn Hữu Mai thể hiện; cuốn thứ 6 do Đại tá Phạm Chí Nhân thể hiện. 

Trong bài “Vĩnh biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp” đăng báo Thanh Niên hôm 5.10 ngay sau khi hay tin Đại tướng từ trần vào chiều ngày 4.10, thọ 103 tuổi, giáo sư sử học Phan Huy Lê viết: “Ông là người cùng toàn quân, toàn dân viết lên những trang sử oanh liệt chống ngoại xâm và là người chép lại chính những trang sử đó… Với tầm bao quát của vị thống soái, những trang hồi ký của ông vừa mang tính cụ thể của nhiều tình tiết sinh động, vừa phản ánh toàn cục của cuộc chiến tranh”.

Từ nhân dân mà ra kể chuyện lịch sử hình thành Quân đội Nhân dân Việt Nam mà tiền thân là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời ngày 22.12.1944 tại chiến khu Cao Bắc Lạng; chỉ với 34 chiến sĩ đầu tiên đã đánh thắng hai trận mở màn Phai Khắc, Nà Ngần. Tác giả kể sau trận Nà Ngần diễn ra vào rạng sáng ngày 25.12.1944: “Trận đánh kết thúc trong vòng dăm phút. Toàn bộ binh lính địch đầu hàng. Về phía ta, đồng chí Bê bị thương ở ngón tay vì viên đạn của tên quản. Bộ đội nhanh chóng thu thập súng đạn, tài liệu, phát truyền đơn và dán biểu ngữ. Tù binh được tập hợp lại giữa sân.  Chị Loan, chị Cầm và chị Thanh giải thích cho họ bằng tiếng Thổ. Họ rất ngạc nhiên khi thấy hai nữ chiến sĩ vai mang súng, lưng đeo đạn, nói năng rất lưu loát, phân tích cho họ về tình hình trong nước và nghĩa vụ của những người dân, kêu gọi toàn thể binh sĩ quay súng lại giết giặc”.

Hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, như lời của tác giả: “Tôi muốn ghi lại một số hình ảnh của Bác trong những năm, tháng không thể nào quên của thời kỳ đầu mới giành được chính quyền, khi vận mệnh của Tổ quốc đã có lúc như “ngàn cân treo sợi tóc””. Có một chuyện xảy ra vào tháng 10.1945: “Môt hôm, bộ tư lệnh quân đội Tưởng đề nghị Bác đến gặp. Bác về muộn, lặng lẽ ngồi vào bàn ăn… Bác kể lại sáng nay bọn Tưởng đòi Bác ký giấy nhận cung cấp cho chúng một số gạo rất lớn. Bác đã từ chối. Chắc chúng còn tiếp tục làm rầy về chuyện gạo. Bác nói: “Gạo đâu mà đưa chúng nhiều thế. Dân mình đã có đủ gạo ăn đâu!”. Thấy vẻ bất bình của chúng tôi, một lần nữa, Bác nhắc lại cần phải biết kiên nhẫn chịu đựng, giữ hòa hoãn với quân Tưởng để có thể tập trung mũi nhọn vào kẻ thù chính. Bác kiên quyết trong nguyên tắc và linh hoạt về sách lược. Và khi sách lược đã định ra rồi, Bác cũng rất kiên quyết thực hiện sách lược”.

Mở đầu hồi ký Điện Biên Phủ điểm hẹn lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký tên dưới dòng bút tích của mình:“Điện Biên Phủ là điểm hẹn mà Lịch sử dành cho những cuộc chiến tranh xâm lược trong thời đại ngày nay”. Gần cuối hồi ký, có câu chuyện này: “Hai ngày sau khi cuộc chiến đấu kết thúc, tôi từ Mường Phăng tới thăm chiến trường Điện Biên Phủ. Trạm tù binh ở rải rác hai bên đường. Binh lính địch vóc dáng to lớn tắm giặt ở suối dưới sự canh gác của những chiến sĩ rất trẻ, bé nhỏ, vẻ mặt hiền lành. Từ một khu rừng vẳng ra tiếng phong cầm rộn ràng, hòa với tiếng hát của những tù binh Pháp. Các đồng chí công tác địch vận đã báo cáo, binh lính địch tỏ vẻ vui thích khi ra hàng. Họ đều muốn sớm chấm dứt cuộc chiến đấu tuyệt vọng, không mang lại lợi lộc gì cho mình, để thoát khỏi cái địa ngục trần gian do Nava đã tạo nên”.

Và ở gần cuối tập hồi ký thứ 6, Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng, Võ Đại tướng đã kể lại câu chuyện này: “Năm 1971, tôi sang Liên Xô khẳng định quyết tâm đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn và đề nghị bạn có sự giúp đỡ đặc biệt. Tại cuộc họp với các đồng chí trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, đồng chí Côxưghin hỏi: “Tôi xin hỏi đồng chí Giáp. Đồng chí nói Việt Nam đánh thắng Mỹ. Tôi muốn biết đồng chí có bao nhiêu đoàn bộ binh cơ giới và Mỹ có bao nhiêu? Xe tăng, pháo hạng nặng và máy bay chiến đấu… các đồng chí có bao nhiên và Mỹ có bao nhiêu? Khả năng về phòng không, về tên lửa, về thông tin, rađa của các đồng chí như thế nào? Xin đồng chí nói qua cho tôi biết”. Tôi trả lời: “Tôi hiểu câu hỏi của đồng chí. Đồng chí muốn biết về vấn đề so sánh lực lượng giữa chúng tôi và Mỹ. Theo học thuyết quân sự Xô Viết là như vậy. Học thuyết quân sự Xô Viết hết sức ưu việt, đã chiến thắng phát xít Đức. Điều đó rất rõ ràng. Nhưng, tôi xin nói nếu chúng tôi đánh theo cách đánh của các đồng chí thì chúng tôi không đứng nổi hai tiếng đồng hồ. Chúng tôi đánh theo cách đánh khác, cách đánh của Việt Nam, và chúng tôi sẽ thắng”. Sau ngày toàn thắng, có dịp trở lại Liên Xô, gặp lại đồng chí Côxưghin, tôi cảm ơn Liên Xô đã nhiệt tình giúp đỡ Việt Nam đánh Mỹ. Đồng chí vui vẻ nói: “Việt Nam thắng to quá, như thế tốt quá! Xin chúc mừng các đồng chí”.

Trước đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khái quát: “Độc lập và tự chủ, thông minh và sáng tạo, đó là nét nổi bật của học thuyết quân sự Việt Nam”. ■


Đã đăng trên báo Thanh Niên ngày 8.10.2013

Thứ Tư, 2 tháng 10, 2013

Hiu hiu buộc thả



Tập thơ Buộc thả (NXB Hội Nhà văn, 11.2012) của nhà thơ Phong Tâm in bìa cứng, dày 104 trang, gồm 54 bài thơ trữ tình với hai phụ bản của nhà thư pháp Hoa Nghiêm vẽ hai câu trong bài thơ Tàn cuộc mang đậm chất suy tư: Tiệc tàn khách đã tan rồi / Còn ta lặng lẽ ta ngồi với ta; Đang khuya ờ cứ khuya thôi / Có vui hẳn biết mồ côi mới buồn.



 Bìa 4 Buộc thả in hình tác giả, một ông già tóc bạc mỉm cười hiền với đuôi mắt chân chim cùng mấy dòng chú thích: “Phong Tâm tên thật Nguyễn Vân Long; sinh quán Vĩnh Thành, Chợ Lách, Bến Tre. Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre. Tác phẩm đã xuất bản: Lá nắng (tập thơ) NXB Văn nghệ TP.HCM, 1976; Bến (tập thơ) NXB Văn hóa Văn nghệ, 2010…”.

Phần phụ lục ở cuối tập thơ có in ý kiến một số văn nhân về Phong Tâm. Nhà thơ Ý Nhi: “Đó là một tâm hồn nhạy cảm, nhân ái, dịu dàng. Với một tâm hồn như thế, thơ Phong Tâm đã đem lại cho người đọc niềm xao xuyến, nghĩ suy với những gì ông nghe thấy, nhìn thấy và cảm nhận được suốt chặng đường đời của ông”.  Nhà thơ Kim Ba: “Phong Tâm là một người rất đam mê thơ, thể hiện ở việc ông chỉ chuyên tâm làm thơ (dạng trữ tình). Đặc biệt sự đam mê thơ của ông hết sức bền bỉ, cẩn trọng lao động nghệ thuật và đây là điều làm nên chất thơ ông”.

Là người cùng thời văn nghệ với nhà văn Sơn Nam, có lần đọc lại cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam do Sơn Nam ký tặng mình, Phong Tâm đã viết bài thơ Hiu hiu nhớ người bạn già. Có những câu cảm động và gợi nhớ phong cách Sơn Nam: Hiu hiu buồn hiu hiu vui / Hiu hiu nhớ hiu hiu cười, hiu hiu / Nhớ người cười nhếch chân xiêu / Nước lên, bàn chuyện trời chiêu đãi mùa / Cái thâm, nửa thật nửa đùa / Nói riêng ta hiểu đủ vừa ta nghe / Nuốt mặn đắng, nhả chua lè / Ngậm nghe, mới tận… viên chè Sơn Nam / … Cám ơn người tặng sách chơi / Cho ta đọc rách trang đời liêu xiêu / Người đi hạt bụi đi theo / Nghiêng mình nhớ đất quê gieo hương rừng.

“Buộc” và “thả” của Phong Tâm, như là điều ám ảnh đời người. Có khi “thả” đứng một mình: Thả trời xuống biển thêm sâu / Thả em trắng bạc phơ màu tóc anh / Thả hoang sơ giữa tụi mình (Thả). Có khi “buộc thả” song hành: Buộc tình vào góc trăng quê / Thả chiêm bao xuống đường về tuổi thơ (Con của mẹ). Trăng lộ bóng tàn đêm chưa chưa kịp giấu / Em mỉm cười buông bắt thả chiều xanh (Buông bắt thả). Tay lơi tay lỏng sợi tình / Buộc hoàng hôn lặng thả bình minh trôi / … Siết quên lỏng nhớ tay mềm / Còn nghe tiếng rớt nổi chìm sau lưng (Buộc thả).

 Và đúng như nhận xét của nhà thơ Kim Ba, “sự đam mê thơ của ông hết sức bền bỉ”; bài Xác thơ, một trong số ít bài thơ không vần của tập thơ này, tác giả Phong Tâm dường như muốn đi đến cùng của “kiếp người - kiếp thơ”: Nỗi ám ảnh / Nhấp nhứ / Về cái chết đến gần / Có không điều bất tử / Có không một thuật ngữ trần truồng / Lẩn quẩn ngoài thế giới tâm hồn / Những giọt lạnh / Rơi / Nhểu / Chưa kịp giãy giụa / Chưa kịp nhắm mắt / Chưa kịp ngừng thở / Một thi thể bên vũng buồn / Không chôn cất. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20131001/hiu-hiu-buoc-tha.aspx

Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Ký của Nguyễn Thanh


Đau đáu sông quê là tập ký mới nhất của nhà văn Nguyễn Thanh, do NXB Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 7.2013 sau hơn 20 tập truyện, ký và tiểu thuyết ra đời từ năm 1976 đến nay, trong đó có không ít tác phẩm đã đi vào lòng người: Trên đồng Phong Thạnh (ký - 1976), Xóm lở (truyện ngắn - 1982), Thị trấn cuối cùng (truyện vừa - 1987), Chấm lửa đêm chiến tranh (truyện ngắn - 1992), Bóng chiều hôm (truyện ngắn - 2001), Đồng sâu một thuở (tiểu thuyết - 2008), Những lát cắt sau chiến tranh (truyện vừa - 2010)…





Đã lên tuổi 71 (Nguyễn Thanh sinh năm 1942 tại xã Khánh Bình, H.Trần Văn Thời, Cà Mau), nhà văn vốn thích “sống lặng lẽ, đi và viết” ấy dường như đã muốn “nhìn lại mình” qua tập ký này. Đau đáu sông quê phân rõ làm hai phần: phần một có tiêu đề là “Đất và người vùng đất cực Nam Tổ quốc - thời bình”; phần hai là “Viết trong chiến tranh”. Thời chiến, Nguyễn Thanh chọn ra 24 câu chuyện mà chỉ cần nghe tên tác giả đặt cho mỗi chuyện, có thể hình dung không khí chiến tranh thời đó: Đi về phía có tiếng súng; Người đàn bà cản xe bọc thép; Ông già Bá đỏ; Bến tập kết Sông Đốc - xuân 74; Nhớ thương nơi chót cùng đất nước; Nhật ký về những con đường mòn; Chuyện xóm Đìa; Trên đồng Phong Thạnh… Thời bình có: Đất cũ, người xưa và cây me già; Đau đáu sông quê; Vùng biển ấy; Cầu Tắc thủ - một mảnh hồn quê; Rừng cháy và những người đi qua rừng; Tản mạn về ngôi trường cũ; Viết trên nền đất cũ…

Bao nhiêu là “vốn sống” đã tràn ra trong Đau đáu sông quê, như lời nhà văn Lê Văn Thảo: “Hơn năm mươi năm lăn lộn với vùng đất Mũi Cà Mau, trong đó có mười lăm năm trong chiến tranh chống Mỹ. Từng ấy năm sống và chiến đấu, cũng từng ấy năm cầm viết, không thể nói gì hơn về những hiểu biết, gian khổ hiểm nguy anh đã trải qua, đã chịu đựng, tích lũy vốn sống cho ngòi viết của mình”.

Nhà văn Anh Đức cụ thể hơn: “Khi bắt đầu cầm tập bản thảo lên đọc, trong tôi chớm dậy một nỗi ước ao, hy vọng rằng những trang viết của Nguyễn Thanh sẽ đưa tôi trở về vùng đất xưa kia tôi đã từng sống với biết bao kỷ niệm thấm đẫm về những con người nơi miền tận cùng của Tổ quốc, chốn thiên nhiên phóng khoáng còn nhiều vẻ hoang sơ với những cánh rừng đước xanh rì, với các vườn chim và những dòng kinh biển. Đó là Cà Mau của tôi một thời trai trẻ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ. Quả nhiên nỗi ước ao của tôi đã được nhà văn Nguyễn Thanh đáp ứng”.

Nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư nhận xét: “Với nhà văn Nguyễn Thanh, đất và người Cà Mau, Bạc Liêu… hiện ra như được đắp bằng xương thịt…Nếu ngày xưa ông say mê xây dựng hình tượng người lính thì sau này, nhân vật chủ yếu của ông là nông dân. Họ hào sảng, tốt bụng, nhân nghĩa nhưng phải trăn trở, day dứt nhiều trong cuộc mưu sinh”.

Còn Ths Trần Bé Ba nhìn Đau đáu sông quê ở một góc độ khác: “Văn Nguyễn Thanh toát lên những bài học nhân sinh, dù nhẹ nhàng nhưng có sức lay động lòng người. Những gì nhà văn khai thác, xây dựng, đúc kết thành văn đều xuất phát từ tấm lòng yêu thương, trăn trở của nhà văn đối với vùng đất này”.                              
Xin được trích một đoạn văn của Nguyễn Thanh trong bút ký Đau đáu sông quê với chú thích là “Viết ngắn về má tôi”: “Sông Cái nước ròng không bỏ bãi. Vực sông sâu hoắm được dựng lên hai bờ lá dừa nước bịt khù, sừng sững. Mùa sa mưa, nước đầy tràn từ rừng U Minh Hạ đổ ra thay màu sông xanh biếc thành màu đỏ bầm, ngầu đục. Sông bổ nhào ngàn con sóng lưỡi búa, trắng dã. Ngược lại, mùa khô hạn, sông nhẩn nha, vướng vất làn sương mỏng tanh, thơ mộng lúc chiều tàn”.

Thế mà dòng sông ấy đã cuốn trôi vĩnh viễn người mẹ của mình, người đã một đời nuôi nấng dạy dỗ mình nên người mà cho tới hết chiến tranh mình vẫn chưa một lần về quê thăm lại! Để rồi: “Tôi quá giang đủ loại xe, tàu về nước; tôi đi một mạch tới quê, mọi việc đã an bài! Thì ra, Má chèo xuống ba lá đi sông Cái một mình, chở theo rổ ổi cho mấy đứa cháu ngoại ở xóm Cái Giữa ẩn sau biền lá ven sông. Trên đường về nhà, một cơn giông mưa lớn đột nhiên ập tới… Má vùng ra trong chiếc áo mưa và chống đỡ từ trên mặt sông với lớp lớp sóng dữ cho tới xuống tận đáy sông sâu để rồi khi được mấy trăm con người ở ven sông, trong các kinh rạch kéo đi vớt xác Má, hai bàn tay của Má hãy còn nắm chặt hai vốc bùn!...”.

Nhà văn Lê Văn Thảo đã viết về câu chuyện này: “Thật xúc động biết chừng nào, và cũng đau đớn biết chừng nào, cảnh người mẹ ở quê ra thăm con, sau bao nhiêu năm đi kháng chiến, trở về thành phố vẫn bận bịu với bao việc ở cơ quan, mà chúng ta tưởng là lớn lắm, người mẹ chỉ nhìn con từ xa rồi lên đường trở về, người con lại tiếp tục ra đi, và từ chiến trường xa hay tin mẹ mình đã mất, cũng trên dòng sông trong cuộc sống tảo tần. Mỗi chúng ta đều có lỗi với mẹ mình!”. ■


Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 24.9.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130924/ky-cua-nguyen-thanh.aspx

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Festival đầu tiên về đua ghe ngo ở Sóc Trăng


Họp báo tại Cần Thơ sáng ngày 19-9, đại diện Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Sóc Trăng cho biết “Festival đua ghe ngo đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long lần thứ nhất” sẽ được tổ chức tại Sóc Trăng từ ngày 14 đến 17-9-2013.


Quang cảnh họp báo sáng ngày 19-9 tại Cần Thơ (ảnh H.Kim)

Ông Võ Thanh Quang, Giám đốc Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Sóc Trăng, nói: “Festival này là sự tổng kết một giai đoạn hoạt động và trưởng thành của sự nghiệp bảo tồn văn hóa của đồng bào Khmer tại ĐBSCL nói chung và Sóc Trăng nói riêng”. Ông Quang cũng cho biết festival này nhằm tạo ra sản phẩm văn hóa đặc trưng phục vụ phát triển du lịch theo hướng liên kết vùng ĐBSCL với cả nước.

Đua ghe ngo là hoạt động chính tại festival này. Trong hai ngày 16 và 17-9, có gần 50 đội ghe ngo nam và nữ của các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long thi đấu vòng loại và vòng chung kết ngay trên sông giữa lòng thành phố Sóc Trăng. Kinh phí cho hoạt động này khoảng từ 2,4-2,6 tỉ đồng, trong đó 1 tỉ đồng dành cho giải thưởng các hạng từ 1 đến 4.

Tại festival còn có nhiều hoạt động khác như hội chợ thương mại và triển lãm về thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội Sóc Trăng; liên hoan ẩm thực ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa; trò chơi gian dân gian – hội thao dân tộc; triển lãm ảnh “ký ức Sóc Trăng”; ca múa nhạc tổng hợp; liên hoan nghệ thuật sân khấu Dù kê Nam bộ; lễ Cúng Trăng – Oóc Om Bóc; lễ Thả đèn nước; hội thi trang phục Kinh – Khmer – Hoa. 

Tối 14-9, tại lễ khai mạc với chủ đề “trăng và lúa”, sẽ có 15 phút bắn pháo hoa tầm thấp.

Sóc Trăng là tỉnh có bà con dân tộc Khmer đông nhất vùng ĐBSCL, gần 370.000 người. Festival này diễn ra vào dịp rằm tháng 10 âm lịch, nhằm mùa lễ cúng trăng – Oóc Om Bóc, lễ thả đèn nước – Loyprotip của bà con dân tộc Khmer để tạ ơn mặt trăng nhân mùa thu hoạch hoa màu, nhất là lúa nếp.

Ban tổ chức đã mở website: Festival.soctrang.gov.vn , cho biết đã có hàng trăm doanh nghiệp, cơ quan ở trung ương, địa phương đăng ký tham gia festival và kỳ vọng festival này sẽ thu hút hàng trăm nghìn du khách trong và ngoài nước.


Đua ghe ngo ở Sóc Trăng (ảnh Lê Hoàng Vũ).


Ghe ngo



Ghe ngo là một dạng ghe đặc biệt, được xem là vật thiêng chỉ được dùng để đua. Ghe ngo là thuyền độc mộc làm bằng thân nguyên vẹn của cây gỗ sao, được khoét phần ruột, do nghệ nhân và các sư chùa Khmer cùng làm. Ghe ngo dài từ 25m – 30m, rộng từ 1m – 1,4m, có từ 20-40 khoang, chứa được 22-25 cặp tay bơi.

Sau khi đóng xong, ghe được chà cho thật trơn bóng và sơn phết, trang trí thật đẹp. Thân ghe sơn màu đen, trên be sơn các vệt màu trắng, vàng, đỏ dài khoảng 5cm; hai bên be, chạm trỗ hoặc vẽ hình vẩy rồng, vẩy rắn theo mô típ Naga. Đầu ghe vẽ hình các con thú như rồng, chim công, sư tử, cọp, voi… vừa tượng trưng cho vẻ đẹp vừa biểu hiện sức mạnh.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Thơ Nguyễn Ngọc Tư


Không có bài thơ nào mang tên Chấm trong số 40 bài của Chấm - tập thơ đầu tiên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Chấm được in 2.000 bản, giá 70.000đ/bản, do Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn ấn hành vào giữa tháng 8.2013. Chỉ có 40 bài thơ với 4.928 chữ nhưng Chấm dày tới 180 trang khổ 15 cm x 23 cm; có những trang được in chỉ một câu thơ với sự trình bày chăm chút và phá cách của Đam Ca, người vẽ bìa.



Về nội dung, mới đây Nguyễn Ngọc Tư trả lời báo Pháp luật TPHCM: “Có những chuyện văn xuôi không nói được, có những cảm giác khó rạch ròi duy lý, tôi lấy thơ ra trút đỡ. Cùng là chữ cả nhưng mỗi bề mỗi khác. Viết tản văn, tôi buộc thể hiện ít nhiều quan điểm, cách nhìn cuộc đời của mình. Thơ thì gần người nhất, đôi khi cảm xúc lộ ra”. 

40 bài thơ này như những dấu chân “đi bụi” của Nguyễn Ngọc Tư trên khắp đất nước từ mười năm nay; đi trong trời đất và đi vào lòng người; chạm vào nội tâm mình, hóa thành tự sự. Tất cả, không hề ghi thời gian và nơi chốn, chỉ đề trân trọng nơi đầu sách, “kính tặng ba”.

Trong Chốn về, bài mở đầu: mình có ngôi nhà khép cửa /…máu chảy tự khô / vết đau tự liếm láp / cúc tự cài / hát mình nghe / chưa bao giờ mình mời ai tới đó. Trong Ở trọ, có ba câu cuối: lục bình vừa trôi vừa tàn / lá đa vừa rã vừa rơi / vừa đến họ vừa rời cõi tạm. Khi vượt biên giới chỗ một ngọn thác: có một con thác bị chẻ làm đôi ngọn / sông lò cò một bờ / …buộc lời ước vào bức tường trong suốt / cầu lòng ta vết thẹo thác lại lành (Ở biên giới). Ra với Côn Đảo: đi tìm mớ răng gãy trong những bông sứ trắng / tìm tay trên những rạn san hô / làn da lấy lại của rêu / họ neo đảo vào trời nước mơ hồ (Viết ở Côn Đảo).

Một lần chị đã viết trong bài Nhật ký mang thai - tháng thứ năm: con bỏ lỗi cho / mẹ vừa làm lễ trước vua xứ khác / gối chạm đất người thiên hạ / chỉ mẹ thôi / con chớ có quỳ /… hãy cựa quẫy / hãy trở mình / nhắc nhớ mẹ thở cho hai người / mẹ nuôi men ủ nụ cười / và đứng thẳng.

Trong những cuộc rong ruổi ấy, có đôi khi chờ nghe tiếng người: không chớp nhói lên nghĩa là đã ngủ rồi / đã rã / đã rơi / ta không chờ đợi nữa / …điện thoại câm / như nhân gian âm thầm cài đặt cửa (Chờ điện thoại). Có lần say: máu ngập ngừng đâu đó / tim như cá mắc cạn / từng ngụm thời gian hớp khan khô rát / tay nắm khói cũng mỏi / đất rối níu chân dấp dúi (Say trà). Có đêm mất ngủ: chim khuya kêu tiếng thứ sáu / đêm chao sáu tiếng thở dài / đếm được bao nhiêu bóng tối / đếm xem từng nào gió thổi / …mình đi vào trong rừng thẳm / sớm kia còn về với mình? (Mất ngủ). Và có khi độc thoại với lau sậy: bông sậy níu thành chùm thành bầy / dìu dắt xuôi mùa luân lạc / nhẹ hơn nỗi đau / quét không đi / giẫm không nát / an nhiên thanh thản / như chưa từng tan tác cuộc lưu vong (Mùa sậy chín). 

Thú vị trong Chấm, người trình bày đã lồng bản dịch (của Jason Gibbs) bài thơ Hỏi đường vào từng câu song ngữ Việt - Anh. Đoạn chót như vầy:

những ngày rong ruổi trên đất lạ,
Days of rambling in an unfamiliar land,
tôi một lần đứng lại hỏi con đường,
I once asked for directions
lối nào sẽ dẫn đến con người
Which way will take me to someone
đường im lặng đi lên đồi mải miết,
The silent road preoccupied itself with ascending the hill,
nông nổi ơi chỉ cần dừng chân lại,
Hey you fool, you only need to stop in your tracks
sẽ thấy người
To see somome ■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130917/tho-nguyen-ngoc-tu.aspx