Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

Việt Linh chuyện và truyện: “Để con người không trơn tuột”


 

Ảnh bìa cuốn tạp bút Việt Linh chuyện và truyện (*)  do cố đạo diễn NSND Hồng Sến chụp năm 1969. Khi đó Việt Linh 17 tuổi đang ngồi bên cha Việt Tân tại một căn cứ cách mạng trong chiến khu. Bây giờ thì chị Việt Linh đang sống với chồng, một giáo sư kinh tế người Việt cùng cô con gái tại Paris - Pháp, vẫn theo nghiệp đạo diễn và viết lách mà dường như cái nghề viết nó đang bè bạn với chị nhiều hơn. 

Mới ra mắt chưa đầy tháng, cuốn sách dày hơn 430 trang, giá 132.000 đồng đã được tái bản. Đó là những “câu chuyện trần gian” nho nhỏ chị Việt Linh chiêm nghiệm ở trong nước và ngoài nước từ năm 2006 tới giờ, sau tạp bút Chuyện mình, chuyện người xuất bản năm 2008. Có 104 chuyện kể ngắn gọn, mà dường như chuyện nào đọc xong cũng dễ làm cho mình dừng lại ngẫm nghĩ một chút, suy tưởng một chút vì sự tinh tế và tính khái quát về ý nghĩa của chuyện. Xin trích một số đoạn văn trong sách: 


 “Người đàn bà mà cuộc đời tóm gọn trong hai từ “kháng chiến” đã khiến khán phòng vỗ tay rầm rập khi nói: “Người đấu tranh không bao giờ thua. Chúng ta chỉ thua khi chúng ta đầu hàng. Kể cả khi chúng ta chết đi thì chúng ta cũng thắng, bởi chúng ta đã giành được nhân phẩm”. (Buổi phim xao động).


“Anh nhắc hoài hai chữ tự do như nuối tiếc một lạc thú đánh mất. Chính khao khát tự do này khiến anh chọn nghề phụ trách bar rượu trên xe lửa xuyên châu Âu. Để được lang bang. Để càng thấy vô thỏa. Anh nói anh luôn bị ý nghĩ tự do ám ảnh”. (Chiều chiều ra đứng ngỏ sau).

“Người đàn ông phố thị lập tức khiến tôi chú ý bởi sắc diện phong lưu khác xa nghề may túi lam lũ của anh, và bởi anh... ở trần”. (Người ở trần).

“Chị ào tới ôm anh. Làm sao không ôm một người bạn đã… chết 30 năm, giờ chợt trở về!? Anh không ôm chị, bởi như xưa, anh biết chị chưa bao giờ yêu anh. Chị yêu người khác”. (Cố nhân).

“Mới đó mà đã 18 năm kể từ ngày hai bác cháu cùng đi chọn cảnh, mà dấu vết duy nhất còn lại là tấm ảnh này. Máy xấu, ảnh lem nhem nhưng vẫn thấy ba “nhân vật”. Hòn phụ tử đã rơi, Sơn Nam đã đi, chỉ còn lại con quỷ với tương tư bà Chúa”. (Bà chúa của Sơn Nam).

“Em vừa 82 tuổi. Người em co rút lại, không nặng hơn 45 kí lô, nhưng em vẫn xinh đẹp, duyên dáng, gợi tình... Năm mươi tám năm chúng ta sống cùng nhau và anh đang yêu em hơn bao giờ hết”. (Gừng cay muối mặn).
“Trở lại câu hỏi của em, rằng nếu thật sự năm 2012 là năm cuối cùng của thế giới đương đại, thì mỗi chúng ta sẽ lựa chọn cách sống nào trong thời gian cuối đó? Tôi nghĩ nỗi lo kia không thực tế, nhưng nếu để vui, tôi chọn cách đón xuân của Nhân kiều”  (Nhân kiều).

Đọc Việt Linh chuyện và truyện, người ta dễ nhớ lại những tác phẩm điện ảnh nổi tiếng của đạo diễn Việt Linh: Nơi bình yên chim hót; Phiên tòa cần chánh án; Gánh xiếc rong; Dấu ấn của quỷ; Chung cư; Mê thảo – thời vang bóng. Và nói như nhà văn Dạ Ngân kể: “Sau Chuyện mình, chuyện người, chúng ta bắt đầu có thêm nhà văn - nhà báo Việt Linh, trong lúc các đạo diễn viết được văn xuôi khá hiếm. Càng xa cái ghế đạo diễn nàng càng chăm chú với ngòi bút”. Và Dạ Ngân hi vọng: “Tôi vẫn mong đến lúc nào đó Linh sẽ viết được tiểu thuyết. Sao lại không chứ? Bởi như một người bạn Pháp nhận xét: “Chừng như cuộc đời mỗi người Việt Nam là một câu chuyện dài”. 

Đọc những câu chuyện này ở Mỹ khi sách vừa ra đời vào cuối tháng 3-2012, nhà văn Lý Lan, cũng đang sống xa nhà như Việt Linh, viết trên blog của mình: “Viết là công việc đơn độc của một người. Ly hương là con đường cùng văn hóa. Người viết ly hương phải tìm cách nhập vào đại lộ văn hóa xứ người, ngược lại sẽ bị lạc lỏng và lãng quên ở cuối con đường cùng văn hóa của mình, nhất là ngôn ngữ của mình. Nhưng người đàn bà tha hương viết bằng tiếng mẹ đẻ là một nỗ lực sống còn tâm linh: viết hay là chết lụi tâm hồn. Lớn hơn một thôi thúc của nhu cầu, viết bằng tiếng mẹ đẻ đối với người đàn bà tha hương là một bản năng sống”. 

Còn với tác giả, Việt Linh tâm sự: “Khi viết tôi không nghĩ đến địa lý, hay cái gì đó tương tự. Tôi chỉ nghĩ đến những gì liên quan tới con người, ngay cả khi tôi nói về con cá. Và con người rất chung chung, ngay cả khi họ có tên, có quốc tịch. Tôi nhìn thấy thế giới ngày một “phẳng”, nhưng tôi tin không bao giờ nó “phẳng” đến tận cùng. Nó sẽ vẫn còn những hố, những hang hốc... Để chi? Để con người không trơn tuột, để nghệ sĩ còn có chuyện làm, để nghệ thuật còn ý nghĩa”.

***************
(*) Việt Linh chuyện và truyện - NXB Trẻ - quý 1/2012.

Thứ Tư, 2 tháng 5, 2012

THAM GIA CÔNG ƯỚC RAMSAR, TRÀM CHIM ĐƯỢC GÌ?





Tràm Chim  (gần 7.500 hecta, trong đó gồm khoảng 1800 ha rừng tràm, còn lại là đồng cỏ ngập nước theo mùa, đầm lầy sen súng, và mặt nước) là nơi duy trì sự đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái cho cả vùng Đồng Tháp Mười, và là vùng đất ngập nước tiêu biểu của ĐBSCL.  Về đa dạng sinh học, Tràm Chim có 231 loài chim (trong đó quý nhất là chim hạc), 191 loài thực vật, và khoảng 150 loài cá nước ngọt.  Đồng cỏ ngập nước theo mùa ở Tràm Chim mang tính đa dạng sinh học cao. Lúa ma mọc hoang dã ở Tràm Chim là sinh cảnh tốt cho cá, chim và là nguồn gien cần bảo tồn. 

Lúa ma ở Tràm Chim


Vườn Quốc gia Tràm Chim vừa được Công ước Ramsar công nhận là khu Ramsar thứ tư của Việt Nam và thứ 2000 của thế giới. Dịp này, TBKTSG đã phỏng vấn Thạc sĩ NGUYỄN HỮU THIỆN,  chuyên gia sinh thái với hơn 20 năm kinh nghiệm về bảo tồn đất ngập nước ở ĐBSCL…

 
Th.S Nguyễn Hữu Thiện

TBKTSG: Theo ông, vì sao Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar của thế giới? 
- Th.S NGUYỄN HỮU THIỆN: Tràm Chim xứng đáng với danh hiệu Ramsar vì thỏa mãn được 8 trong số 9 tiêu chí của Ramsar. Ngoài ra, tổ chức BirdLife còn xếp Tràm Chim là một trong các “Vùng chim quan trọng” (IBA - Important Bird Area) ở Việt Nam. Ngày nay gần như toàn bộ cảnh quan Đồng Tháp Mười xa xưa đã biến mất, chỉ còn sót lại một vài khu quan trọng như Tràm Chim ở Đồng Tháp, Láng Sen ở Long An.  Việc gìn giữ các khu còn lại như thế có ý nghĩa nhiều mặt về đa dạng sinh học, sinh thái, du lịch, văn hóa, nghiên cứu khoa học. Tràm Chim cũng là nơi cung cấp tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng xung quanh và đặc biệt là nơi giữ lại hình ảnh của Đồng Tháp Mười xa xưa cho các thế hệ mai sau chiêm ngưỡng và suy ngẫm về công lao của tiền nhân mở cõi ở vùng đất phương Nam này.


TBKTSG: Hệ sinh thái đất ngập nước của Tràm Chim có gì đặc biệt so với các khu Ramsar khác?
- Đây là một trong những mảnh cuối cùng còn sót lại của Đồng Tháp Mười xa xưa, một cánh đồng hoang rộng tới gần một triệu héc-ta, trải dài từ Đồng Tháp qua Tiền Giang và Long An ngày nay. Đồng Tháp Mười xưa là thiên đường của muôn loài, kể cả cá sấu và khỉ. Có những địa danh ở Đồng Tháp Mười xưa còn gợi lại hình ảnh hoang dã này như là Bưng Sấu Hì là vùng bưng trũng ngày xưa có nhiều sấu, hay kênh Cà Dâm, và gò Lâm Vồ đặt theo tên loài cây Cà Dâm và cây Lâm Vồ mà ngày nay hiếm thấy. Đồng cỏ của Tràm Chim là loại cảnh quan khó tìm thấy ở nơi đâu khác trong lưu vực Mekong.  Ngoài ra, cánh đồng lúa ma ở Tràm Chim là diện tích lúa ma còn sót lại lớn nhất ở ĐBSCL.
Đặc biệt ở Tràm Chim có quần thể sếu đầu đỏ hàng năm đến sinh sống trong mùa khô, từ khoảng tháng giêng dương lịch khi mực nước bắt đầu cạn trong đồng cho đến đầu mùa mưa vào khoảng cuối tháng năm. Sếu đầu đỏ chính là chim hạc mà ta thường thấy tượng loài chim này đứng trên lưng rùa trong các chùa chiền của Việt Nam. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, hạc được xem là linh thiêng; người sống có đức độ thì khi qua đời sẽ được chim hạc đến rước linh hồn về trời, tức là “cưỡi hạc quy tiên”.

TBKTSG: Như vậy, cái lợi của việc Tràm Chim được công nhận là khu Ramsar là gì?
- Được công nhận là Ramsar là một cơ hội tốt cho công cuộc bảo tồn đất ngập nước ở Tràm Chim. Một khu đất ngập nước được Ramsar công nhận có tầm quan trọng quốc tế thì cái lợi đầu tiên là danh tiếng của khu đó và kể cả của quốc gia cũng sẽ được tăng lên nhờ được nhắc đến nhiều hơn ở các diễn đàn quốc tế về bảo tồn và sử dụng khôn khéo đất ngập nước. Tràm Chim được xem là khu Ramsar thứ 2000 của thế giới.  Con số 2000 cũng sẽ gây được sự chú ý đặc biệt cho Tràm Chim.  Ngoài ra, khi thành khu Ramsar, Tràm Chim sẽ có cơ hội nhận được sự hỗ trợ của các chuyên gia về chuyên môn cũng như cho việc áp dụng các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận. Tràm Chim sẽ có cơ hội nhận được những khoản hỗ trợ từ Quỹ Hỗ trợ nhỏ của Công ước Ramsar và tăng sự chú ý của các quỹ bảo tồn khác.

TBKTSG: Đã từng làm việc nhiều năm tại Tràm Chim, theo ông, các nhà khoa học đã giúp giải quyết được những vấn đề chính nào ở Tràm Chim?
- Trong những năm qua, Vườn Quốc gia Tràm Chim đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước như Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Cần Thơ, Đại học khoa học tự nhiên Tp.HCM, Tổ chức Bảo vệ hạc quốc tế (ICF), Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN), Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã thế giới (WWF)… và của rất nhiều chuyên gia trong và ngoài nước. Nhờ đó chúng ta đã giải quyết được những vấn đề quan trọng đe dọa đến hệ sinh thái của Tràm Chim, trong đó quan trọng nhất là việc thí điểm thành công việc thực hiện quản lý nước phù hợp, duy trì chế độ thủy văn hai mùa, tuân thủ theo quy luật tự nhiên của Đồng Tháp Mười. Người dân địa phương cũng đã được tổ chức thành nhóm để sử dụng tài nguyên một cách có kiểm soát bên trong vườn quốc gia.


TBKTSG: Nhưng dường như các nhà khoa học vẫn chưa yên tâm với vấn đề “nước nôi” ở Tràm Chim?
- Vấn đề lớn nhất đe dọa hệ sinh thái Tràm Chim mà hiện nay vẫn chưa được giải quyết đó là các đê bao xung quanh Tràm Chim quá cao theo kiểu “chống lũ triệt để”. Các đê này được nâng vào năm 2003 lên cao đến 4-5 mét trên mặt đất nhằm trữ nước quanh năm bên trong Tràm Chim để phòng cháy. Hệ thống đê bao thấp khoảng 2 mét so với mặt đất xung quanh Tràm Chim như trước năm 2003 là cần thiết để duy trì độ ẩm thích hợp, bù cho lượng bốc hơi mặt thoáng, thoát hơi qua lá, và thấm qua đê trong mùa khô. Trong bối cảnh thủy văn toàn vùng Đồng Tháp Mười đã thay đổi, nếu không có hệ thống đê bao thấp xung quanh thì vào mùa khô, mực nước sẽ xuống thấp hơn mặt đất khoảng 1,5 đến 2 mét thì cây cỏ sẽ chết khô. Hệ thống đê bao thấp trước 2003 vẫn cho nước lũ tràn qua được. Tuy nhiên từ khi hệ thống đê bao này được nâng cao lên thì Tràm Chim bị cách ly với môi trường bên ngoài.
Vì nước lũ không tràn qua đê được nên trứng cá và cá con từ nước sông Mekong chỉ vào được Tràm Chim một cách rất hạn chế qua các cửa cống. Lượng cá giảm cũng kéo theo sự suy giảm số lượng chim nước vì thiếu thức ăn. Nếu tình trạng đê cao này kéo dài thì lượng cá bên trong sẽ nghèo kiệt và số lượng chim nước ở Tràm Chim chắc chắn sẽ suy giảm theo thời gian.
Giải pháp cho vấn đề này có thể là hạ thấp cao trình một số đoạn đê xuống như trước đây hoặc xây một số tuyến đập tràn để cho nước có thể tràn qua trong mùa lũ để mang vào trứng cá và cá con và tạo điều kiện cho xác bã thực vật bên trong phân hủy tốt hơn để cải thiện môi trường nước và cũng để giảm rủi ro cháy với cường độ cao. Chúng ta cũng cần chú ý là chuyện cháy định kỳ hàng năm với cường độ thấp là một yếu tố cần thiết cho hệ sinh thái đất ngập nước như ở Tràm Chim.

TBKTSG: Xin cảm ơn ông



Tràm Chim Ramsar


Ramsar là gì?            Công ước Ramsar là một công ước liên chính phủ được ký vào ngày 2-2-1971 ở thành phố Ramsar (Iran) và có hiệu lực từ năm 1975 với mục đích khuyến khích bảo tồn và sử dụng khôn khéo hay bền vững các khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế.
            Hiện nay Ramsar có gần 160 quốc gia thành viên, trong đó Việt Nam là thành viên thứ 50 từ năm 1989. Trên thế giới hiện có 2000 khu Ramsar (Tràm Chim là khu Ramsar thứ 2000) với tổng diện tích khoảng 190 triệu héc-ta, lớn hơn tổng diện tích của Pháp, Đức, Tây Ban Nha, và Thụy Sĩ cộng lại.
            Ramsar có tất cả 9 tiêu chí để công nhận, được chia thành hai nhóm tiêu chí chính bao gồm (a) sự độc đáo và hiếm có của vùng đất ngập nước (b) tầm quan trọng quốc tế về bảo tồn đa dạng sinh học, nhấn mạnh đến cá và chim nước.
            Các cam kết chính của một quốc gia thành viên Ramsar là: quốc gia đó phải đưa ít nhất một khu đất ngập nước thành khu Ramsar khi gia nhập công ước; quy hoạch sử dụng đất của quốc gia phải có xem xét, cân nhắc về bảo tồn đất ngập nước và khuyến khích việc sử dụng khôn khéo đất ngập nước; thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, nằm trong hay ngoài danh sách Ramsar; hợp tác quốc tế liên quan đến việc thực hiện công ước, bảo tồn các vùng đất ngập nước, nguồn nước, các loài có phạm vi xuyên biên giới.
          Công ước Ramsar không phải là một ràng buộc pháp lý mà chủ yếu dựa vào sự kỳ vọng thực hiện các cam kết ấy. Một số quốc gia đã đưa những cam kết Ramsar vào hệ thống pháp luật của chính mình để tuân thủ tốt hơn.
===================================
Mời xem thêm trên TBKTSG Online:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/73122/


Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012

Em học được rất nhiều



Kỷ niệm STF (*) 10 tuổi, sáng ngày 17-2, Văn phòng đại diện nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn tại Cần Thơ tổ chức trao học bổng học nghề trị giá 65 triệu đồng, do Công ty TNHH Thông tin Lữ hành Mekong (Metinfo) tài trợ thông qua STF. Em Trần Bảo Ngọc, 21 tuổi, quê ở Cần Thơ nhận 40 triệu đồng và em Nguyễn Xuân Hoàng, 21 tuổi, quê Kiên Giang, nhận 25 triệu đồng. Từ năm 2006 đến nay, Công ty Metinfo đã đồng hành cùng STF cấp học bổng 6 lần tại Cần Thơ, Phú Quốc và Bến Tre, tổng trị giá 114 triệu đồng.  

Tối hôm đó, trường Đại học Cần Thơ cùng với STF tổ chức đêm giao lưu văn nghệ kết hợp cấp học bổng, với sự tham gia của hơn 1.500 sinh viên. Hội trường lớn hai tầng của Đại học Cần Thơ kín chỗ. Trong vòng 10 năm qua, có hơn 1.000 sinh viên đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) học tại đây đã nhận học bổng hoặc vay học phí không lãi suất từ STF.  







Mở đầu là lễ cấp “Học bổng dài hạn STF - KFC Việt Nam”. Ông Phạm Quang Nam – Phó Tổng giám đốc Công ty Liên doanh TNHH KFC Việt Nam, trao biểu trưng gói học bổng 140 triệu đồng cho PGS.TS Hà Thanh Toàn, tân Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ và cho biết, KFC có mặt tại Việt Nam từ năm 1997, đã có hơn 100 cửa hàng gà rán và đây là lần đầu KFC đồng hành với STF. Trong năm học 2011-2012, KFC tặng hơn 2 tỉ đồng học bổng cho sinh viên ở miền Bắc, miền Trung, TPHCM và ĐBSCL, mỗi suất 7 triệu đồng. Đại diện 20 sinh viên Đại học Cần Thơ nhận học bổng, bạn Hồ Thị Kim Ngân, quê ở Bạc Liêu, mong KFC tiếp tục chương trình này trong những năm tới để giúp thêm được nhiều bạn khó khăn hơn mình. Trả lời TBKTSG, Kim Ngân cho biết mẹ ở nhà một mình bán bánh tét, mỗi tháng gởi cho em được một triệu đồng để em xoay xở với học phí, tiền trọ, tiền chợ… tại Cần Thơ. “Món học bổng này giúp em được nhiều trong năm nay”, Kim Ngân nói.


Tiếp đó, thầy Hà Thanh Toàn nhận từ ông Võ Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng - biểu trưng món vay 655.200.000 đồng của Dự án Mekong thuộc Chương trình “Cho vay tiền học không tính lãi” của STF dành cho 312 sinh viên vay năm nay. Chương trình này ra đời vào tháng 9-2009, cho sinh viên quê ở ĐBSCL mượn tiền đóng học phí không lãi suất với nguồn quỹ ban đầu bốn tỉ đồng do Công ty Vạn Phát Hưng tài trợ. Từ đó đến nay, đã có 961 sinh viên thuộc các trường đại học Cần Thơ, Cửu Long, An Giang và trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau mượn hơn 3,4 tỉ đồng.  








Giao lưu với sinh viên, ông Võ Anh Tuấn nói rằng, đồng hành cùng với STF làm chương trình này, ông chỉ mong hỗ trợ cho nhiều sinh viên quê ở ĐBSCL thành công trong việc học và có việc làm ổn định để góp phần xây dựng quê hương ĐBSCL. PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ kiêm Chủ tịch Hội đồng Bảo trợ Dự án Mekong, tin là chương trình này sẽ được mở rộng hơn vì nó đã và đang giúp cho hằng trăm sinh viên ĐBSCL có tiền để đóng học phí học tới ngày tốt nghiệp.  

Không về dự đêm giao lưu được, một số cựu sinh viên đã và đang trả lại món vay này cho lớp sau vay tiếp, đã gởi e-mail cho STF. Như bạn Sơn Quốc Cầu, học cơ khí giao thông khóa 33, tốt nghiệp hồi tháng 4-2011, đang làm việc cho Nhà máy Xi măng Hòn Chông ở Kiên Giang, viết: “Tôi cảm thấy rất vui và hạnh phúc. Xin cảm ơn nhà tài trợ vì những lợi ích và ý nghĩa mà chương trình này đã mang lại. Tôi hy vọng chương trình này được duy trì và mở rộng để giúp đỡ cho nhiều bạn hơn”. Bạn Mai Đức Anh kể: “Hiện nay tôi đang là giáo viên trường THPT Thoại Ngọc Hầu tại An Giang, công việc rất ổn định. Dự án Mekong rất thiết thực với sinh viên khó khăn vì các bạn sẽ không còn lo lắng nhiều về khoản tiền học phí của mình nữa”. Cũng từ An Giang, bạn Đinh Đào Thắng viết: “Hiện  nay tôi đã xin được việc làm tại một công ty kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật. Tôi đã có hành trang và năng lực để bước đi trên đường đời và xin hoàn trả lại khoản tiền đã vay nhưng những ân tình đã được nhận qua chương trình, tôi sẽ mãi không quên. Qua đây tôi cũng xin gửi tới những bạn sinh viên đã hoặc chưa tham gia chương trình, hãy cố gắng học tập, dù có khó khăn cũng đừng nản lòng vì các bạn không bao giờ đơn độc”.





Những câu chuyện đồng lòng vượt khó để lập thân như vậy càng được “nung nấu” hơn trong suốt hai tiếng đồng hồ còn lại của chương trình giao lưu văn nghệ với nhóm Doanh nhân hát TPHCM. Họ đến từ TTT Corporation, Tập đoàn Dầu khí SOCO Việt Nam, Công ty Cổ phần Dược Minh Phúc, V-Home Group, trường Âm nhạc MPU, Công ty Quảng cáo Quang Minh… Kết hợp ca hát và thuyết trình về kỹ năng sống, anh Lê Bá Thông - Tổng Giám đốc TTT Corporation - nhóm trưởng, vừa là diễn giả “chia lửa” lập thân với sinh viên vừa cùng cả nhóm trình bày những ca khúc trữ tình đầy khát vọng tuổi trẻ. 



















Giữa tiếng treo hò vang dậy hội trường, một nữ sinh viên trẻ trung bước nhanh lên sân khấu xin hát liên khúc “Yêu đời” và “Khúc yêu thương” để “tặng mọi người”. Bạn ấy tên là Phạm Thị Tú Uyên, sinh viên năm 2 ngoại thương K36. Bạn nhận xét về đêm giao lưu này: “Thật là ấn tượng nhưng không kiểu cách. Giản dị và đam mê. Tối nay em học được rất nhiều kinh nghiệm để chuẩn bị cho việc làm của mình sau này”   █








▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬▬
(*) Ngày 22-2-2012, Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation – STF) tròn 10 tuổi. STF là một tổ chức xã hội phi lợi nhuận, được ban lãnh đạo nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn và các doanh nhân thân hữu thành lập. Hoạt động của STF nhằm hỗ trợ công tác giáo dục và đào tạo, góp phần phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.



Mời đọc thêm tại Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/71560/Song-voi-cong-dong.html
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/doisong/71513/Trao-hoc-bong-STF-Metinfo-tai-Can-Tho.html



Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

20 năm tạo giống lúa thơm ST


(TBKTSG) - Trước thềm Festival Lúa gạo Việt Nam lần 2 diễn ra giữa tháng 11-2011, Cục Sở hữu trí tuệ đã cấp chứng nhận nhãn hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng” cho dòng sản phẩm 20 giống lúa thơm ST. Người xây đắp cho thương hiệu gạo thơm này là kỹ sư Hồ Quang Cua, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sóc Trăng, quê ở xã Hòa Đông, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.




Bảy bước tới thành công



Tốt nghiệp ngành trồng trọt trường Đại học Cần Thơ năm 1978, kỹ sư Hồ Quang Cua về làm việc tại Phòng Nông nghiệp huyện Mỹ Xuyên. Từ năm 1991 đến nay, anh cùng nhóm cộng sự đã trải qua chặng đường dài trong việc xây dựng thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”, mà theo khái quát của anh, gồm có bảy bước: chọn tạo giống, chọn tên thương hiệu, thiết lập chương trình xây dựng thương hiệu, tổ chức sản xuất giống và hỗ trợ sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu cho doanh nghiệp, hài hòa lợi ích, và sau cùng là hợp tác “bốn nhà”.

Anh kể: năm 1991, anh được tham gia nhóm nghiên cứu của Viện Lúa ĐBSCL và Đại học Cần Thơ, lo sưu tập, thử nghiệm các giống lúa thơm cổ truyền của Việt Nam, Thái Lan và Đài Loan. Làm việc cùng các nhà khoa học đầu đàn như GS. Võ Tòng Xuân, GS. Nguyễn Văn Luật, rồi ra nước ngoài học, anh bắt đầu có ý tưởng làm thương hiệu lúa thơm cao cấp cho Việt Nam, trước hết là cho tỉnh Sóc Trăng. Anh phát hiện giống lúa thơm nổi tiếng Khao Dawk Mali 105 của Thái Lan là do một cán bộ ở huyện chọn lai tạo. Nhờ đó, những năm 1992-1997, mỗi năm Thái Lan xuất khẩu trên 1 triệu tấn gạo thơm, thu về gần 1 tỉ đô la Mỹ/năm. “Họ làm được sao mình lại không làm, trong khi đến cuối thế kỉ 20 mình đã xuất khẩu gạo ổn định và lo được an ninh lương thực rồi?”, anh tự vấn rồi cùng nhóm cộng sự và bà con nông dân ở huyện ngày đêm lao vào việc lai tạo giống. Trong bước đi đầu tiên kéo dài nhiều năm ấy, các anh đã có ba “quyết định” hình thành nên cây lúa thơm tương lai: 1) quá trình biến dị, lúa có thể cho ra giống mới có phẩm chất cao hoặc dùng làm nguồn lai tạo tiếp; 2) Việt Nam đất chật người đông, cây lúa thơm phải là cây cải tiến có năng suất cao chứ không như Thái Lan, Ấn Độ sử dụng cây lúa mùa cổ truyền năng suất thấp; 3) phải đào tạo nhân lực để hình thành đội ngũ nghiên cứu.

Lúc đầu, không nhiều người tán thành những nhận định mới ấy nên thiếu việc đầu tư của ngành. Điều này đã làm nhiều chuyên viên kỹ thuật phân vân. Nhưng rồi công việc đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng lãnh đạo tỉnh Sóc Trăng khích lệ, dần dần bảy giống lúa thơm bố mẹ được lai tạo (trong đó có giống Khao Dawk Mali, giống Tám Xoan ở phía Bắc, giống Tào Hương của Sóc Trăng), làm nên bộ giống ST, từ ST 1 đến ST 20 ngày nay. Có giống rồi, nhóm nghiên cứu phải lo chuyện quảng bá, tiếp thị, tỷ như tổ chức những cuộc thi như “Cơm nào ngon hơn”, “Gạo ngon thương hiệu Việt Nam”... hoặc tham gia các cuộc triển lãm, hội chợ.

Năm 2009, đã có gần 25.000 héc ta lúa thơm ST được trồng tại Sóc Trăng và hàng vạn héc ta được trồng tại các tỉnh ven biển khác ở ĐBSCL. Ngoài việc trồng lúa hai vụ, các anh còn giúp nông dân trồng lúa thơm theo các mô hình lúa-hành tím và lúa-tôm.

Mới đây, chúng tôi đã tìm đến xã Viên Bình, huyện Trần Đề, nơi có cánh đồng 2.500 héc ta lúa ST 5 vụ đông xuân 2011-2012 mới gieo sạ non nửa tháng. Ông Trà Diên, ở ấp Trà Ông, cho biết: “Tôi làm 23 công cấy tầm lớn hai vụ ST 5, mỗi năm lời hơn 150 triệu đồng, gấp đôi lúa IR ngày trước”. Sư Đỗ Dành, trụ trì chùa Lao Vên, nói: “Thầy Cua đem giống lúa này tới cho bà con Khmer từ sáu năm nay. Từ khi làm ST 5, bà con ở đây thoát nghèo, nhiều nhà mua được máy cày, có nhà mua máy gặt đập liên hợp; bà con cũng góp tiền xây lại ngôi chánh điện của chùa”.

“Riêng việc trồng lúa thơm ở vuông tôm đã giúp ổn định môi trường, tái tạo sự sống trong đất, làm chậm quá trình thoái hóa đất”, anh Cua nói. Trong đào tạo, từ cây lúa thơm ST, đã có 10 kỹ sư làm tiếp các đề tài lên thạc sĩ, riêng anh Trần Tấn Phương đã bảo vệ luận án tiến sĩ hồi tháng 10-2011 chuyên về di truyền với đề tài “Nghiên cứu chọn tạo giống lúa thơm cao sản phục vụ nội tiêu và xuất khẩu”.



Bước tiếp

Hiện nay có năm đơn vị được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sóc Trăng trao quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận thương hiệu “Gạo thơm Sóc Trăng”. Đó là Công ty cổ phần Gentraco (Cần Thơ), Công ty Lương thực Sóc Trăng, Công ty TNHH Thành Tín, Công ty Chế biến gạo chất lượng cao Sóc Trăng và cơ sở sản xuất lúa giống và gạo thơm Mỹ Xuyên. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), năm 2011, Việt Nam xuất khẩu hơn 7 triệu tấn gạo, thu về hơn 3 tỉ đô la Mỹ, trong đó có hơn 400.000 tấn gạo thơm, chủ yếu là giống Jasmine; năm 2012, VFA dự kiến sẽ xuất khẩu trên 500.000 tấn gạo thơm.

Bàn về những thông tin này, kỹ sư Hồ Quang Cua nói: “Muốn giữ được chất lượng gạo thơm đặc sản thì nông dân phải trồng giống đúng phẩm cấp. Việc hình thành vùng nguyên liệu càng lớn thì càng ổn định cho sản xuất. Nhà nước và nhà khoa học phải giúp nông dân lo chuyện này; còn doanh nghiệp phải hợp đồng bao tiêu lúa thơm cho nông dân”. Với giống ST 20 (giá bán trong siêu thị hiện nay là 24.000 đồng/ki lô gam), hạt thon dài, cơm mềm dẻo, thơm hương dứa và hương cốm, anh Cua nói: “Các tỉnh ven biển ĐBSCL có thể trồng được đôi ba trăm ngàn héc ta”. Riêng Sóc Trăng, anh cho biết tỉnh đã xây dựng đề án phát triển lúa thơm đến năm 2015.

Sau Festival Lúa gạo một tuần, về lại Sóc Trăng, tôi gặp anh Cua vừa đi thăm đồng về tới nhà lúc gần 5 giờ chiều, nhưng anh chỉ tạt qua, giành thằng cháu nội trong tay vợ để ôm một lát rồi lại chạy về cơ quan để chuẩn bị ngày mai đưa ông Toàn quyền Canada đi Mỹ Xuyên kiểm tra kết quả một dự án do Canada tài trợ giúp nông dân cải thiện đời sống từ lúa thơm. Anh chùng giọng: “Thời gian mình dành cho gia đình ít quá!”.




Bài đã đăng trên Thời báo Kinh Tế Sài Gòn: http://www.thesaigontimes.vn/Home/congnghe/giaiphap/68819/

Ngày xuân



Đêm giao thừa thức cùng trời đất
Sáng đầu năm ngủ với chiêm bao
Tối mùng Một làm mưa bay lất phất
Về quê em ta lặng lẽ ngọt ngào

Em tươi thắm quần hồng áo đỏ
Với môi buồn mắt biếc nụ tầm xuân
Ta muốn hỏi một lời nho nhỏ
Ai tình nhân và ai tình quân

Ta muốn làm cơn mưa đêm xuân
Rơi khao khát ngàn hoa rớt hột
Trọn mùng Ba mùng Hai mùng Một
Cho em ngọt ngào tình quân





Thứ Ba, 18 tháng 10, 2011

Chuyện lũ lụt, lúa và đê bao ở ĐBSCL

Chuyến đi thực tế khảo sát tình hình lũ lụt ở đồng bằng sông Cửu Long cùng các nhà khoa học cho thấy: trừ những nơi bị vỡ đê làm chết lúa vụ 3, những cánh đồng khác “được” ngập lụt đang đón nhận phù sa có lợi cho vụ đông xuân tới. Vấn đề đặt ra là cái nhìn có lợi cho toàn cục.

Đoàn khảo sát lũ lụt 2011 tại Hồng Ngự chiều 1.10.2011

Trưa 2-10, chúng tôi thuê xe ôm mới tới được khu vực đê bao bị bể hôm 27-9 ở xã Ô Long Vĩ, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang vì cách đó gần 10 cây số chỗ ấp Mỹ Quí, xã Mỹ Phú, một xe cạp đất đang đóng cừ tràm hộ đê làm tắc đường ôtô.

“Cứu lúa hổng được thì cứu đê”?

Tới nơi, thấy diễn ra một cảnh hộ đê khá lạ. Cánh đồng lúa vụ 3 rộng 1.500ha phía bờ tây kênh số 7 đã chìm dưới 3m nước từ sau trận vỡ đê đêm đó, giờ đây hàng chục thanh niên cùng bộ đội vẫn đang hì hục bơm cát, đóng cừ gia cố đoạn đê dài chừng 30m vốn đã được hàn lại từ sáng 28-9.

“Phải quyết liệt gia cố đê rồi bơm nước ra để cứu lúa, cứu đê” - ông Hai Điệc, chủ tịch Mặt trận Tổ quốc xã Ô Long Vĩ đang trực ở đây, giải thích. Ông cho biết tỉnh đã đưa về 35 máy bơm, quyết bơm cho hết cánh đồng nước lũ mênh mông đang mấp mé ngoài bờ bao. Trời đất! 1.500ha lúa đã bị ngập năm ngày rồi, làm sao bơm cho cạn biển nước kia để xả ra kênh số 7 cũng đang ngập lụt!

Ông Hai Điệc nói: “Cứu lúa hổng được thì cứu đê”. Đi cùng mọi người bữa đó, tiến sĩ Dương Văn Ni, chuyên gia về môi trường ở Đại học Cần Thơ, nói: “Để nước như vậy đê vững hơn vì nước không chảy. Còn lúa chết rồi, cứu sao được”.

Ông Hai Điệc tỏ ra tiếc 40 công lúa vụ 3 sắp làm đòng. Anh Năm Vững, chạy xe ôm, nói thêm: “Tôi không có đất, thuê bảy công ở đây hết 3 triệu đồng để làm ba vụ lúa. Vụ này mất đứt 2,7 triệu đồng rồi”.

Sáng bữa đó, chúng tôi gọi điện hỏi tình hình lũ lụt trong tỉnh, ông Huỳnh Thế Năng, phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho biết đến ngày 2-10 tỉnh đã chi 80 tỉ đồng cứu hộ lũ lụt. Trung ương cũng hứa sẽ chi tiếp 60 tỉ đồng. Cả tỉnh đã bị thiệt hại hơn 400 tỉ đồng, trong đó gần 4.000ha lúa vụ 3 bị chết.

Ông Năng nói theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm nay An Giang làm được 144.000ha vụ 3, trong đó có 131.000ha lúa, tăng 15.000ha so với năm rồi. Với cả ĐBSCL, ông Năng tính sơ năm nay làm được hơn 500.000ha lúa vụ 3, tăng hơn 100.000ha. Đi kèm với lúa và hoa màu vụ 3 phải tăng kinh phí đầu tư làm đê bao khép kín cho từng vùng, nhưng chưa ai tính ra con số chi phí này.

Chúng tôi hỏi sao chưa nghe ai nói về chủ trương của bộ hồi đầu năm phải mở rộng diện tích lúa vụ 3 để cố kiếm thêm 1 triệu tấn lúa năm 2011 trong khi không dự báo được lũ lụt lớn như vầy, ông Năng nói: “Cái này chắc sẽ phải có cuộc họp riêng”.

Trước đó, chúng tôi đã đi từ Cần Thơ qua Cao Lãnh, Tam Nông rồi vòng xuống Tân Hồng, Hồng Ngự của Đồng Tháp để qua phà vào đất Tân Châu và Châu Đốc của An Giang. Khác với nỗi lo bị ngập vì xem tivi thấy chiếu cảnh lũ lụt đang tàn phá dữ quá, ôtô 15 chỗ vẫn khô ráo thẳng đường. Cũng không thấy cảnh dân tình biến động, còn giá cả như ngày thường.

Xóm lưới Thơm Rơm (Ô Môn, Cần Thơ) trưa ngày 2-10-2011

Tuy đã 10 năm vắng lũ lụt nhưng bà con vẫn còn nhớ mùa lũ năm 2000. Hôm 1-10, nhiều người nói mực nước còn thấp hơn năm đó chừng hai tấc. Nơi nào không làm lúa vụ 3 thì nước trắng đồng, nơi nào làm vụ 3 thì một bên mênh mông nước, một bên mênh mông lúa xanh rì nằm thấp dưới mặt đê chừng 3m. Chỗ nào có nhiều đê bao khép kín dễ tạo ra dòng chảy mạnh.

Gia đình chị Trần Thị Nở (Tân Hồng, Đồng Tháp)
với cá đồng đánh được trưa ngày 1-10-2011 trong cánh đồng nước lụt


Nếu đê yếu bị bể, nước tràn đồng, lập tức có hàng trăm bộ đội và nhiều lực lượng xung kích cùng với sà lan, xáng cạp, cừ tràm, bao cát... được điều tới vá đê, khẩn trương và quyết liệt không thua cảnh hộ đê ở Ô Long Vĩ. Ở Đồng Tháp, đến ngày 3-10 có gần 1.700ha lúa vụ 3 và khoảng 2.000ha hoa màu trong đê bao bị chết vì ngập. Cả tỉnh bị thiệt hại hơn 300 tỉ đồng và đã chi cả trăm tỉ đồng để cứu hộ.


Tại bờ bao bị vỡ hôm 27-9, cánh đồng lúa vụ 3 rộng 1.500ha
ở xã Ô Long Vĩ (Châu Phú, An Giang) chìm dưới 3m nước


Quá ngưỡng có thể phải trả giá

Vấn đề được đặt ra là có nên bao đê triệt để làm vụ 3 như vậy hay không? Trong chuyến khảo sát lũ lụt này, ngoài tiến sĩ Dương Văn Ni còn có tiến sĩ Lê Anh Tuấn, chuyên gia về biến đổi khí hậu ở Đại học Cần Thơ và thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về đất ngập nước thuộc Quỹ Bảo vệ động vật hoang dã quốc tế.

Dọc đường, mọi người tranh thủ thảo luận với nông dân. Ông Tư Tài, xã Tân Mỹ, huyện Thanh Bình, nói: “Tôi làm 10 công hai vụ đông xuân và hè thu ăn chắc, còn vụ thu đông tôi nghỉ, để nước tràn đồng có lợi hơn”. Ông Năm Thiên, ấp An Tài, xã An Phước, huyện Tân Hồng, nói: “Năm nay tôi làm 30 công vụ đông xuân và hè thu, lúa trúng giá lời 90 triệu đồng nhưng tôi bỏ vụ 3, nghỉ cho khỏe”.

Trẻ em bắt cá ở đê Ô Long Vĩ (An Giang) trưa 2-10-2011

Lý do bỏ vì ông tính bảy năm rồi làm ba vụ lúa trong vùng bao đê, riêng lượng phân bón đã tăng tới 30%, chưa tính những chi phí khác mà đất không được hưởng phù sa. Ông nói nếu không bị ngập lụt mà lúa vẫn được giá như năm nay thì lời một công cũng được 2,5 triệu đồng, còn nếu thất giá như năm rồi, một công chỉ kiếm được nửa triệu đồng, có khi huề vốn. “Tại nông dân ở đây hổng có gì làm nên phải bấu vào lúa mà làm vậy thôi” - ông Năm Thiên nói.

Bên An Giang, ông Nguyễn Hiền Đức - chủ tịch UBND xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú, làm 30 công trong vùng bao đê sản xuất ba vụ lúa mỗi năm - nói: “Nếu không làm thêm vụ 3 như vầy thì sang vụ đông xuân tình hình sâu bệnh giảm mà độ phì của đất cũng bảo đảm hơn”. Ông đề nghị: “Dù đã quy hoạch làm ba vụ nhưng nếu sau ba năm cho xả lũ một lần vẫn tốt hơn”.
Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cho rằng làm đê bao có lợi cho vùng này mà có hại cho vùng khác về kinh tế, môi trường thì coi như có hại cho toàn cục. Theo ông, chỉ nên làm vụ 3 ở những vùng gò cao, không ngập sâu như ở vùng Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên. Ông Tuấn cho biết sản xuất lương thực ở ĐBSCL đã tới ngưỡng, nếu phát triển nữa sẽ phải trả giá, thí dụ như làm thêm vụ 3 thì phải trả giá như hiện nay.

Ông Dương Văn Ni cho rằng 1,5 triệu ha vùng ngập sâu 2m của Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên như là hai túi chứa nước của cả vùng ĐBSCL trong mùa lũ lụt và điều tiết nước trong mùa khô. Nếu vì tăng diện tích lúa mà phải bao đê ngăn lũ sẽ phá vỡ hệ thống điều tiết tự nhiên này, tác hại không thể lường hết được.

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện tính một danh sách dài những chi phí tiềm năng trong sản xuất lúa vụ 3: chi phí đầu tư xây dựng và duy tu đê; chi phí nhân lực, tài lực, vật lực cứu đê, cứu lúa; thiệt hại của những diện tích không cứu kịp; đất và con người không được nghỉ ngơi để hồi sức; phù sa không vào đồng được, mất nguồn dinh dưỡng tự nhiên, sau một thời gian đất sẽ bị kiệt dinh dưỡng và chi phí sản xuất sẽ tăng; giảm diện tích nhận nước vào đồng, làm nước chảy xiết hơn trong kênh mương dẫn đến sạt lở và tăng ngập ở những nơi khác, kể cả những thành phố, làng mạc ở phía hạ lưu; chi phí chống sạt lở và các biện pháp bảo đảm an toàn tài sản, tính mạng con người; tăng chi phí nạo vét cửa sông Mekong phục vụ giao thông thủy do phù sa thay vì bồi lắng trên đồng thì bị trôi xuống vùng cửa sông; mất nguồn cá và tài nguyên thiên nhiên, sinh kế mùa lũ; nước thoát ra biển nhanh hơn trong mùa lũ, gây xâm nhập mặn sâu hơn trong mùa khô.

Rồi ông đề nghị: “Cần phải giải bài toán chi phí - lợi ích của việc canh tác lúa vụ 3 trong mùa lũ để xem giữa tổng lợi ích và tổng chi phí cái nào lớn hơn”.

Lúa ma ở Tràm Chim mùa lụt 2011

Những cánh đồng lúa ma

Bữa ở Tam Nông, chúng tôi đã chạy vỏ lãi trên cánh đồng nước lụt mênh mông của vườn quốc gia Tràm Chim để khám phá những cánh đồng lúa ma lớn nhất Đông Nam Á đang cắm rễ sâu hơn 3m nước và sắp trổ đòng. Tiến sĩ Dương Văn Ni cho biết cùng với loài cỏ năn kim là thức ăn chủ lực trong mùa khô, lúa ma là thức ăn chủ lực trong mùa lũ lụt ở vùng này của hàng trăm loài.
Ông nói lúa ma tự mọc hoang dã, năng suất rất thấp nhưng cho gạo thơm ngon. Ở Nam Mỹ, Brazil đã sản xuất gạo lúa ma đóng gói 200g bán qua Mỹ với giá 7 USD một gói, tương đương 3.500 USD/tấn!
Ông Ni chỉ những con chim trích đen đang ăn đọt lúa non và nói nếu không có lúa ma, hệ sinh thái ở đây sẽ mất cân bằng. “Nếu không có mùa lũ lụt và nếu bao đê để ngăn nước lũ thì con người và thiên nhiên ĐBSCL sẽ không thể sống hài hòa với nhau dài lâu được” - ông Ni nói.

* Bài đã đăng tên báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần ngày 7-10-2011:
http://tuoitre.vn/Tuoi-tre-cuoi-tuan/Tuoi-tre-cuoi-tuan/459486/Chuyen-lu-lut-lua-va-de-bao-o-DBSCL.html