Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Nhịp cầu Sing - Việt



41 câu chuyện trong tập bút ký Sống và viết ở đảo quốc Sư Tử (NXB Tổng hợp TP.HCM và Thời báo Kinh tế Sài Gòn, tháng 3.2013) của Lê Hữu Huy, như những nhịp cầu nối đôi bờ Việt Nam - Singapore. Những câu chuyện này được viết dưới dạng “thư Singapore” trong vòng 10 năm qua, đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn và một số tờ báo khác ở Việt Nam.

Tác giả từng làm trưởng đại diện của Vietcombank tại Singapore từ năm 1997, sau đó lấy bằng thạc sĩ về Đông Nam Á tại Đại học Quốc gia Singapore (NUS) và hiện là giám đốc Công ty tư vấn Vietnam Global Network, chuyên phục vụ nhu cầu giao lưu và tìm hiểu thị trường của doanh nghiệp Việt Nam tại đảo quốc này.  



Từ công việc thường gắn với dòng thời sự ở Singapore hoặc Việt Nam, tác giả viết nên những câu chuyện liên quan tới các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống… giữa hai đất nước. Ở mỗi chuyện, tác giả hay có những bình luận nhẹ nhàng và sâu sắc, có thể làm cho người đọc, nhất là những ai đang tính sang Sing học tập hay làm ăn, phải ngẫm nghĩ để rút ra “bài học” cho mình.

Thí dụ trong bài Chuẩn và không chuẩn, tác giả kể: “Nhờ nói giọng miền Nam, nhiều lần tôi được mời đọc các chương trình quảng cáo bằng tiếng Việt sản xuất tại Singapore. Trong lúc đó, những “đối thủ” khác của tôi có giọng Bắc hay giọng Nam quá “chuẩn” thì lại quá nghiêm trang nên không thể thuyết phục khách hàng”. Từ trải nghiệm này, tác giả chia sẻ: “Đến Singapore, bạn phải làm quen với cách nói tiếng Anh của người Hoa, người Mã Lai, người Ấn, người Myanmar, người Indonesia và cũng chẳng có gì xấu hổ nếu mình nói tiếng Anh của người Việt, nghĩa là chưa “chuẩn””. Tiếp đó, tác giả bình luận: “Chính phủ Singapore vẫn luôn mời gọi tài năng nước ngoài đến đây sinh sống lập nghiệp và những người biết tiếng Anh và giỏi về ngôn ngữ sẽ có lợi thế. Tuy nhiên, những ai có tư duy xem nặng bằng cấp, quá đề cao cái “chuẩn” sẽ có ngày phải trả giá. Bởi lẽ, những tiến sĩ hay thạc sĩ Harvard hay Oxford một ngày nào đó không chứng tỏ được khả năng làm việc hay đóng góp vào phát triển kinh tế hay xã hội của Singapore thì cũng sẽ được mời đi chỗ khác. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chính phủ Singapore luôn muốn tạo ra những luật chơi sòng phẳng trên một sân chơi công bằng, chuẩn hay chưa chuẩn đều được, miễn là có tài năng và đóng góp”.

Ở một câu chuyện khác, Khởi đầu nan, đừng vội!, kể chuyện một nam sinh viên Việt Nam, sau khi tốt nghiệp cử nhân ở NUS, chỉ xin được việc làm đi bán hàng trong một siêu thị Sing và quyết định nghỉ việc sau 4 tháng vì cho rằng không thỏa đáng. Tư vấn cho bạn trẻ này, tác giả tâm sự: “Có lẽ tuổi thơ vất vả và nhận thức về giá trị giúp tôi xem bản thân mình, một tân thạc sĩ NUS và cũng từng làm trưởng đại diện của một ngân hàng lớn, coi việc đứng bán hàng trong siêu thị là một kinh nghiệm quý báu vì đó là cơ hội tiếp cận khách hàng một cách sinh động và cụ thể nhất”. Liền đó, tác giả viết: “Tôi tâm đắc với câu châm ngôn của đại văn hào Victor Hugo: “Quand on n’a pas ce qu’on aime, on aime ce qu’on a” (Khi không có cái mà ta thích, hãy thích cái mà ta có)”.

Hay như trong bài Hội nhập để làm gì?, tác giả kể chuyện một nữ sinh Việt Nam, sau 6 năm du học tại Sing bằng học bổng của chính phủ nước này, đã tự hào thấy “mình là người Singapore”. Đến nỗi, chính Thủ tướng Lý Hiển Long đã ca ngợi, nhân kỷ niệm quốc khánh nước này hồi tháng 8.2012, rằng: “Khi trở thành sinh viên Đại học Quản trị Singapore, cô đã được bản địa hóa đến mức nếu không biết tên, bạn có thể sẽ không biết cô ấy từ đâu đến”. Cuối câu chuyện này, tác giả liên hệ tới chính mình để trả lời cho câu hỏi ban đầu: “Cuộc sống khắc nghiệt ở Singapore buộc tôi mỗi sáng thức dậy phải nghĩ đến chuyện kiếm tiền, nhưng những đồng tiền của tôi sẽ vô nghĩa nếu tôi không biết sử dụng chúng để làm những chuyện có ý nghĩa, để trở thành một người Việt Nam đàng hoàng, xứng đáng, vinh danh cho xứ sở quê hương mình cho dù đang ở bất cứ nơi nào trên thế giới”.

Còn nhiều câu chuyện đáng đọc nữa ở tập sách dày gần 200 trang của một doanh nhân trẻ đang sống xa nhà. Đúng như ở lời giới thiệu, những người làm sách đã nhấn mạnh: “Thư Singapore của Lê Hữu Huy giúp chúng ta hiểu người và hiểu ta hơn. Hiểu người để cố gắng theo kịp người; hiểu ta để khỏi phải rơi vào hai thái cực: tự tôn hoặc tự ti, và để quý trọng hơn nữa tấm lòng cùng những nỗ lực vượt qua bao trở ngại để sống tử tế trên xứ lạ của nhiều người con xa xứ”. ■

* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 16.4.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130416/nhip-cau-sing-viet.aspx

Thứ Ba, 9 tháng 4, 2013

Tiếng nói phương Nam



Tiếp theo Từ điển từ ngữ Nam bộ, Ấn tượng văn hóa vùng đồng bằng Nam bộ,Văn chương miền sông nước Nam bộ, TS. Huỳnh Công Tín cho in tiếp Đặc trưng văn hóa Nam bộ qua phương ngữ (NXB Chính trị quốc gia, 3.2013) nhằm góp phần vun đắp và giúp bạn đọc tìm hiểu thêm về đất phương Nam.   



Sách gồm 15 chương, trong đó, 10 chương đầu bàn chuyên sâu và kỹ thuật các nội dung như: những vấn đề được quan tâm ở phương ngữ Nam bộ; vốn từ Nam bộ trong tiến trình Việt ngữ; trọng âm trong giao tiếp của người Nam bộ; vay mượn trong giao tiếp Nam bộ; khuynh hướng nói, viết tắt của người Nam bộ; thói quen nói lái của người Việt phương Nam; khác biệt giữa phương ngữ Nam bộ và Bắc bộ; địa danh Nam bộ; địa danh “số” ở Nam bộ; nguyên âm đối tiếng Sài Gòn. 5 chương tiếp theo “dễ đọc” hơn, giống như những câu chuyện bổ sung cho phần đầu: nói quá trong chuyện Ba Phi; về cuốn Dictionarium Anamitico-Latinum của J.L. Taberb; đóng góp cho nghiên cứu phương ngữ Nam bộ của Cao Xuân Hạo; đam mê từ nguyên học của An Chi và chuyện tác giả làm cuốn Từ điển từ ngữ Nam bộ.

Tác giả xác định “vùng phương ngữ Nam bộ” bao gồm Đông Nam bộ - Sài Gòn - Tây Nam bộ; và coi phương ngữ Nam bộ là “tiếng Việt của người Nam bộ”. Từ đó, tác giả cất công nghiên cứu, phân tích sự khác biệt của phương ngữ Nam bộ với phương ngữ các vùng miền khác trong nước trên cả ba phương diện: ngữ âm; từ vựng và ngữ nghĩa; ngữ pháp và phong cách diễn đạt. Tìm sự khác biệt, không phải để loại trừ hay khu trú, mà, nói như lời giới thiệu sách: “Việc tìm hiểu phương ngữ Nam bộ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, như việc ghi nhận sự đóng góp của phương ngữ Nam bộ vào kho tàng tiếng Việt toàn dân; đồng thời hướng tới sự chuẩn hóa tiếng Việt không phải theo khuynh hướng loại trừ các phương ngữ, mà trên khuynh hướng tiếp thu những yếu tố tích cực từ các phương ngữ nói chung, phương ngữ Nam bộ nói riêng, để làm phong phú và giàu đẹp thêm cho tiếng Việt”.

Cái “tiếng nói phương Nam” đó, như TS. Huỳnh Công Tín viết ở trang 14: “Đi liền với lịch sử khẩn hoang miền Nam là quá trình hình thành những nét riêng, mới cho cư dân người Việt. Trên phương diện ngôn ngữ, sự thay đổi trong ngôn ngữ không chỉ diễn ra ở lớp cư dân người Việt vào Nam, mà ở cả những cộng đồng người Việt tại chỗ. Vì sự thay đổi trong ngôn ngữ không chỉ do tác động của nhân tố không gian mà có cả nhân tố thời gian”.

Chỉ riêng với “con nước” trong phương ngữ Nam bộ, tác giả phát hiện: “Diễn đạt sự vận động của nước bằng hàng loạt từ ngữ, vừa có tính phổ cập, vừa có tính riêng qua sự phân biệt tinh tế giữa chúng: nước lên, nước xuống, nước lớn, nước ròng, nước rong, nước kém, nước đứng, nước nhửng, nước ương, nước đổ, nước ngập, nước nổi, nước quay, nước lụt, nước giựt, nướt rút, nước chảy, nước trôi, nước nhảy, nước bò…”.

Cũng với chuyện “con nước” này, đề cập tới “phong cách diễn đạt giàu sắc thái biểu cảm và nhiều chất hài” của phương ngữ Nam bộ, tác giả dẫn hai câu ca dao “Nước ròng trong ngọn chảy ra / Tin chồng em chết, anh bôn ba qua liền” rồi bình luận, cái từ “bôn ba” trong câu ca dao đó không phải nói về chuyện “gian lao vất vả” mà được hiểu là sự “vội vã” của người con trai. Lý do, theo tác giả: “Chất hài của Nam bộ khác với chất hài của Bắc bộ, không phải do thiếu năng lực tư duy, mà do sở thích “bông đùa”, muốn cho cuộc sống bớt căng thẳng”.

Về “địa danh Nam bộ”, ở trang 121, tác giả nhắc tới từ “Châu Thành” rất riêng ở ĐBSCL: “Địa danh “Châu Thành” là từ chỉ một vùng đất nằm giáp ranh một đơn vị trung tâm, thường là thành phố hay thị xã của một tỉnh. Hầu hết vùng ĐBSCL đều có một đơn vị hành chính gọi là huyện Châu Thành, ngoại trừ Vĩnh Long”. Tác giả dẫn tiếp mấy câu ca dao Nam bộ có nhắc tới hai tiếng Châu Thành: “Bước xuống bắc Mỹ Tho thấy sóng xô, nước đẩy / Bước lên bờ Rạch Miễu thấy nước chảy, cây xanh / Anh biết chắc nơi đây là đất Châu Thành / Sao tìm hoài không thấy trong đám bộ hành bóng em”.

Với cuốn sách thứ tư về Nam bộ này, TS. Huỳnh Công Tín - người thầy giáo say mê văn hóa Nam bộ, vùng đất quê nhà - dường như muốn gửi tới bạn đọc một “tiếng lòng” qua lời đề từ cho tập sách: 

Từ bên này sông Tiền, đã quen xuồng ghe, kinh rạch
Qua bờ kia sông Hậu, sao quên tiếng nói phương Nam…” ■



* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 9-4-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130409/tieng-noi-phuong-nam.aspx

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Sơn Nam


Bài thơ “Hương Rừng Cà Mau


Bài “Thay lời tựa” tập truyện ngắn nổi tiếng “Hương Rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam là một bài thơ hay. Bài thơ dài 28 câu viết về cái thuở tiền nhân xưa từ miền Trung tha hương vào khai hoang mở cõi phương Nam. Đó là một bài thơ độc đáo hiếm thấy của nhà văn Sơn Nam mà nhiều người đã thuộc lòng vì cái điệu buồn chất chứa trong từng âm điệu, câu chữ.  

Nhưng có lẽ ít ai biết bài thơ đó nhà văn viết khi nào và ở đâu. Một hôm, cuối năm 2000, gần Tết, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, ông ghé thăm báo Cần Thơ và nhắn tôi qua chơi. Tôi chở ông về nhà mình, giở cuốn “Hương rừng Cà Mau” do nhà xuất bản Trẻ tái bản năm 1986, có chữ ký tặng bằng mực đỏ của ông ngày nào, rồi hỏi: 

- Bài thơ này chú Tám làm hồi nào vậy?

Ông nheo nheo mắt, nói:

- Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi. Hồi đó chánh quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến.

Rồi ông ngồi chép lại cả bài thơ trên mặt sau một tờ lịch lớn. Nét chữ của một ông già 75 tuổi mà bay bướm quá chừng. Cuối bài thơ, ông ghi: “Viết thơ này từ năm 1961, nay chép lại tặng Huỳnh Kim, bờ sông Hậu”.  Tôi đã nhờ thợ phủ la-mi-na và ép tờ lịch ấy lên một tấm gỗ để lưu giữ được lâu dài bút tích của nhà văn Sơn Nam. 

Tôi treo kỉ vật này trên tường kế bên kệ sách và gắn kề bên nét chữ của ông, một chiếc lá cây khô hoang dã đã lìa cành tự khi nào. Chiếc lá ấy, nét chữ ấy, mỗi lần nhìn lên, như nghe có tiếng người xưa vọng lại:


Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Điệu thơ Lục Vân Tiên
Với câu chữ:
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả
Tới Cà Mau - Rạch Giá
Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng
Muỗi vắt nhiều hơn cỏ
Chướng khí mù như sương
Thân không là lính thú
Sao chưa về cố hương?
Chiều chiều nghe vượn hú
Hoa lá rụng buồn buồn
Tiễn đưa về cửa biển
Những giọt nước lìa nguồn
Đôi tâm hồn cô tịch
Nghe lắng sầu cô thôn
Dưới trời mây heo hút
Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút
Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa
Năm tháng đã trôi qua
Ray rứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…


==========================


Bài này đăng báo Tuổi Trẻ cuối tuần (tháng 8-2018)

Bút tích của nhà văn Sơn Nam
(click vào hình để có bản phóng lớn)









Gặp lại nhà văn Sơn Nam



Nhà văn Sơn Nam đã về với đất, nhẹ như câu thơ của ông “Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sáng nay, lục tìm trong ký ức và trong Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG), như gặp lại ông…


1.


Năm bảy năm trước, khi còn khỏe, nhà văn Sơn Nam có viết lai rai cho TBKTSG, thường là vào dịp Tết. Có một bài mà bây giờ đọc lại, thấy như ông nói chuyện đang xảy ra. Đó là bài “Làm tiền và xài tiền”. Mở đầu bài báo, ông viết: “Tuy không rành về kinh tế tài chính nhưng tôi dám phát biểu rằng không phải có nhiều vàng trong tay là mặc nhiên được đứng vào hàng ngũ tư sản Việt Nam trong giai đoạn mở cửa này”. Rồi ông nhận xét: “Mấy năm gần đây, phát sinh một hiện tượng ăn xài hoang phí trong một bộ phận dân cư ở Sài Gòn và các tỉnh, đến mức mà chính những nhà kinh doanh nước ngoài phải ngạc nhiên, thậm chí coi khinh. Trúng mối vài dịch vụ sang nhượng nhà đất, buôn lậu, tráo trở chứng từ, dành dụm được năm, mười cây vàng, hoặc hơn, làm tiền không đổ mồ hôi thì dĩ nhiên cần tiêu xài vô lý, dịp may hiếm có. Tiền sẽ vào túi, dễ dàng, cóc nằm há mồm là sung rụng ngay vào miệng, muốn khạc ra cũng không được. Đó là chưa kể một số cán bộ tiêu cực có bài bản, ăn chơi một buổi bằng một năm lương bổng của người làm công. Xài ô-tô hạng sang, quần áo thứ tốt, nhà cửa trang trí toàn đồ ngoại”.

Một chỗ khác, ông mô tả rành rọt: “Rượu mạnh với nhãn hiệu đắt tiền, nốc vài chai đã là tốn bạc triệu. Gọi thức ăn đủ món, nhưng món nào cũng gắp thử một vài đũa, hoặc không gắp rồi chờ đem món khác! Ăn để phá của, vì của cải ấy làm ra không đổ mồ hôi, lắm khi không tiêu xài thì không phải lẽ, vì đó là tiền thù lao tập thể cho phép cả nhóm kết nghĩa! Tiêu xài để cho người đồng lõa thấy mình là người hào hiệp, thừa tiềm năng và thừa bản lãnh. Đến mức những người phục vụ cửa hàng tuy cười tươi ra mặt nhưng khi vào nhà bếp, họ cũng lắc đầu, khinh bỉ cái phong cách điên khùng của "thời đại". Chưa hết! Ăn uống bừa bãi, nửa ăn nửa bỏ, nôn mửa, lắm khi để xóa mặc cảm tội lỗi, họ lại cởi áo, dùng những lời lẽ phàm tục, nhờ điện thoại cầm tay để nói láo với bạn bè, với vợ con hoặc trêu chọc cô gái nào đó để ra vẻ mình... có máu văn nghệ. Chưa kể trường hợp say quá mức, họ lại đùa giỡn bằng cách chế diễu các cơ quan nhà nước và tự chế diễu mình”. 

Ông quan sát thấu đáo cả những kiểu sống như thế này: “Có tiền nhiều, nhưng không tin nơi ngày mai, hoặc quá tin vào tử vi, tuổi con rồng, gặp tháng con chuột. Họ cầu mong làm giàu thêm, không bỏ những dịp may có thể thoáng qua rồi mất. Con cái của họ cần được nổi danh trong khu phố, với bạn bè cùng trang lứa. Nào khiêu vũ, nào ăn điểm tâm ở khách sạn sang trọng nhất, xài đô-la chớ không xài tiền Việt, trong khăn mù-soa nhung nhúc những khoen lớn khoen nhỏ. Mất chiếc xe gắn máy đắt tiền này, lập tức cho con số tiền to để sắm trở lại chiếc khác, lắm khi còn đắt tiền và hợp thời trang hơn”.

Gần cuối bài đó, nhà văn nhắc nhẹ: “Ở Việt Nam, xưa kia đã từng có xuất hiện vài nhà tư sản xứng đáng cho đời sau ghi nhớ. Thí dụ như ông Trương Văn Bền. Khi rảnh rang, ông tranh thủ đọc sách, nghiên cứu cách tiếp thị, phân phối sản phẩm theo đường dây hợp lý. Mỗi sáng, ông không quên tập thể dục”.


2.


Nhà văn Sơn Nam viết báo kinh tế như vậy đó. Còn các nhà báo kinh tế và doanh nhân thì lại hay trích văn của ông. Trong mấy chục bài của họ đã đăng trên TBKTSG, dễ gặp lại hình ảnh “ông già Nam bộ” Sơn Nam.

Tỉ như trong bài “Như ngày xưa tiền nhân đi mở cõi”, ông Trần Kim Chung - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Quốc tế C&T - đại diện Tập đoàn Mỹ phẩm Amore - Pacific Hàn Quốc, tâm sự: “Có một bài thơ của nhà văn Sơn Nam luôn làm tôi liên tưởng rằng, chuyện khởi nghiệp kinh doanh ngày nay cũng tựa như chuyện tiền nhân ta ngày xưa đi mở cõi. Đó là đoạn đầu trong bài thay lời tựa tập truyện ngắn “Hương rừng Cà Mau” của nhà văn: Trong khói sóng mênh mông / Có bóng người vô danh / Từ bên này sông Tiền / Qua bên kia sông Hậu / Mang theo chiếc độc huyền / Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” / Tới Cà Mau, Rạch Giá / Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng…”.

Hoặc trong bài “Quán Sơn Nam”, nhà báo Võ Đắc Danh kể: “Sáng thứ bảy, tôi tìm đến địa chỉ liên lạc thường nhật của ông, tức cái quán cà phê trong khuôn viên nhà truyền thống quận Gò Vấp. Khác với lệ thường, hôm nay sau khi uống xong ly sữa tươi và ly cà phê đen, nhà văn Sơn Nam ăn thêm một gói bắp nấu, rắc lên một ít đường cát và dừa nạo. Bắp nấu là món ăn sáng của người nghèo, hồi trước bắp nấu được gói bằng lá chuối, múc ăn bằng một miếng sóng lá dừa. Bây giờ là cây muỗng nhựa, bắp nấu gói trong bọc ny lông, bên ngoài gói thêm lớp giấy báo.

Thấy ông ăn một cách ngon lành, tôi hỏi: “Tía tìm đâu ra món này, đã lâu rồi tôi không thấy?”. Ông nói ở gần nhà ông còn một người bán, nhưng phải dậy sớm mua mới có.

Ông vừa ăn xong thì một thanh niên tìm tới, nói là ở tạp chí Điện ảnh đến nhận bài báo Tết theo đơn đặt hàng. Ông vừa lấy bản thảo trong túi ra, vừa cười nói: “Lấy tiền trước của họ, xài hết rồi mới viết”. Ông cho tôi xem trước khi giao nó cho khách hàng. Năm Giáp Thân, ông viết về khỉ. Thì ra, ông là một trong những cư dân Sài Gòn trực tiếp chứng kiến các chuyên gia người Pháp mang hai con khỉ đầu tiên đến Thảo cầm viên. Ông nói ông rất khoái câu nói của Gamzatov, đại ý: con khỉ muốn thành người phải trải qua quá trình tiến hóa hàng triệu năm, nhưng con người muốn trở lại thành khỉ thì chỉ cần một chai rượu”.

Hay trong bài "Thế kỷ XXI nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản", nhà báo Hưng Văn viết: “Nhà văn Sơn Nam đề nghị: Trong chương trình sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông Phan Thanh Giản; đủ tình đủ lý; gọi là tình huống đặc biệt của Nam bộ khi phải hội nhập với vùng Đông Nam Á và phương Tây quá sớm so với các vùng khác trong cả nước. Ông để lại cho đời sau chút gì khó quên, khó xóa nhòa, gọi là tâm linh, phóng khoáng, mơ mộng”.




Nhà văn Sơn Nam đọc “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” - Ảnh: H.KIM


Tấm ảnh đăng kèm bài này là hình nhà văn Sơn Nam lật xem cuốn “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư” trên giường bệnh vào chiều ngày 19-6-2005. Một giọt nước mắt ứa ra nơi khóe mắt ông già 80 tuổi. Dạo đó, ông phải nằm viện cả tháng trời sau một tai nạn giao thông. Cùng nhiều bạn đọc khác, tôi từ Cần Thơ về Sài Gòn thăm ông, gởi biếu ông quà của công nhân Công ty In Vườn Lài ở Quận 10 và của giáo sư Trần Hữu Dũng ở Mỹ nhờ chuyển. Tôi cũng tặng ông cuốn sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau, do Nhà xuất bản Trẻ và TBKTSG mới ấn hành. Ông lặng lẽ giở vài trang sách, không nói một lời. Nhưng nhìn ánh mắt ông, tôi hiểu tình cảm của ông dành cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tư, năm đó Tư 29 tuổi. Trước đó mấy tháng, tôi gặp ông chỗ cái quán cà phê mà anh Võ Đắc Danh kể ở trên. Nhắc tới cô Tư, ông nói: “Viết hay hơn Sơn Nam à nghen!”. Sau đó tôi gọi điện thoại cho Tư rồi đưa máy cho hai chú cháu nói chuyện. Nhớ giọng ông hào hứng: “Chịu khó viết mỗi ngày. Báo hổng đăng thì để đó, rồi sẽ có ngày báo đăng”. Bữa đó, truyện “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư chưa đăng báo.

* Bài này đăng Thời báo Kinh tế Sài Gòn 21-8-2008  
  



Vài kỉ niệm với nhà văn Sơn Nam



Ấn tượng nhứt của anh với nhà văn Sơn Nam là gì?


- Lần nào gặp, tôi cũng thấy ổng giản dị, lạc quan và hầu như nói chuyện gì với ổng tôi cũng học được nhiều thông tin bổ ích. Sơn Nam là một nhà văn nổi tiếng nhưng rất dễ tiếp xúc và chuyện trò. Ở nhà, trong quán cà phê, giữa cuộc họp… hay bất cứ đâu, hễ rảnh rang là ổng sẵn sàng la cà với mọi người, nhất là với giới bình dân. Có lần tôi về Sài Gòn ghé thăm khi ổng đang nằm trên giường bệnh. Ổng gầy lắm, da bọc xương, nhưng nói chuyện thì tỉnh táo, ánh mắt vui. Ổng khuyên tôi nên coi bộ phim “Mê-kông ký sự” mà theo ổng thì còn gặp được những hình ảnh văn hóa gốc của nhiều dân tộc thiểu số chưa bị “con người hiện đại” can thiệp. Ổng nói rất lạc quan: “Nếu còn sống được tới 85 tuổi, tôi sẽ viết tiếp  câu chuyện này, ở hai bên bờ sông Tiền, sông Hậu của đồng bằng sông Cửu Long”. 


Nhà văn Sơn Nam & H.Kim tại báo Cần Thơ hôm 15-1-2001 - Ảnh: QUỐC ANH



Nghe nói nhà văn Sơn Nam có dạy anh viết báo?


- Không dạy trên giảng đường, ổng chỉ dạy tôi trong cuộc sống. Từ năm 1975, nhà tôi ở chung con hẻm nhỏ với nhà văn trên đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình, TPHCM. Tôi vào bộ đội rồi chuyển sang nghề báo. Phóng sự đầu tiên tôi nhờ ổng đọc, viết về đảo Phú Quốc gởi báo Quân đội nhân dân. Cho tới giờ, tôi vẫn thực hành lời dạy viết báo của nhà văn Sơn Nam từ dạo đó: “Cố gắng viết ngắn, câu nào cũng có thông tin”. 

Một lần khác, vào năm 1993, tôi theo nhà văn vào xã Tây Phú thuộc huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Trong khi chúng tôi cứ loay hoay với mấy cái báo cáo tổng kết về chuyện đi khai hoang vùng tứ giác, thì nhà văn Sơn Nam đã lội lòng vòng quanh chợ xã. Quay về, ông chỉ hỏi anh bí thơ xã mấy câu mà nghe xong thấy… quá nể: “Có gái giang hồ vào tứ giác tìm tình yêu hay không?”; “Có người nông dân bất mãn? Có anh cán bộ cường hào?”; “Điện thoại bàn đã gọi ra quốc tế nhưng sách báo về xã sao thấy còn ít quá?”… Khi nghe anh bí thơ xã kể chuyện bà con nông dân lập miếu Thần Nông, 17 tháng 3 âm lịch hằng năm họ cúng tạ ơn trời đất, tổ tiên và cây lúa, nhà văn Sơn Nam nói: “Đó là đạo. Làm ruộng là đạo, giữ đất là đạo. Khuyến nông tức là cách giữ đạo làm nông, thì dân mới giàu mạnh được. Tôi lội chợ Tây Phú, thấy có đánh bi-da, có tiệm vàng, có cái kéo rèn từ Phú Tân đưa qua, có bộ xa-lông tre lấy mẫu từ Mộc Hóa, có cô bán quán quê Đồng Tháp, có thầy giáo quê Thanh Hóa… Người tứ xứ về tứ giác sinh cơ lập nghiệp, thì cần giữ cái đạo làm người, thì kinh tế thị trường ở đây mới nên bộ mặt nông thôn mới”. Khi ghé thăm chùa, thăm khu di chỉ văn hóa Óc-Eo, cánh nhà báo  chúng tôi lăng xăng hỏi nhà chùa đủ chuyện thì nhà văn Sơn Nam lặng lẽ thắp nhang trước bàn thờ Phật, cúng dường nhà chùa và bố thí cho người nghèo chung quanh chùa.

Đó là những bài học làm báo và làm người nhớ đời của tôi.


Anh có giữ kỷ vật gì của nhà văn Sơn Nam không?


- Tôi đang giữ tập truyện “Hương Rừng Cà Mau” do Nhà xuất bản Trẻ tái bản lần đầu tiên sau ngày giải phóng, tháng 11-1986, in giấy vàng khè, giá 25 đồng, có chữ ký tặng bằng bút bi màu đỏ của nhà văn Sơn Nam. Tôi cũng đang treo bên kệ sách, bút tích của nhà văn Sơn Nam chép bài thơ thay lời tựa tập truyện “Hương Rừng Cà Mau”. Lần đó, tôi nhớ vào ngày 15-1-2001, sau khi ghé thăm báo Cần Thơ, nhà văn về nhà tôi chơi. Sau đó, ổng chép lại bài thơ vào mặt sau một tờ lịch lớn và ký tặng vì biết tôi rất thích bài thơ đó. Tôi tò mò hỏi chú viết bài thơ trong hoàn cảnh nào, ổng nói: “Viết từ năm 1961, trong nhà tù Phú Lợi; hồi đó chính quyền Sài Gòn bỏ tù cái tội mình vẫn theo kháng chiến”.

VŨ CHÂU ghi





“Cốt cách người Việt Nam mình là nhân nghĩa”



Trung tuần tháng 3-1990, nhà văn Sơn Nam về Cần Thơ để chuẩn bị cho một công trình nghiên cứu về chùa Nam Nhã. Lúc này ông đã 64 tuổi, thường xuyên đi về miền Tây. Biết tôi đã chuyển qua làm ở báo Quân khu 9 và cộng tác với mấy tờ báo ở Sài Gòn, Hà Nội, ông nhắn tôi đi uống cà phê đêm rồi về nhà tôi chơi. Lâu ngày gặp nhau, không hiểu sao tôi vẫn muốn nghe ông nói chuyện về miền Tây, về đồng bằng sông nước mà khi đó dù đã cưới vợ quê gốc Cần Thơ, lúc nào tôi cũng thấy mình thiếu cái… cốt cách miền Tây. Tôi còn nhớ đã hỏi ông như thế này:

- Cái cốt cách người đồng bằng mình, theo chú Tám, là sao?

Ông trả lời:

- Cái cốt cách người Việt Nam mình là nhân nghĩa. Ông vua mà không nhân nghĩa thì sẽ bị cái nhân nghĩa của nhân dân “cách cái mạng”. Hàng xóm có đám ma, mình góp tiền lo đám, dù người đó lúc còn sống mình không ưa. Không phải chỉ ông vua chết, mình mới cúng. Người ăn mày chết, mình cũng cúng. Đứa trẻ chết, mình cúng. Người ăn cắp, người đói chết, mình cúng. Xưa, công chúa Thuận Thiên than lạnh với cha, vua Lý Thánh Tông họp quần thần bảo: Trẫm thương dân như thương công chúa. Công chúa mặc hai lớp áo cung đình còn than lạnh, huống hồ là muôn dân của trẫm bị cầm tù vì nghèo vì dốt. Nay trẫm lệnh phải phát đủ quần áo để muôn dân được ấm. Đó không phải là mị dân, cái gốc của nó là nhân nghĩa Việt Nam. 
           
Ông còn nói thêm về cái hiện trạng sống thiếu nhân nghĩa xung quanh ta. Tôi giật mình nghĩ lại mình. Lúc đó là đã mười bốn năm kể từ ngày ba tôi mất. Lúc đó, đời lính đã tạm yên, không còn ra mặt trận 979 nữa, nhưng vợ chồng tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện thờ phượng ba tôi, tất cả để một mình mẹ già của tôi ở Sài Gòn lo nhang khói. Mà hai vợ chồng tôi lúc đó là đảng viên, lúc nào cũng nghĩ mình sống có ích, có nghĩa với dân với nước! Có ngờ đâu, có những lúc thấy tâm hồn trống vắng cô đơn kì lạ mà không làm sao hiểu nổi. Như là đêm hôm đó, tôi lập cập tiễn ông già 64 tuổi ra khỏi căn nhà “gia binh” già nua của mình, gió đêm lạnh ngắt.

 HK

* Hai bài này đăng báo Cần Thơ (tháng 8-2008)

Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

Như sen hồng Đồng Tháp


Về với Đồng Tháp người ta thường nhắc tới sen như một nét đẹp tinh hoa của tỉnh biên giới đồng bằng. Bộ tuyển tập dày gần 900 trang này, như là những đóa sen hồng Đồng Tháp. Đó là 115 tác phẩm đạt “Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Quang Diêu”, do NXB Hội Nhà văn và Hội Văn học nghệ thuật Đồng Tháp ấn hành vào cuối năm 2012.




Những “đóa sen hồng” này thuộc 6 chuyên ngành: văn học, sân khấu, âm nhạc, nhiếp ảnh, mỹ thuật và văn nghệ dân gian; là kết quả tuyển chọn từ cả nghìn tác phẩm được sáng tác từ trước 1975 đến năm 2011. Khác nhiều tỉnh thành trong nước thường in riêng các tác phẩm chuyên ngành, Đồng Tháp in chung, giúp người đọc thưởng thức được “cái đẹp Đồng Tháp” ở nhiều vẻ khác nhau. Đây là sáng tác của các tác giả chuyên và không chuyên, ở khắp mọi miền đất nước, miễn là “có giá trị cao, phản ánh phong phú và chân thật mọi mặt đời sống xã hội, thiên nhiên, con người Đồng Tháp”  như mục đích của giải thường đề ra.

Ở giải lần 1 (năm 2006), trong 62 tác giả nhận giải, có nhiều tên tuổi nổi tiếng sống ngoài Đồng Tháp. Văn học có Nguyễn Bính, Nguyễn Quang Sáng, Lê Văn Thảo, Anh Đức, Nguyễn Khải, Nguyễn Đức Mậu, Lê Giang, Lê Chí, Anh Động, Nguyễn Hữu Hiệp… Sân khấu có Thanh Nha, Phi Hùng, Thanh Huyền… Nhiếp ảnh có Lâm Tấn Tài, Lê Chí Hải… Âm nhạc có Hoàng Việt, Trịnh Công Sơn, Xuân Hồng, Lư Nhất Vũ… Mỹ thuật có Huỳnh Phương Đông, Thanh Châu, Phạm Mười… Trong tỉnh thì có Thu Nguyệt, Lê Ngọc, Nguyễn Huỳnh Hiếu, Thai Sắc, Hữu Nhân, Trần Quốc Toàn, Trọng Quí, Nguyễn Phước Thảo… (văn học); Thanh Tùng, Đặng Tiền Duyên, Nguyễn Chơn Thuần, Bạch Phần… (sân khấu); Nguyễn Văn Long, Phạm Khiêm, Vũ Loan, Phạm Đức, Nguyễn Duy Trung… (âm nhạc); Bùi Bé Tư, Khắc Hiếu, Lâm Viên… (nhiếp ảnh); Trần Công Hiến, Nguyễn Đắc Nguyên, Nguyễn Quang Trình, Dương Quản Đại, Nguyễn Thành Thu, Nguyễn Oanh… (mỹ thuật).

Tới giải lần 2 (năm 2011), trong số 53 giải thưởng, tác giả trong tỉnh đã chiếm ưu thế. Có 5 giải A, ngoài nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam và nghệ sĩ nhiếp ảnh Minh Lộc ở ngoài tỉnh, 3 giải còn lại thuộc về các tác giả Đồng Tháp trưởng thành sau 1975 là Nguyễn Thị Kim Tuyến (văn học), Phạm Khiêm (âm nhạc) và Nguyễn Oanh (mỹ thuật). Mấy chục giải thưởng khác, ngoài 6 giải của tác giả ngoài tỉnh, còn lại tất cả đều thuộc về người Đồng Tháp.

Bất kể trong hay ngoài tỉnh, những tác phẩm đoạt giải đều cho thấy Đồng Tháp đẹp và “quyến rũ” dường nào. Thí dụ như giải đặt biệt (lần 1), tác phẩm thơ được trao cho thi sĩ Nguyễn Bính với tác phẩm độc đáo mà nay ít người biết, đó là bài thơ “Đồng Tháp Mười” sáng tác năm 1949 với 4 câu mở đầu mô tả địa thế Đồng Tháp:

Bảy trăm nghìn mẫu đất
Sớt chia bốn tỉnh miền Nam
Khăng khít biên thùy Chùa Tháp
Nằm trong tay trái Cửu Long Giang


Hay như giải A thơ (lần 1) được trao cho tác giả Thu Nguyệt với tập thơ “Điều thật”. Nữ sĩ Thu Nguyệt giờ đang sống tại TP.HCM và chắc rằng vẫn tha thiết ở trong lòng hình ảnh quê nhà năm xưa:

Con mương nhỏ mỗi chiều tôi nghịch nước
Có chú lìm kìm cắn khúc ca dao
Mười năm qua không đắp không đào
Lá tre rụng, con mương sâu thành cạn
Chú lìm kìm năm xưa bỏ bạn
Xuôi ngược đâu rồi theo lời mới dân ca


Đồng Tháp vẫn duy trì giải thưởng mang tên chí sĩ Nguyễn Quang Diêu, 5 năm xét thưởng một lần. Theo lời giới thiệu của cuốn sách này, Nguyễn Quang Diêu người làng Tân Thuận, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Tân Thuận Tây, TP Cao Lãnh). Ông sinh năm 1880, tham gia phong trào Đông Du, từng bị Pháp bắt giam và đày sang đảo Guyane (Nam Mỹ) và vượt ngục sang Trinidad (thuộc địa Anh), sang Washington (Mỹ) rồi về Trung Quốc, Hồng Kông hoạt động cách mạng. Cuối đời, ông về làng Vĩnh Hòa (Tân Châu) dạy học và mất tại đây năm 1936. Nguyễn Quang Diêu đã đóng góp cho văn học nước nhà nhiều tác phẩm thơ, được học trò tập hợp thành sách, như: “Cảnh Sơn Nguyễn Quang Diêu thi văn sưu tập” (chữ Quốc ngữ), “Cảnh Sơn thi tập”, “Cảnh Sơn thi tập chi nhứt” (chữ Nôm và chữ Hán)…■


* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 2.4.1013:http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130402/nhu-sen-hong-dong-thap.aspx