Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Bàn cách quản lý lưu vực sông Mekong


(TBKTSG Online)Sau Xazaburi là gì? Đó là câu hỏi được các chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý tìm cách trả lời tại hội thảo “Khía cạnh pháp lý trong hợp tác quản lý lưu vực sông Mekong” do Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tổ chức tại Cần Thơ sáng 30-5.

TS Đào Trọng Tứ, Giám đốc Trung tâm tài nguyên nước và thích nghi biến đổi khí hậu (CEWAREC) cho biết đập Xazaburi, một trong 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong đã được Lào khởi công vào tháng 11-2012 dù trước đó Lào đã chia sẻ đề nghị của Việt Nam và nhiều nước khác nên hoãn lại trong vòng 10 năm để có đánh giá tác động môi trường hoàn chỉnh.


TS Dương Văn Ni đang trình bày tại hội thảo vào sáng ngày 30-5 tại Cần Thơ

Ông Tứ nói: “12 đập này là đập dâng, dung tích từ 200 triệu đến 2 tỉ mét khối nước/đập, sẽ tác động rất lớn đến an ninh lượng thực, an ninh nguồn nước và an ninh xã hội của 18 triệu dân vùng ĐBSCL”. Ông Tứ đề nghị: “Lào đã xây đập Xazaburi và đã coi đây là chuyện bình thường rồi thì nhà nước ta cần phải có chính sách thông suốt để các nhà khoa học tham gia thực hiện Hiệp định về Hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mekong (Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan ký năm 1995) và Công ước của Liên hiệp quốc về Luật sử dụng các nguồn nước quốc tế cho các mục đích không phải giao thông thủy ra đời năm 1997”.

Ông Tứ cũng cho biết ở thượng nguồn sông Mekong, đến năm 2040, Trung Quốc sẽ xây dựng 15 đập thủy điện lớn và đã đưa vào hoạt động 4 đập trong khi Trung Quốc không tham gia Ủy hội sông Mekong quốc tế (MRC). “Có thể nói Trung Quốc hoàn toàn chủ động sử dụng và chi phối đối với các bậc thang thủy điện ở hạ lưu vực”. TS Đào Trọng Tứ nhấn mạnh và kiến nghị: “Là quốc gia cuối nguồn, chịu tác động mạnh từ thượng lưu, Việt Nam cần có đối sách hợp lý và kiên định mới bảo đảm cho sự phát triển của ĐBSCL trong tương lai”.

Nói về vai trò của lưu vực sông Mekong, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – Đại học Cần Thơ, nhấn mạnh đây là một trong 10 con sông lớn nhất thế giới; nơi cung cấp gạo lớn nhất thế giới; có nguồn cá và đa dạng sinh học lớn thứ hai thế giới; có tải lượng phù sa thứ sáu trên thế giới (160 triệu tấn/năm) và là vùng đất có đa dạng văn hóa nhất trên giới. Ông Tuấn cho rằng “Việt Nam, đặc biệt là ĐBSCL, hoàn toàn không có hưởng lợi gì đáng kể từ các đập thủy điện trên sông Mekong” trong khi “các tổn thất sẽ đánh ngay vào 2 trụ cột kinh tế lớn nhất vùng là nông nghiệp và thủy sản”. Ngoài ra, “sự suy giảm hệ sinh thái đất ngập nước và đa dạng sinh học hoàn toàn không khôi phục được; người nghèo bị tổn thương nặng nhất, hiện tượng di cư sẽ diễn ra trên diện rộng và sẽ làm cho các biện pháp thích ứng với biến đổi khí hậu khó thực hiện”.

Tiến sĩ Dương Văn Ni (Đại học Cần Thơ), đề nghị “phải xác định lại lưu vực ĐBSCL”. Ông nói: “Lưu vực ĐBSCL không chấm dứt ở bờ biển mà bao gồm cả thềm lục địa. Thiệt hại do 12 đập thủy điện chưa tính tới lượng cá lớn bị biến mất ngoài ven biển ĐBSCL vì lượng phù sa hạ lưu sông Mekong ra đây cũng không còn”. Ông cho biết: “Malaysia ở xa phía Nam chúng ta nhưng khi nghe 12 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong sẽ được xây dựng, họ đã lo mất nguồn cá của ngư dân Malaysia”.

Là chuyên gia độc lập, trưởng nhóm Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐTM) đối với dự án Xazaburi, thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho biết nhóm của ông đã thực hiện quy trình PNPCA (thông báo - tham vấn - thỏa thuận) theo đúng tinh thần Hiệp định sông Mekong 1995. Tuy nhiên tới thời điểm tham vấn thì “Chính phủ Lào đã nộp đề xuất dự án cho MRC vào năm 2010, nhưng báo cáo ĐTM không được phổ biến cho đến tháng 3-2011 nên các chính phủ láng giềng không có đủ thời gian để chuẩn bị cho việc tham vấn”. Ông Thiện cũng cho biết, “quy trình PNPCA không có được tiếng nói của cộng đồng bị ảnh hưởng là 18 triệu dân ĐBSCL”.

TS. Lê Đức Trung, Chánh văn phòng Ủy ban sông Mekong Việt Nam, nói: “Việt Nam làm PNPCA cực kỳ gương mẫu” nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn. “Khía cạnh pháp lý trong hợp tác quản lý lưu vực sông Mekong là các nước thành viên phải dựa trên cơ sở pháp lý và khoa học thật sự và phải áp dụng PNPCA làm công cụ quốc tế để có thể xử lý những vấn đề tiếp sau Xazaburi”. Ông Trung nhấn mạnh và cho biết sẽ mời Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ tham gia vào ủy ban này. ■

==========================
Bài đã đăng trên TheSaigontimes.vn:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/sukien/97199/Ban-cach-quan-ly-luu-vuc-song-Mekong.html

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2013

Cuốn sách “nhất nghệ tinh”



“Với cuốn sách này, như cựu giám đốc Vinappro Lê Tùng Hiếu, người từng học ở Đức nhận xét, một thợ cơ khí ngồi ở ĐBSCL có thể mở cửa hàng cơ khí, và biết kinh doanh thế nào”, TS Nguyễn Xuân Xanh, đồng dịch giả, đã nói như vậy về cuốn sách Chuyên ngành cơ khí, vừa được NXB Trẻ và Quỹ Thời báo kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation) phối hợp với Ủy ban Tương trợ người Việt Nam tại CHLB Đức (VSW) ấn hành. Sách dày 625 trang, giá 560.000 đồng.



20 chuyên gia thuộc VSW từng làm việc lâu năm trong môi trường kỹ nghệ ở Đức đã mất hơn 2 năm để dịch và hiệu đính cuốn sách này, từ nguyên tác tiếng Đức Fachkunde Metall - được viết bởi 9 đồng tác giả là những kỹ sư và giáo viên chuyên ngành người Đức. Đây là cuốn sách dạy nghề bán chạy nhất của NXB chuyên ngành nổi tiếng Europa-Lehrmittel, đã được dịch ra 20 thứ tiếng và hiện đang dùng trong  chương trình giảng dạy của hầu hết các trường kỹ thuật tại CHLB Đức.



Vì sao lại chọn sách Đức để dịch? Những người làm sách cho biết: “Nước Đức nổi tiếng thế giới về cơ khí máy móc với hệ thống dạy nghề vừa học vừa làm rất thiết thực, điều này thể hiện rõ trong sách học nghề của họ mà điển hình nhất là tủ sách nghề của NXB Europa-Lehrmittel mà chúng tôi đã mua bản quyền để xuất bản tại Việt Nam lần này”. Đây là cuốn đầu tiên trong “Tủ sách học nghề Nhất Nghệ Tinh”, nhằm “đáp ứng phần nào nhu cầu cấp bách về lực lượng công nhân lành nghề được đào tạo bài bản cả về lý thuyết lẫn thực hành tại Việt Nam”. 2 cuốn sẽ ra đời tiếp theo thuộc về lĩnh vực điện và chất dẻo.

Trong lời giới thiệu sách, PGS-TS Dương Đức Lân, Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB-XH) và TS Horst Sommer, Tổ chức Hợp tác quốc tế CHLB Đức (GIZ), cùng nhấn mạnh: “Vừa qua, Bộ LĐ-TB-XH Việt Nam đã phê duyệt danh mục các nghề trọng điểm để hỗ trợ đầu tư đạt cấp độ khu vực ASEAN và quốc tế, trong đó có các nghề thuộc lĩnh vực cơ khí. Bởi vậy, chúng tôi rất vui mừng giới thiệu cuốn sách Chuyên ngành cơ khí bằng tiếng Việt... Tất cả các thông tin cơ bản về kỹ thuật kim loại đều được thể hiện trong cuốn sách này”. Ngay sau ngày sách phát hành (9.4), văn phòng GIZ tại Hà Nội đã đặt mua 200 cuốn để tặng các trường dạy nghề ở Việt Nam. 

Chuyên ngành cơ khí có 8 chương, nói về quản lý chất lượng, kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật vật liệu, kỹ thuật máy và thiết bị, kỹ thuật tự động hóa, kỹ thuật công nghệ thông tin, kỹ thuật kiểm tra độ dài và kỹ thuật điện. Ngoài ra, sách còn có 13 phần thực tập và thư mục thuật ngữ bằng 3 thứ tiếng Việt, Đức và Anh. Tất cả các nội dung này được trình bày gọn gàng, khoa học và đặc biệt là ở bài nào cũng đều có kèm bảng vẽ kỹ thuật, bảng biểu và hình minh họa in 4 màu rất dễ hiểu. 

Cụ thể, có 8 đối tượng mà quyển sách này nhắm đến: công nhân chuyên về cơ khí công nghiệp và chế tạo dụng cụ; công nhân chuyên về sản xuất; công nhân chuyên về gia công cắt gọt kim loại; kỹ thuật viên đồ họa; quản đốc và kỹ thuật viên; người có kinh nghiệm thực hành trong kỹ nghệ và thủ công; thực tập sinh và sinh viên; giáo viên trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.

Là đồng dịch giả, TS Nguyễn Xuân Xanh cho biết: “Xã hội Việt Nam vẫn chưa trọng lao động tay chân có kỹ thuật, tổ chức, mà vẫn còn trọng vọng hư danh, bằng cấp. Chăm lo đào tạo những thợ chuyên nghiệp, kỹ sư hiện đại, xem trọng vai trò của họ, có những chính sách lương bổng xứng đáng, đó là mệnh lệnh bức thiết hiện nay”. Ông kỳ vọng: “Nếu xuất bản xong loạt này, Việt Nam sẽ có khoảng năm sáu ngàn trang sách dạy nghề theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, góp phần cho các cơ sở đào tạo nghề Việt Nam có giáo trình, tư liệu hiện đại nhất, đúng chuẩn quốc tế trong việc đào tạo nghề chất lượng cao, giúp các sinh viên, thợ thủ công có điều kiện nâng cấp tay nghề”.

Về phần mình, dù không theo nghề cơ khí, nhưng sau khi đọc, chúng tôi thấy, quyển Chuyên ngành cơ khí này như một cuốn “cẩm nang nghề” mà người thợ cơ khí yêu nghề nào cũng có thể thủ đắc để “nhất thân vinh” theo cách “nhất nghệ tinh”. ■



Bài đã đăng trên báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130528/cuon-sach-nhat-nghe-tinh.aspx

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Chuyện anh Tùng in thơ trong nước



Giữa tháng 3 rồi, tôi nhận được email từ Pháp của TS. Nguyễn Tùng: “Cách đây vài tuần, tình cờ tôi tìm lại được hơn ba mười bài thơ viết vào cuối năm 1982 và chưa cho đăng ở đâu cả. Tôi bỗng nảy ra ý cho xuất bản ở trong nước toàn bộ thơ của mình mà phần lớn đã đăng trong các báo Việt kiều ở Pháp (Gió Nội, Tập san Khoa học xã hội và Đoàn Kết), chủ yếu để tặng bạn bè làm kỷ niệm. Nay xin gửi cho anh bản thảo hai tập "Dấu chân không" (đã xuất bản ở Paris năm 1984) và "Nhật ký trong tình" để anh đọc chơi cho vui và góp ý kiến. Nếu anh có kinh nghiệm gì về việc xuất bản thơ ở trong nước, thì xin "tư vấn" cho tôi nhé. Chắc là hơi khó xuất bản, vì trên cả thế giới rất ít người mua sách in thơ!”.



Đọc xong bản thảo hai tập thơ ký tên Đan Tâm của anh Nguyễn Tùng, tôi gởi email “tư vấn” anh nên xuất bản trong nước: “Có hai cách, hoặc do NXB tự kinh doanh hoặc tác giả xin giấy phép NXB rồi tự ấn hành. Làm cách thứ 2 dễ hơn; chỉ khó là làm sao bán được để thu hồi vốn. Còn nếu tác giả chỉ muốn in để tặng bạn bè thì càng dễ. Cả hai cách đều bắt đầu từ lúc gởi bản thảo cho nhà xuất bản. Thí dụ, Đan Tâm muốn làm cách thứ 2 thì xin hãy chuẩn bị bản thảo mail về cho NXB, sau khi có giấy phép thì tự lo in ấn, phát hành”.

Hổng dè anh làm nhanh quá. Ngày 21-4 rồi, anh gởi email cho biết: “Tôi đã nhờ một anh bạn giúp in cuốn thơ của tôi ở NXB Lao Động, tốn cả thảy 11 triệu đồng cho 500 bản”. Tiếp đó, anh nhờ người gửi về Cần Thơ cho tôi 15 tập với lời nhắn qua email: “Nhờ anh ký tặng bạn bè ở miền Tây, nhớ nói là tôi ở xa nên nhờ ký tặng để làm quen” – thật là dễ thương, trong khi chính tác giả chỉ mới nhìn thấy ảnh bìa qua email chứ chưa nhận được tập thơ của mình.

Anh Nguyễn Tùng quê ở Điện Bàn, Quảng Nam, qua Pháp học xã hội học, dân tộc học và triết học ở Đại học Sorbonne. Anh chuyên nghiên cứu văn hóa Việt Nam, dạy ở Đại học Paris-Diderot và từng làm việc hơn 30 năm ở Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học (CNRS, Pháp). Cộng tác với nhiều tờ báo trong nước như Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Sài Gòn Tiếp Thị, Xưa & Nay, Thanh Niên, Tuổi Trẻ… anh ký tên Nguyễn Tùng; làm thơ thì lấy bút hiệu Đan Tâm.

Dấu chân không và nhật ký trong tình” có 93 bài thơ, trong đó có 9 bài anh Nguyễn Tùng dịch thơ của Lorca, Mayakovsky, Aragon và Neruda. Với “Dấu chân không”, Đan Tâm tự bạch: “Chúng là dấu vết mờ nhạt của một quãng đời đầy tiếng ồn và cuồng nộ”. Đời như vậy nhưng vào thơ thì nghe nhiều những ám ảnh của nội tâm. Như bài Mùa đông viết năm 1963 ở Paris, chỉ có 4 câu: con chim con / khát khao / ánh sáng mặt trời mùa xuân / đã chết / mùa đông dài vô cùng. Hay bài thơ Dấu vết anh viết trong mùa thu Paris 1966: con chuồn chuồn thơ ấu / bay mất / trong cơn mơ đêm qua / để lại giọt nướt mắt / đọng khô trên má. Còn trong bài Ngày trở lại viết năm 1967, có hai đoạn mở và kết như nỗi ám ảnh tình cảnh quê nhà: ngày trở lại có nắng lên trên mạ / có mây bay về đắm giữa xanh trời / anh sẽ đặt những bước chân rụng lá / vì thưa em vạn vật sắp lên lời /… ngày trở lại giữa quê hương đổ nát / (những rào tre rụi cháy gió thôi bay) / nghe hy vọng reo vang trong tiếng hát / thưa bà con, tôi xin góp đôi tay.

Còn “Nhật ký trong tình” được viết vào cuối năm 1982 và theo như lời tác giả, đó là “chứng tích” sau lần anh và một người bạn thân “lạc vào chốn thiên thai ngay giữa Sài Gòn và gặp một nàng tiên tóc ngắn mà, sau đó, tôi chưa từng cầm tay!”. Thảo nào, họa sĩ Phạm Quốc Tuấn ở Paris đã vẽ được bức tranh màu tím “nàng tiên tóc ngắn” mà giờ đây người trình bày sách ở nhà đã lấy đưa lên bìa tập thơ này. Đọc những dòng “nhật ký” của thời mà tác giả vào tuổi bốn mươi, như trong bài Cảm ơn, có những câu buồn thương như thế này: Cảm ơn em đã làm lòng anh trẻ lại / ở tuổi bốn mươi / khi đã bước vào buổi chiều của cuộc đời / cảm ơn em / đã khiến anh lại có được những tình cảm vụn vặt và nông nỗi.

Giờ thì anh Nguyễn Tùng đã bước qua tuổi bảy mươi, đang nghỉ hưu ở Pháp, năm nào cũng về thăm quê nhà. Cuối năm ngoái anh đưa cả gia đình về thăm Cần Thơ. Ai cũng thích chợ nổi Cái Răng và chụp hình rất nhiều tại ngôi nhà cổ ở Bình Thủy, nơi được chọn đóng phim Người Tình, tác phẩm nổi tiếng của Pháp. Lúc đó, chưa nghe anh Nguyễn Tùng nói gì tới chuyện in thơ ở Việt Nam. ■

* Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên thứ Bảy, 17-5-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130518/nguyen-tung-in-tho-trong-nuoc.aspx

Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Đọc lại Thần thoại Hy Lạp

Lạc Long
 
Nền văn minh Hy Lạp cổ đại được xem như một trong những cái nôi của văn minh nhân loại với những công trình kiến trúc ấn tượng, các giá trị triết học, nghệ thuật và nền văn hóa hoàng kim một thời. Trong đó, có một di sản lớn, đó là kho tàng những câu chuyện thần thoại.
Đọc bộ Thần thoại Hy Lạp (Nguyễn Văn Khỏa biên soạn - NXB Văn học, 2004) hồi còn học lớp 9, nó đã thôi thúc lớp trẻ chúng tôi lòng ham mê khám phá cuộc sống. Giờ đây, bước vào tuổi thanh niên, đọc lại bộ sách này, tôi càng hiểu, vì sao những câu chuyện “thần thoại” này lại có thể tồn tại hàng nghìn năm trong lòng người, bất kể thuộc nền văn hóa nào.




Thần thoại Hy Lạp được hình thành trong khoảng thời gian khá dài, từ năm 2.000 - 1.100 trước Công nguyên. Mới đầu là chuyện truyền miệng; về sau được ghi lại khi có chữ viết. Thần thoại Hy Lạp tập hợp những câu chuyện kể, truyền thuyết về sự hình thành của thế giới, sự ra đời của các vị thần và sự có mặt của con người trên mặt đất. Những câu chuyện thần thoại mô tả về một thế giới mà trung tâm là ngọn núi Olympia do vị thần tối cao Dớt cai trị; sự tranh đấu của con người qua truyền thuyết về các vị anh hùng tiêu biểu như Hêraclex, Akhin… Những vị thần trong thần thoại Hy Lạp được mô tả hết sức sống động và giống với hình tượng của những con người trên trần gian, cũng có đủ vui buồn giận dữ, thương yêu thù hận… Có thể nói, cái gì thuộc về con người cũng đều thấy xuất hiện qua các vị thần linh trong truyện kể. Hết thảy, không phải là những nhân vật hoặc câu chuyện được “đóng khung” khô cứng mà như chính bản chất cuộc sống, đều “trôi chảy như dòng sông”. Đọc Thần thoại Hy Lạp, trong lòng ta thường vương vấn những niềm ước mơ, khát vọng sống tốt đẹp hơn.

Cho nên dễ hiểu, trong chặng đường dài phát triển của lịch sử nhân loại, ta thường thấy có dáng dấp những câu chuyện trong thần thoại Hy Lạp. Thời cổ đại, những bức vẽ, bức tượng được tạc theo nguyên mẫu các nhân vật trong truyện. Thời phục hưng, rồi đến thế kỷ 17, 18, 19 và cả sau này, những đề tài, cốt truyện, nhân vật, điển tích của thần thoại này vẫn tiếp tục được khai thác trong sân khấu, văn chương, phim ảnh… Sự tồn tại và sức ảnh hưởng sâu rộng của thần thoại Hy Lạp chính do những giá trị nhân văn vốn có của nó. Đó là cái nền thiện thắng ác, là căn tính chân - thiện - mĩ gắn với nhân tính, lý tưởng sống… mà xã hội, chính thể nào của con người xưa nay cũng đều hướng tới.

Tính nghệ thuật đầy chất thi ca của thần thoại Hy Lạp như một yếu tố góp phần vào sự thành công của bộ truyện nổi tiếng này. Rồi tính triết lý của từng câu chuyện; thần thoại Hy Lạp phát triển đồng thời với sự phát triển của các tư tưởng triết học cổ đại nên qua bộ truyện, các tư duy lý luận, tư duy hình tượng… đã kết hợp và biến hóa vừa hài hòa, vừa chặt chẽ, tạo nên một bộ thần thoại mà cho đến hôm nay, người ta vẫn đánh giá đó là bộ danh tác huy hoàng của không riêng Hy Lạp. Xin trích dẫn một đoạn trong chương “Đêmêter truyền nghề cho Tơriptôlen”:

Hạt lúa mì gieo xuống đất, được đất đen ấp ủ, nuôi dưỡng. Đất đen đã đem cuộc sống của mình ra để chăm nom cho cuộc sống của hạt lúa mì. Con người cũng vậy, con người sống trên mặt đất, được đất đen đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng. Hơn nữa lại nuôi dưỡng con người bằng cuộc sống của hạt lúa mì. Con người cứ thế sống, sinh sôi, nảy nở, con đàn cháu đống cho tới khi con người từ giã cõi đời. Khi con người trở về với đất, sống trong lòng đất, biến thành đất. Từ đấy con người đem cuộc sống của mình ra nuôi dưỡng lại cây cỏ… Cứ như vậy, sinh sinh hóa hóa tuần hoàn. Cái chết đối với con người là sự tiếp tục cuộc sống khác, cuộc sống vẫn có ích cho đồng loại… Như vậy là cõi chết chẳng có gì đáng sợ, đáng coi là khủng khiếp, thảm họa… Tạo hóa - sáng tạo và biến hóa - biến hóa và sáng tạo - mọi thứ cho cuộc sống vĩnh hằng, bất diệt”.

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130514/doc-lai-than-thoai-hy-lap.aspx

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Mở ra cuộc sống




Lạc Long


Trong cuộc sống cũng như trong giao tiếp hằng ngày, đôi khi ta bắt gặp những thành ngữ, tục ngữ, ca dao, những điều tín ngưỡng hay những nhân vật, địa danh… chưa quen hoặc đã bị lãng quên khiến cho ta bối rối. Lúc đó, ta thường nghĩ đến việc nhanh chóng tìm được câu trả lời từ một quyển từ điển hay là từ bạn bè, người thân. Như một cuốn từ điển bỏ túi, quyển sách Cửa sổ tri thức (NXB Văn hóa - Văn nghệ, quý 2.2013) của PGS-TS Lê Trung Hoa có thể giúp chúng ta giải quyết được những “bối rối” này một cách thú vị và bổ ích.




Cuốn sách tập hợp 159 câu hỏi - đáp được bạn đọc báo chí quan tâm liên quan tới nhiều lĩnh vực như văn hóa, lịch sử, địa chí, ngôn ngữ… Để trả lời được những câu hỏi này, tác giả phải dựa vào một kiến thức sâu rộng từ một sở học bài bản. PGS-TS Lê Trung Hoa sinh năm 1947, chuyên môn trong lĩnh vực ngôn ngữ học và văn hóa học; là tác giả của nhiều cuốn sách chuyên ngành như: Mẹo luật chính tả (1984), Thú chơi chữ (1990), Địa danh ở TP.HCM (1991), Họ và tên người Việt Nam (1992), Từ điển TP.Sài Gòn - Hồ Chí Minh (2001), Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam bộ và tiếng Việt văn học (2003), Địa danh học Việt Nam (2006)…

Với cuốn Cửa sổ tri thức này, tác giả dường như muốn mở ra những căn nguyên của cuộc sống ở quanh ta với một văn phong nhẹ nhàng, lắm khi duyên dáng. Xin trích vài câu:

Tại sao ở đầu ghe thuyền, người ta thường vẽ hai con mắt? - “Điều này bắt nguồn từ một tín ngưỡng dân gian. Người xưa cho rằng ghe thuyền cũng là một sinh vật dưới nước, cần có mắt để nhìn, tránh được thuồng luồng, quái vật làm hại. Mặt khác, mắt ghe thuyền có thể giúp những người đánh cá phát hiện những ngư trường có nhiều cá. Sau cùng, các con mắt này có thể giúp những người đi buôn bằng ghe thuyền tìm được những bến bờ có nhiều tài lộc. Mắt thuyền có thể thay đổi tùy theo địa phương. Ở vùng Sài Gòn - Gia Định, mắt thuyền có màu đen và trắng vẽ trên nền đỏ; ở vùng Rạch Giá - Phú Quốc, mắt thuyền có màu đen và đỏ vẽ trên nền màu xanh”.

Tại sao gọi là “làm thinh”? -  “Âm gốc của từ tổ làm thinh là hàm thinh. Đây là từ tổ Hán Việt. Hàm có nghĩa là “ngậm” và thinh là “âm thanh”. Vậy hàm thinh có nghĩa là “ngậm âm thanh trong miệng”, tức không nói ra”.

Xin cho biết nguồn gốc cụm từ “chủ xị”? - “Nước ngọt xá xị được chế biến từ trái cây salsepreille (cây thổ phục linh). Người Việt đã gọi tắt salse thành xá xị. Dung tích của một chai xá xị là 1/4 lít. Do đó ban đầu người ta nói “một chai xá xị rượu”, rồi rút gọn thành “một xị rượu”, tức 1/4 lít rượu. Và người bỏ tiền mua rượu cho nhiều người cùng uống là chủ xị”.

Xin giải thích thành ngữ “lặng như tờ”? - “Lặng như tờ là thành ngữ rút gọn từ thành ngữ lặng như tờ giấy trải, nghĩa là rất tĩnh lặng (theo Đại Nam quấc âm tự vị, 1895-1896 của Huỳnh Tịnh Của). Vì bị rút gọn hai từ giấy trải khiến chúng ta ngày nay không rõ tờ là gì”.

Tại sao người miền Nam hay gọi đấng sinh thành là “ba”, “má”? - “Người Nam bộ cũng như Nam Trung bộ gọi cha mẹ là ba má. Ba má là hai từ có nguồn gốc từ tiếng Quảng Đông. Từ ba gồm từ phụ (nghĩa là “cha”) ở trên và từ ba (chỉ âm) ở dưới ghép lại; từ má gồm từ nữ (nghĩa là “đàn bà”) ở bên trái và từ mã (chỉ âm) ở bên phải ghép lại. Đây là kết quả của hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Quảng Đông với tiếng Việt”.

Tại sao để chỉ những nơi xa xôi, vắng vẻ, người Nam bộ thường gọi là “Hóc Bà Tó”?  - “Theo nhà văn Sơn Nam, Hóc Bà Tó là một địa danh cổ, chỉ một vùng đất thuộc tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang). Hóc là một từ cổ chỉ dòng nước nhỏ, đồng nghĩa với xẻo. Hóc trong Hóc Môn, Hóc Hươu (TP.HCM), Hóc Ớt (giữa TP.HCM và Tây Ninh), Hóc Bà Tó mang ý nghĩa này. Vậy ban đầu hóc Bà Tó chỉ dòng nước nhỏ mang tên Bà Tó (chưa rõ lý lịch bà này). Sau biến thành địa danh vùng Hóc Bà Tó. Vì Hóc Bà Tó ở một nơi xa cách khu dân cư nên dần dần trở thành tên gọi nơi xa xôi, vắng vẻ, ít người lui tới”.

 Câu nói dân gian “Ông già Ba Tri” do ai đặt? - “Câu chuyện về “Ông già Ba Tri” được ghi chép trong tác phẩm Monographie de la province de BenTre (Địa phương chí tỉnh Bến Tre - 1929), Kiến Hòa xưa và nay (1965) của Huỳnh Minh, Bến Tre trong lịch sử Việt Nam (1757-1945) của Nguyễn Duy Anh. Câu chuyện đại khái như sau: Dân làng Ba Tri và dân làng bên cạnh bất đồng nhau về việc đắp một con đập. Nếu có cái đập này, kinh tế làng Ba Tri sẽ không phát triển được nên dân Ba Tri đi kiện. Quan xử ép dân Ba Tri. Do đó, dân làng cử một ông già ra tận kinh đô Huế để khiếu nại với vua. Từ Bến Tre, ông đi bộ mấy tháng ra đến Huế và cuối cùng thắng kiện. Từ đó có thành ngữ “Ông già Ba Tri” để ca ngợi tinh thần cương trực, tôn trọng sự thật, dám đấu tranh cho lẽ phải của các cụ già. Nhưng dần dần, thành ngữ này cũng chỉ những ông già khó tính, hay tranh chấp”.

Sao kêu là “nhậu ve kêu”? - “Nhậu ve kêu là nhậu lai rai, rỉ rả, kéo dài như tiếng ve kêu suốt ngày, từ sáng đến tối”. ● 

Đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130507/mo-ra-cuoc-song.aspx

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Nơi quê nhà bình yên



Lạc Long


Trong dịp kỷ niệm 38 năm đất nước hòa bình, đọc lại từng trang tạp bút Sương khói quê nhà (NXB Trẻ, quý 1.2013), càng quý tấm lòng của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, một người trưởng thành sau ngày đất nước thống nhất, 30.4.1975. Ký ức tuổi thơ; chuyện viết văn, làm báo; chuyện về những người bạn văn hay chuyện kể từ những chuyến đi nước ngoài… với đề tài nào, tác giả cũng chan hòa cuộc sống và để lại trong lòng người đọc nhiều suy ngẫm yêu thương ở ngay trong phút giây hiện tại.




Ở phần đầu của Sương khói quê nhà, Nguyễn Nhật Ánh đưa người đọc trôi vào thế giới êm đềm của những hồi ức và cảm nhận cuộc đời qua những câu chuyện hết sức bình dị như Cây trái tuổi thơ, Trường cũ, Tản mạn trong mưa… Có một câu chuyện dễ làm cho nhiều người Quảng Nam xa quê bồi hồi, Bà ơi, bán cho con lon nén!, tác giả tả một ngôi chợ độc đáo của người dân xứ Quảng quê anh nhưng lại nhóm họp mỗi ngày ở quận Tân Bình, TP.HCM. Tác giả viết: “Chợ Bà Hoa được xem như ngôi chợ Quảng Nam giữa lòng Sài Gòn. Ở đó, có thể tìm thấy hầu như không thiếu một thứ gì của xứ Quảng: đường bát, khoai lang khô, bánh tổ, dưa gang…”. Tuy nhiên, chỉ có củ nén mới thật sự là “hàng độc” mà không phải người miền Nam nào cũng biết: “Củ nén thuộc họ hành, còn gọi là hành tăm hay hành hoa”, một đặc sản của xứ Quảng, đã làm cho món cá chuồn chiên củ nén của mẹ hồi còn bé hiện về bên cạnh hình ảnh bà bán hàng thân ái như bà nội. Cuối câu chuyện, Nguyễn Nhật Ánh viết như muốn níu lại hình bóng quê nhà: “Một ngày đẹp trời nào đó bạn ghé chợ Bà Hoa, lần bước tới sạp hàng bày các thúng chứa củ gì tròn tròn, nho nhỏ, trăng trắng và nói với bà hàng trông giống hệt bà nội bạn ở nhà: “bà ơi, bán cho con lon nén” mặc dù cho đến lúc đó, có thể bạn chưa từng nhìn thấy củ nén bao giờ!”. 

Tiếp theo, Nguyễn Nhật Ánh tập hợp 9 bài viết về những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ… hay đơn giản chỉ là một người mê sách. Đó là những người bạn văn của anh: Đỗ Trung Quân, Lê Minh quốc, Lê Giang, Lư Nhất Vũ, Nguyễn Công Khế… Trong bài Chuyện ông Vu, Nguyễn Nhật Ánh kể chuyện một người đàn ông yêu và mê sách đến mức xem công việc và sách vở như cuộc sống của mình. Anh viết: “Làm sách, với Nguyễn Thắng Vu từ lâu đã không cỏn là công việc. Đó là tình yêu của ông. Còn hơn thế nữa, là cuộc sống của ông. Sách là bầu khí quyển quen thuộc mà rời khỏi nó, ông giống như cá rời khỏi nước”. Trong câu chuyện Nhớ Chim Trắng - người chờ hoa rụng, Nguyễn Nhật Ánh, một nhà văn trẻ tài hoa nổi tiếng, đã nói về một bậc đàn anh: “Khi nghĩ về nhà thơ Chim Trắng, tôi thường nghĩ nhiều hơn về con người ông, về sự chăm lo chu đáo, về tình cảm ông dành cho các cây bút trẻ. Tôi chưa thấy một nhà thơ đàn anh nào quý trọng các cây bút trẻ như Chim Trắng”.

 Tác giả dành phần cuối kể chuyện về những chuyến đi nước ngoài; có khi là đi chơi hay đi giao lưu khi sách của mình được dịch ra tiếng nước ngoài hoặc đi hội chợ sách. Tác giả đưa người đọc chu du từ Á sang Âu rồi qua Mỹ như những nhịp cầu nối liền Việt Nam và thế giới, với cái nhìn rất riêng. Trong câu chuyện Lang thang Paris, Nguyễn Nhật Ánh tả một buổi tối cuối tuần: “Tối chủ nhật, trời Paris mưa và lạnh (mưa cuối năm ở Paris rất lạ: cứ mưa nửa tiếng lại tạnh nửa tiếng, rồi lại mưa nửa tiếng, cứ thế) nhưng đại lộ Champs-Élysées vẫn đông nghịt người qua lại. Hầu như tất cả đều mặc áo măng-tô hoặc áo khoác đen”. Hay như trong ngày lễ Noel ở Mỹ: “Họ rút hết vào trong nhà chứ không đổ ra đường như dân Việt Nam. Cho nên ở Mỹ trong những ngày này, trừ các khu giải trí dành cho khách du lịch, hổng thấy dấu hiệu gì của lễ hội vui chơi. Ở các khu phố của Mỹ, không khí vẫn bình lặng như ngày thường”.

Nguyễn Nhật Ánh là nhà văn chuyên viết sách cho tuổi thơ với nhiều tác phẩm nổi tiếng như bộ truyện Kính vạn hoa (54 tập) hoặc Mắt Biếc, Chuyện cứ Lang Biang, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Đảo mộng mơ… Tác giả đã được trao nhiều giải thưởng văn học trong nước và giải thưởng văn học ASEAN vào năm 2010. Anh sinh năm 1955 tại huyện Thăng Bình (Quảng Nam); từng là giáo viên, thanh niên xung phong và hiện làm việc ở báo Sài Gòn giải phóng. Dù đã tập sáng tác từ trên ghế nhà trường trước 1975, nhưng toàn bộ hơn 100 tác phẩm văn học của Nguyễn Nhật Ánh đều được sáng tác trong thời đất nước hòa bình; có tác phẩm như bộ truyện Kính vạn hoa đã được in hơn một triệu bản, kỷ lục trong làng văn nước nhà.

Riêng với quyển tạp bút Sương khói quê nhà này, tựa một góc nhỏ về quá khứ và hiện tại của xã hội Việt Nam 38 năm qua với một bút lực - như lời nhà thơ Ý Nhi: “Nguyễn Nhật Ánh dẫn dụ người đọc bởi kiến thức đời sống sâu rộng, óc quan sát tinh tế, sự liên tưởng độc đáo và một văn phong giàu cảm xúc, sáng sủa, đĩnh đạc”. 

* Bài đã đăng Báo Thanh Niên 30-4-2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130430/doc-sach-noi-que-nha-binh-yen.aspx