Thứ Ba, 30 tháng 7, 2013

Đọc sách: Đồng Tháp thơ…


Huyền khúc Đồng Tháp Mười là tuyển tập thơ ra đời nhân đại hội Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đồng Tháp nhiệm kỳ 2012-2017. Khép lại gần 250 trang sách với 154 bài thơ của 46 tác giả, có thể chia sẻ với nhận xét của Tao Đàn ở phần giới thiệu sách: “Huyền khúc Đồng Tháp Mười như là một khúc hát ngân vang vào quá khứ và vọng dài tới tương lai”.



Dường như nhà thơ Thai Sắc đã nhìn lại quá khứ từ trên đỉnh tháp canh Vườn quốc gia Tràm Chim Tam Nông khi mở đầu bài thơ Huyền khúc Đồng Tháp Mười: Dạo xanh đỉnh rừng tràm nguyên sinh/ Lấm tấm móc đơn móc kép/ Trắng cánh cò/ Nốt lặng đen/ Ký ức/ Hồng hoang Đồng Tháp Mười / Vương quốc hòa âm lửa. Chất phác hơn trong Vùng quê tôi sinh ra, Nguyễn Hòa Hiệp viết: Tôi sinh ra giữa một vùng quê/ Giăng trắng cánh đồng cơn mưa mùa lũ/ Chồng cố vịn tay chèo qua cuộc sống/ Vợ ru con bềnh bồng hoàng hôn. Cũng trong mùa nước nổi ấy, Lê Minh Hùng cảm thức thành Mùa nước - mùa em. Anh nhìn thấy: Em lội ruộng lộ tròn bắp trắng/ Phù sa sông Tiền thoa mấy ngấn son. Rồi kể tiếp: Mùa nước lên đồng mênh mông trăng/ Giữa khuya khoắt đã ồn ào chợ nổi/ Cá linh đổ làm tóc em rối/ Lấp lánh đầy ghe sao chổi mang về. Với Nguyễn Giang San, trong Tam Nông đêm gió chuyển, chợt thảng thốt: Bất ngờ gặp giữa Tam Nông/ Ánh trăng trĩu chín đầu bông lúa vàng. Còn với nhà thơ Hữu Nhân, trong Tôi lớn lên trên cánh đồng này III, anh mở đầu: Cánh đồng phía sau nhà tôi có từ thời dòng sông lở bồi theo từng mùa lúa trổ; và day dứt ở cuối bài: Nợ với đất đai này cả đời tôi không sao trả hết/ Cánh đồng phía sau nhà vẫn cõng mãi thơ tôi.

Vùng Đồng Tháp Mười thuộc hai tỉnh Đồng Tháp và Long An. Chắc là cảnh cộ trâu (trâu kéo lúa) bên Long An cũng giống cảnh này bên Đồng Tháp, như cái nhìn của Lê Minh Hùng hồi năm 2009: Rải rơm vàng giữa ruộng thành đường/ Cộ trâu xếp đầy bao lúa thơm/ Anh trai quê nằm cao ngất ngưởng/ Lấy roi tre khèo vành trăng non. Độc đáo hơn là tình cảm này: Người mời trâu uống nước mía tươi/ Cho chân cứng rướn hơi thật khỏe. Còn nhà văn Trần Quốc Toàn đã Ghi trên thuyền rước dâu ở Đồng Tháp cảnh này: Con sông đã đỏ phù sa/ Chở con thuyền cưới đỏ hoa đỏ cờ/ Ô môi nở đỏ đôi bờ/ Ngày lành in thắm một tờ lịch hoa.

Ở những vùng quê đó, bây giờ ra sao? Nguyễn Giang San kể vào năm 2011: Quê mình giờ khát lũ lắm em ơi/ Hôm nước tràn đồng mẹ mừng khôn kể/ Mấy năm rồi thiếu phù sa đỏ/ Cha trét xuồng chỉ úp ở vườn sau/ … Anh cắm sào dưới đám mây sẫm màu / Ngắm đàn ròng ròng vẫy đuôi về quá khứ (Dưới đám mây sẫm màu). Bạn trẻ Ngọc Điệp, trong bài Học trò vùng quê, đã ghi lại cảm xúc trong mùa thi tốt nghiệp THPT năm 2008: Lớp học kề chân ruộng lúa/… Tay cầm bút cứng đơ mỗi vụ vào thu hoạch/ Học trò vùng quê kỹ thuật cấy trồng thạo hơn lý thuyết của thầy cô.

Và cái tình Đồng Tháp Mười ấy vẫn đang trôi chảy trong những người con xa quê hay đang sống giữa quê nhà với những tâm thức khác nhau. Với Trần Minh Tạo: Mỗi sáng mở mail/ gặp một dòng sông lặng lẽ mênh mông chảy qua trước mắt/ … anh sợ mình sẽ cháy mất! (Dòng sông chảy qua màn hình computer). Với Lê Minh Chánh: Mười năm vót cọng dừa bện chổi/ Đi chán về ôm chổi quét sân/ Quét sạch chiều cho hoa nắng rụng/ Rồi nhìn mỏi mắt một sân không… (Màu hoa cũ). Với nữ sĩ Thu Nguyệt: Vách lòng ướt đẫm giọt tuôn/ Mái tim chống chếch gió luồn rát môi/ Mưa xong, gió cũng đi rồi… / Lều ta, buồn vẫn cứ ngồi co ro! (Lạnh lì). Với Thai Sắc: Dáng đứng nông phu/ Từ vạch nhịp/ Nối đều khoảng cách/ Giữ cho bản sonate Đồng Tháp Mười/ Dào dạt muôn sau. Riêng bạn Ngọc Điệp, chơn chất tình cảm học trò tuổi thanh niên: Từ trên cánh đồng/ Học trò vùng quê nung nấu niềm mơ ước/ Đổi mới làng quê. Đổi mới tương lai. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130730/doc-sach-dong-thap-tho%E2%80%A6-30-7-2013.aspx

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Đọc Hồ Biểu Chánh


Quãng 10 năm nay, sách của nhà văn Hồ Biểu Chánh được tái bản nhiều; gần đây, một số tác phẩm văn học phản ánh đặc sắc xã hội Nam bộ đầu thế kỷ 20 của ông cũng được dựng phim. 

Vì sao trong thời buổi “số hóa” hôm nay, cái “cốt cách quê mùa” trong văn chương Hồ Biểu Chánh lại phục sinh trong lòng người mạnh như vậy? Có thể tìm được câu trả lời qua cuốn Hồ Biểu Chánh - người mở đường cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại của nhiều tác giả, do NXB Văn Nghệ ấn hành từ tháng 3.2006, mà nay không còn thấy trong nhiều nhà sách.




Trước hết, xin đọc đoạn văn cụ Hồ Biểu Chánh miêu tả cảnh chợ đêm ở Sài Gòn năm 1937 mà tập sách này trích in ở bìa 4 như một điển hình về văn phong của cụ: “Tại các cửa lớn, người ta tụ lại chật nức, trai chải dầu láng mướt, gái thoa môi đỏ lòm, già ngậm thuốc điếu phì phà khói bay tưng bừng, mẹ dắt tay bầy con, đứa chạy trước nghinh ngang, đứa theo sau núc ních, kêu nhau inh ỏi, tốp chen lấn mua giầy, tốp ùng ùng vô cửa, người mặc y phục đàng hoàng, chung lộn với kẻ bình dân lao động không ai ngại chi hết, mà coi ra thì trên gương mặt mỗi người đều có vẻ hân hoan hớn hở…”. 

Không phải ngẫu nhiên mà nhóm chủ biên cuốn sách này (Trang Quan Sen, Phan Tấn Tài, Nguyễn Văn Nở) đã khẳng định ngay ở lời đầu sách: “Nếu Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… là những người tiên phong đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ thì Hồ Biểu Chánh là một trong những người đã làm cho chữ Quốc ngữ được phong phú. Ông thuộc vào một số rất ít nhà văn Việt Nam đã sử dụng những từ ngữ bình dân một cách tự nhiên, phản ánh trung thực tâm tình và tâm lý của người dân bình dị và nhờ đó các truyện viết của ông dễ gây xúc động cho người đọc”. Và: “Tiểu thuyết của ông là một bức tranh sống động về phong tục và cuộc sống người dân miền Nam bằng chữ trong thời kỳ đầu của thế kỷ 20”.

Có 21 bài viết về Hồ Biểu Chánh trong tập sách này, đầy đủ từ thân thế sự nghiệp đến tác phẩm. Trong bài Hồ Biểu Chánh - cây cầu nối những giá trị cổ truyền với con người hiện đại, sau khi phân tích các tác phẩm, nhà văn Hoài Anh nhấn mạnh: “Bản thân Hồ Biểu Chánh đã đóng trọn vai trò một cây cầu: bắc ngang văn học cổ với văn học hiện đại, bắc ngang những giá trị tinh thần truyền thống với con người trong xã hội văn minh vật chất”. Thạc sĩ Huỳnh Thị Lan Phương đã tìm thấy bốn lối phản ánh hiện thực trong tác phẩm của Hồ Biểu Chánh: hiện thực về nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu ở Nam bộ đầu thế kỷ 20 (những tác phẩm như Thầy thông ngôn, Một chữ tình, Ngọn cỏ gió đùa, Con nhà nghèo, Nợ đời, Cười gượng, Ai làm được, Cay đắng mùi đời, Lạc đường, Ông cử, Vì nghĩa vì tình); hiện thực về giai cấp địa chủ phong kiến (Khóc thầm, Con nhà nghèo, Cha con nghĩa nặng, Chúa tàu Kim Qui, Ngọn cỏ gió đùa); hiện thực về thế lực đồng tiền trong xã hội đương thời; và hiện thực về tình trạng giằng co giữa hai lối sống cũ và mới của con người Nam bộ. Rồi tác giả nhận xét: “Nhìn chung, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh tập trung phản ánh hiện thực thuộc về đạo đức, chưa đề cập đến những vấn đề thuộc lĩnh vực chính trị… Ông tái hiện bức tranh xã hội Nam bộ không nhằm mục đích đả phá cái cũ để hô hào đi theo cái mới nhưng ông sẵn sàng tiếp nhận cái mới ở những điểm phù hợp với quan niệm truyền thống”.

Sách còn có một bài nghiên cứu độc đáo của Giáo sư Nguyễn Văn Trung , Les Misérables của Victor Hugo và Ngọn cỏ gió đùa của Hồ Biểu Chánh, trong đó tác giả so sánh rành rẽ từ khung cảnh xã hội, lịch sử đến tư tưởng chủ đề và các nhân vật chính của hai tác phẩm này. Từ đây, tác giả kết luận: “Tuy mô tả cuộc chiến đấu với chính mình một cách khác nhau, cả hai nhà văn đều thực hiện được điều mà chúng tôi gọi là “sứ mệnh của nhà văn”, làm cho người đọc ở những hoàn cảnh khác nhau thuộc những dân tộc văn hóa khác nhau cảm thấy xúc động mãnh liệt trước những gì là nhân loại, tình người quảng đại và cao quý nhất, đáp lại những thách thức của thân phận ở đời và sau cùng, của cái chết”.

Hồ Biểu Chánh tên thật là Hồ Văn Trung, sinh ngày 1.10.1885 tại tỉnh Gò Công (nay là Tiền Giang). Sau khi đậu bằng Thành chung năm 1905, ông làm thông ngôn và cuối đời được thăng chức Đốc phủ sứ. Năm 1946 ông nghỉ hưu và dành trọn quãng đời còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4.11.1958 tại Phú Nhuận, Sài Gòn. Hồ Biểu Chánh viết văn từ năm 1910; tiểu thuyết đầu tay, Ai làm được, ra đời năm 1912; tiểu thuyết cuối cùng viết dở dang là quyển Hy sinh. Tổng cộng ông có hơn 130 tác phẩm, một con số ít có nhà văn Việt Nam nào đạt được, bao gồm 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn và truyện kể, 2 truyện dịch, 12 hài kịch và ca kịch, 5 tập thơ và truyện thơ, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu, phê bình.



Thú vị hơn là nhóm chủ biên (do Tiến sĩ Trang Quan Sen, Việt kiều Đức chủ trì) còn lập riêng trang web www.hobieuchanh.com và đã dành 44 trong số 352 trang sách này để soạn 3 phụ lục: tác phẩm Hồ Biểu Chánh sắp theo thời gian; tác phẩm Hồ Biểu Chánh sắp theo mẫu tự và cuốn “tự điển mini” về từ ngữ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh - kiểu như từ chật nức được trích ở trên. ■


Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 23.7.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130723/doc-ho-bieu-chanh.aspx

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Nỗi buồn có ích


Theo chủ trương “duyệt phim con heo” của Ban tuyên giáo tỉnh nọ, để có góp ý về “sự tác hại” của loại phim này, ba người nữ (có hai còn là con gái) buộc phải ngồi xem một phim sex bên cạnh nhiều người nam nữ khác, phần nhiều là cán bộ viên chức nhà nước. Từ đầu tới cuối buổi phim, thế giới nội tâm của họ gần như là một cuộc phản kháng cái chủ trương kinh dị ấy.

Cuối câu chuyện, thái độ của Thùy, một trong ba nhân vật nữ, như sôi cháy lên: “Chị giận dỗi lên xe, không biết giận gì, chỉ thấy lòng tràn ngập giận dữ và đau buồn. Buồn không biết nói sao cho hết. Cái lũ đóng phim, cái lũ làm phim, cái lũ bán phim và cái lũ đã bắt những người như chị ngồi xen với đàn ông để xem chúng bằng màn ảnh rộng giữa thanh thiên và bạch nhật. Thực sự chị muốn tru lên, như một con chó hoang - có những lúc không phải thét hay rú hay khóc nấc lên mà là tru lên thì mới đáng và mới thỏa”.

Trước đó, giữa hội trường phim đang chiếu: “Cô bạn nhà báo non rú khẽ lên rồi lấy nón vải úp lên mặt. Cô gái già ở Phụ nữ tỉnh trố mắt, không chớp, không cử động, như vừa bị phang một cú trúng ngực, không cả thở. Thực sự Thùy không dám quan sát những người ngồi rải rác chung quanh, chị thấy mình như bị lột trần, dưới bao nhiêu đôi mắt cử tọa đàn ông kia. Sao chúng tôi có thể bị đối xử như vậy? Sao họ nỡ cho chúng tôi ngồi xem phim sex với bao nhiêu người đàn ông quen biết giữa ban ngày ban mặt như vậy? Họ định tra tấn chúng tôi bao lâu nữa, cái thứ phim tham khảo này? Mỗi phút là bao nhiêu cử động và âm thanh, ai dám chạy ù ra, để có thể bị coi là thần kinh yếu hay là đạo đức giả? Chị nghĩ, nghĩ mãi với đôi mắt mở trừng trừng, vừa căm hờn vừa choáng váng. Rồi còn “sứ mệnh” tọa đàm vào buổi chiều nữa chứ”.



Đó là truyện Chưa phải ngày buồn nhất mà nhà văn Dạ Ngân chọn làm tên cho tập truyện ngắn mới nhất của mình, do NXB Phụ Nữ ấn hành vào quý 2.2012. Đề tài của truyện sinh thành từ chuyện có thật ở một tỉnh nọ từ 20 năm trước. Cùng với 10 truyện ngắn kia, những chuyện thế thái nhân tình trong xã hội này, qua bút pháp Dạ Ngân - vốn là một cô gái theo cách mạng từ năm 15 tuổi ở quê nhà Long Mỹ (Hậu Giang) - đã được soi rọi đến tận cùng thân phận. Mà ở đó, cái nỗi buồn của kiếp người, dù có ẩn tàng đằm thắm hay phát tiết xung thiên, vẫn cứ ám ảnh không nguôi.

Đây là tập truyện ngắn thứ 7 của Dạ Ngân, dấu ấn của những năm tháng rời Hà Nội sau khi nghỉ hưu (2009) từ Tuần báo Văn nghệ về làm “cư dân mới của Sài Gòn”, như chị nói. Trước đó, tháng 8.2007, là tập truyện Nước nguồn xuôi mãi, ghi dấu “những năm tháng buồn vui với Hà Nội” của chị. Trước đó nữa, là những cuốn tiểu thuyết và truyện dài đã làm nên tên tuổi nữ sĩ Dạ Ngân: Ngày của một đời (1989), Mẹ mèo (1992), Miệt vườn xa lắm (2002) và nhất là Gia đình bé mọn (2004) đã được dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Mỹ.

Tâm sự về tập truyện Chưa phải ngày buồn nhất, chị kể: “Bốn năm cùng với ốc đảo Thanh Đa, tôi thấy mình tự do hơn khi không phải sống đời viên chức nữa. Viết báo để nuôi văn, trong khi chờ đợi cuộc sống đô thị ngấm vào, tôi nghe thấy ký ức mỗi ngày, như tiếng thở của sông dài, như tiếng gió của vườn khuya. Truyện nào trong tập này cũng dậy lên mùi hương của thời xa xưa buồn, chắc chắn các bạn sẽ bảo là buồn. Nhưng đây chưa phải là những gì buồn nhất, tôi cam đoan như vậy, khi bạn liên tưởng đến những trải nghiệm của chính bạn. Văn chương không nói chuyện vui, vì nỗi buồn bao giờ cũng hiện hữu và có ích với những ai muốn những điều tốt đẹp hơn cho con người”.

Vâng, nỗi buồn có ích, xin chia sẻ với chị Dạ Ngân, ngay cả ở đoạn này, trong truyện ngắn Vợ lính của tập truyện Chưa phải ngày buồn nhất: “Chòi cứ chung đụng, nam và nữ cách nhau một tấm liếp mỏng. Chị em tôi nằm trở đầu trong chiếc mùng đơn nhỏ xíu của tôi trên nền chòi. Cây đèn dầu trên vách, gối cao trên chiếc thùng tài liệu, tôi nhìn rõ vẻ mặt nhiều tâm trạng của em tôi sau khi nó tạm biệt chồng. Mười chín tuổi, mấy ngày trăng mật trong bom pháo, lần này nữa là lần thứ ba người vợ lính được tắm hơi chồng…”. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130716/noi-buon-co-ich.aspx

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Bông điên điển


Gởi tặng Long & Trinh câu chuyện có thật bên dưới, trong mùa lũ lụt năm 2000.




Một ổ rơm loi thoi nối với cái chái nhà lá bằng một chiếc xuồng, giữa bộn bề sóng nước Tịnh Biên, An Giang. Một đám điên điển còi cọc lơ thơ bông vàng cách ổ rơm cũng độ một chiếc xuồng. Cái gò cao nhất, cái “giang sơn tránh lũ” của ba chị em, lúc ba mẹ đi giăng câu ngoài đồng. Con chị chừng mười ba tuổi, mặc cái áo cổ lá sen, cái quần đen sủng nước, ánh mắt sáng mà buồn; hai đứa em trai nhỏ hơn chị độ bốn, năm tuổi, tóc vàng hoe, thằng anh ở trần, thằng em cười cái miệng có duyên giống chị.



Bữa nay trời êm gió, từ sáng tới giờ ba chị em phát hiện trong ổ rơm có hai chú chuột chạy lũ, ba đứa chơi trò mèo bắt chuột. Mỗi đứa một góc ổ rơm, cứ rình chờ con chuột nào trốn bên kia hổng xong chạy ra bên này là túm đuôi. Chuột cứ chui ra chui vào ổ rơm. Ba chị em cứ làm mèo vờn chuột. Ổ rơm muốn sụm xuống luôn. Hết thảy mệt đừ, hai con chuột bò hết nổi mà hai thằng em không tha. Tự nhiên con chị sợ hai chú chuột chết, không cho em chơi nữa. Bèn rủ em đẩy xuồng ra hái bông điên điển.





Cụm điên điển giờ chỉ còn mươi nhánh bông vàng vừa nở. Bữa nào cũng hái, làm sao bông kịp trổ cho đầy. Hai đứa em trai, đứa móc xuồng, đứa níu bông cho chị hái. Chẳng bao lâu mà cũng lưng rổ. Tự nhiên con chị thấy tiếc mấy nhánh non, rung rinh những cánh bông vàng trong nắng như đàn bướm nhỏ đang bay. Nó nhớ cô giáo thích mặc áo vàng lên lớp. Mà nó cũng thích màu vàng như cô giáo lớp năm. Nó nheo mắt nhìn xa xăm qua bên kia cánh đồng trắng nước, chỗ cái xóm đó, trường của nó cũng đang ngâm mình trong lũ cả tháng nay rồi. Anh mắt nó bỗng sáng lên rồi lại buồn hiu hắt.
“Thôi đừng hái nữa bé Tư! Để đó mai nó trổ tiếp. Ba má sắp về rồi!”. Con chị can thằng em út chực bẻ nốt cái nhánh bông điên điển vàng tươi như cánh bướm vàng. ■




Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Quê nhà và bạn bè


Ngoại trừ số phận nghiệt ngã, ai cũng có quê nhà và bạn bè ở trong lòng, có khi suốt cả đời. Đôi khi một mình, cô đơn, cũng có hình hài bè bạn, quê hương trong những cơn độc thoại. Người bình thường đã vậy, nhà văn, qua thanh lọc tâm hồn, như kiểu kể chuyện của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, chuyện đó đôi khi trở thành độc đáo.



Năm 1976, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đưa đoàn làm phim về làng Mỹ Luông (Chợ Mới, An Giang), quê ông, để quay bộ phim “Mùa gió chướng” do ông chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của chính mình. Ông kể: “Có lẽ vui nhứt và ấn tượng mạnh nhứt là đoàn phim “Mùa gió chướng” trở về làng. Trước khi bộ phim ra mắt khán giả thành phố, phim chiếu cho dân làng xem, gọi là đền ơn đáp nghĩa. Người xếp lớp lớp trên cánh đồng vừa gặt, nưng nức mùi rơm. Cảnh làng, con sông đó, lục bình trôi lên trôi xuống, nhà sàn có cả trăm năm bên nhà thờ, con đường, rặng cây, ai mà chẳng thấy, chẳng đi, chẳng biết nhưng khi hiện lên màn ảnh thì đẹp lạ lùng, vừa quen vừa lạ, dù là phim đen trắng, nhưng lại rực rỡ sắc màu. Mỗi cảnh, mỗi vỗ tay, tiếng vỗ tay vừa dứt lại rộ lên. Không ai đè nổi cảm xúc khi thấy dân làng trong vai quần chúng, dù chỉ thoáng qua. Có người không được quay trước mặt, chỉ quay từ phía sau, người đóng vẫn nhận ra mình. “Đó, đó. Tao đó”. “Đâu, đâu, sao không thấy”. “Cái lưng, cái đít của tao đó”... Đêm ấy, có nhà tắt đèn, nhưng chủ nhà vẫn ngồi lai rai với đoàn phim, vui tới sáng”.

Và đây là đoạn chót của câu chuyện “Nhà văn về làng”; cái tình quê, tình người qua cốt cách của một người già (khi kể lại chuyện này, năm 2002, ông đã 70 tuổi): “Người bạn hàng xóm cùng lứa tuổi hỏi: “Sáng, mày tuổi gì?”. “Tân Mùi”. “Con dê”. “Ừ”. Hai tay nó đánh chát một cái: “Đúng rồi!”. Tôi hỏi: “Đúng cái gì?”. Mắt nó bỗng sáng lên: “Mày không phải tá, không phải tướng là phải rồi. Tuổi con dê của mày chỉ làm nghệ sĩ thôi”.

“Nghe, tôi chợt nghĩ đến một số văn nghệ sĩ cùng có tuổi Mùi, nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhà thơ Phùng Quán cùng Tân Mùi với tôi. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn cũng tuổi Mùi, nhưng là Kỷ Mùi, nhỏ hơn tôi. Nhưng tôi có một người bạn, thiếu tướng Phạm Chuyên tuổi Kỷ Mùi và còn nhiều nữa, nói chung không hẳn là vậy, nhưng tôi không tranh luận, coi như suy đoán của bạn là đúng, cho nó sướng.

“Năm nay, nước rút, tôi về làng, gió chướng cũng về. Gió không chỉ lao xao trong lá mà còn thổi là đà dài theo mặt đất, ngọn gió thổi khô những sình lầy khi con nước trở về sông. Người bạn tôi nói: “Mày về đúng lúc quá!”. Tôi chưa hiểu đúng lúc là lúc gì, dịp gì thì nó nói: “Con dê thì ăn lá so đũa, người thì phải ăn bông so đũa. Ở thành phố có ăn bông so đũa không?”. “Làm gì có mà ăn”. “Có nhớ có thèm không?”. “Thèm chớ sao không thèm”. “Nhìn ra coi”. Tôi nhìn ra, hàng so đũa bên đường đang mùa bông, bông so đũa trắng ngần đong đưa theo gió”.

Quê nhà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mộc mạc, tự nhiên như vậy đó mà sao nó như đang chạm tới đáy lòng. Là nhà văn, ông có nhiều người bạn văn nghệ mà ông chơi thân và quý trọng. Và khi viết về họ, với đầy ắp những chi tiết sống động, cả về phẩm cách, tài năng và thói tật cùng lối kể chuyện hóm hỉnh rặt phong cách nông dân Nam bộ, ông đã vẽ chân dung bạn bè gần gũi từ những con người nổi tiếng như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà thơ Bùi Giáng, nhà thơ Nguyễn Duy, nhà văn Nguyễn Tuân, nhà thơ Lê Giang, nhà thơ Thu Bồn, đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch, đạo diễn Hồng Sến, nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhạc sĩ Hoàng Việt, nhạc sĩ Xuân Hồng, nhà văn Sơn Nam, nhà văn Lê Vĩnh Hòa, nhà văn Nguyễn Đình Thi…

Như chuyện Nguyễn Quang Sáng viết “Mùa gió chướng” khi còn ở Hà Nội và đã chọn bài hát phản chiến “Đại bác ru đêm” của Trịnh Công Sơn khi ấy đang ở Sài Gòn, đưa vào tiểu thuyết này: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe… Suốt một năm trời ở chiến trường đồng nước của Tháp Mười, đêm nào tôi cũng nghe tiếng đạn đại bác. Đạn đại bác mà nổ ngay mình, mình phải lặn xuống nước, không thể gọi là ru được. Nhưng đại bác nổ ở một nơi xa thì đúng là như ru, ru đêm. Một năm - 6.1966 - 9.1967, trên đồng nước, đêm nào tôi cũng nghe đại bác ru đêm”. Thế rồi hai người đã thành bạn thân chỉ vài tháng sau ngày 30.4.1975: “Tôi mang quyển “Mùa gió chướng” lật ngay trang có ca khúc “Đại bác ru đêm” trang 281, ký tặng Sơn. Trịnh Công Sơn, đưa tay sửa kính, ngước nhìn tôi, lặng đi một hồi lâu rồi bất thần đứng dậy, đưa tay bắt tay tôi rất trịnh trọng. Sau này “Mùa gió chướng” chuyển thành phim. Đoàn làm phim đã công phu tìm được cái băng có bài “Đại bác ru đêm” qua giọng hát của Khánh Ly trong tiếng đàn guitar của Trịnh Công Sơn”…

Tình bạn ấy, không chỉ là chuyện của hai người, nó còn là tình tự quê hương. Và NXB Văn nghệ, vào năm 2008, đã tập hợp những câu chuyện này, in thành tập bút ký của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, mang tên “Nhà văn về làng”. ■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130709/que-nha-va-ban-be.aspx

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

“Mẹ vắng nhà” và người Nhật


Mẹ vắng nhà là tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Thi, được viết vào tháng 6.1966, từ chuyện có thật của mẹ con chị Út Tịch ở Trà Vinh. 




Đó là thế giới tuổi thơ của 5 chị em con Bé tự chăm sóc nhau ở nhà trong khi mẹ Út Tịch, một du kích nổi tiếng, phải thường xuyên xa nhà đi đánh giặc. Hình ảnh con Bé hay leo lên ngọn dừa ngóng tin mẹ rồi giả bộ làm cô giáo dạy học cho các em, dù mình chưa biết chữ, để dỗ dành các em… đọng lại trong lòng người đọc.
“Con Bé chờ nghe tiếng súng nổ. Từ sáng tới giờ nó đã leo lên đó mấy lần. Bốn đứa em đứng dưới nhóng tin chị. Thằng Hiển vẫn cởi truồng, đứng giạng chân, nghiêng cổ dòm. Con Anh lớn hơn một chút, bắt chước chị, leo lên cây bình bát mé rạch, ngửa cái cổ rám nắng và cái cằm như núm cau nhóng lên. Con Thanh cao hơn con Anh một cái đầu, nhúm tóc chóp đuôi bò của nó kẹp nhóng sau gáy, nó đang ráng sức bồng thằng em út và chỉ tay lên cái bóng chị cao tít tắp trên ngọn dừa như một con chim, để dỗ em”. Những lúc đó, đàn em thường nhóng cổ lên hỏi: “Thấy má chưa chị Hai?”. Còn với lớp học thì: “Con Bé hiểu ý đàn em, nó gom tất cả lại, nói: - Bây giờ chơi đi học, nghen! Đứa nào học giỏi mai mốt má cho đi học thiệt. Thằng Hiển nhảy tưng tưng, nhúm tóc vàng hoe tròn ủm của nó phập phồng như đang thở: - Em học giỏi nghen chị, má cho em bắn chóc đùng! Con Anh giơ cái cằm núm cau ra: - Em học giỏi hơn nó, em được đi học trước - Ừ, cho đi hết. - Con Bé gật đầu với cả ba đứa”.

Sau khi viết xong câu chuyện này, năm 1968, trong đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân, nhà văn Nguyễn Thi đã hy sinh, không kịp biết rằng Mẹ vắng nhà sau đó đã được người Nhật đón nhận như thế nào.
Ông Takeshi Matsumoto, Giám đốc Bảo tàng mỹ thuật Chihiro, viết vào tháng 8.2004 khi cuốn sách này được tái bản ở Nhật: “Mẹ vắng nhà được xuất bản năm 1972, giữa lúc cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra hết sức ác liệt, không quân Mỹ tiến hành các cuộc ném bom bừa bãi xuống miền Bắc Việt Nam… Dịch giả cuốn sách này là ông Isao Takano, phóng viên Báo Ahahata, một người Nhật Bản rất thông thạo tình hình Việt Nam khi đó. Ông Isao Takano đã mang bản dịch tiếng Nhật cuốn truyện Mẹ vắng nhà đến NXB Shin-Nihon, đề nghị họa sĩ Chihiro Iwasaki vẽ tranh minh họa cho cuốn truyện. Tất cả các nhân vật trong truyện Mẹ vắng nhà đều có thật; trong thời gian chiến tranh Việt Nam, họ sống ở giồng Tam Ngãi, một cơ sở của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thuộc tỉnh Trà Vinh ở ĐBSCL, phía Nam Sài Gòn. Chị Nguyễn Thị Út, người mẹ thường xuyên ra mặt trận chiến đấu, vắng nhà là người anh hùng của Mặt trận Dân tộc giải phóng”.
Bà Chihiro Iwasaki, họa sĩ, đã nói tại một cuộc tọa đàm hồi tháng 9.1972: “Tôi rất vui là hôm qua đã vẽ xong tranh minh họa cho tác phẩm Mẹ vắng nhà của nhà văn trẻ Nguyễn Thi ở miền Nam Việt Nam, viết về trẻ em Việt Nam. Người mẹ thường xuyên đi đánh giặc, khi trở về với cây súng có treo chùm bánh ú. Còn ở nhà, mấy đứa trẻ cũng chơi trò đánh giặc một cách thích thú đợi mẹ về. Con chị leo lên ngọn dừa, nào có nhìn thấy mẹ đâu, nhưng nó vẫn nói với các em là “nhìn thấy mẹ”. Bọn trẻ có năm chị em, đứa lớn mới khoảng 10 tuổi. Bố của bọn trẻ cũng đi đánh giặc, vắng nhà. Câu chuyện rất hay, bọn trẻ rất hồn nhiên và dễ thương, hay cãi lộn. Đọc truyện và hình dung về những đứa trẻ, tôi cố gắng thể hiện nét mặt ngây thơ và rất dễ thương của bọn trẻ. Tôi đã xem những bức ảnh chụp trẻ em Việt Nam nấp trong các hầm trú ẩn phòng không, trong những năm tháng chiến tranh, các em trông rất dễ thương. Tôi thầm nghĩ phải cố gắng thể hiện một cách sinh động nhất những khuôn mặt ngây thơ và đáng yêu đó”.

Còn ở lời giới thiệu với bạn đọc Nhật Bản trong lần in đầu tiên, Fuki Kushida, Tổng thư ký Hội đồng Liên lạc xây dựng Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em Việt Nam, viết: “Nhân dân Việt Nam nổi tiếng lạc quan, yêu đời ngoài sự tưởng tượng của mọi người ngay cả những lúc khó khăn nhất. Đương nhiên, nhân dân Việt Nam luôn vững tin vào thắng lợi cuối cùng. Tôi tin rằng đọc cuốn truyện này, các bạn sẽ hiểu thêm nguyên nhân vì sao nhân dân Việt Nam thắng lợi. Sự dịu dàng và sức mạnh của người mẹ đã in sâu trong trái tim và truyền cho các con sức mạnh ngay cả khi “mẹ vắng nhà”. Chính tình yêu của người mẹ đã thắp sáng ngọn lửa hy vọng trong lòng mọi người dân Việt Nam”.

Vào tháng 10.2008, NXB Phụ Nữ đã in lại tác phẩm Mẹ vắng nhà của nhà văn Nguyễn Thi cùng với 30 tranh vẽ minh họa của họa sĩ Chihiro Iwasaki kèm những câu chuyện vừa được trích dẫn. Cuốn sách ghi giá 35.000 đồng (nay không còn thấy ở nhiều nhà sách) được in tới 5.000 bản bìa cứng, khổ 21 x 30 cm, với ảnh bìa trước (3 chị em gái lớn) và bìa sau (2 em trai nhỏ) đều theo nguyên bản in ở Nhật. 


Mời đọc thêm tại Báo Thanh Niên 2.7.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130702/me-vang-nha-va-nguoi-nhat.aspx