Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

Kéo điện ra biển Tây Nam


Sau Phú Quốc, các xã đảo gần bờ tỉnh Kiên Giang trên vùng biển Tây Nam đang được đầu tư kéo điện lưới quốc gia ra đảo. Chủ đầu tư các dự án này là Tổng công ty Điện lực miền Nam (SPC).

Tuyến cáp ngầm ra Phú Quốc


Ngày 17-11-2013, đơn vị thi công dự án cáp ngầm xuyên biển Tây Nam bắt đầu kéo cáp ngầm 110 kV từ vùng biển xã Hàm Ninh (Phú Quốc) vào bờ biển Hà Tiên tại xã Thuận Yên. Tuyến cáp ngầm này dài 55,8 km, là tuyến cáp ngầm xuyên biển dài nhất Đông Nam Á lúc này. Đây là loại cáp ngầm ba lõi, trị giá 1.932 tỉ đồng.

Nhà thầu chính của dự án này là Tập đoàn Prysmian Powerlink SRL (Ý). Các đơn vị tư vấn khảo sát, thiết kế và giám sát thi công là Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện 2, Công ty Fugro (Singapore), Công ty Intertek Metoc (Anh). Các hạng mục công trình trên bờ Hà Tiên và Phú Quốc do Công ty cổ phần Thái Bình Dương thực hiện.

Theo đại diện nhà đầu tư SPC thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), dự án này sẽ cung cấp nguồn điện ổn định cho đảo Phú Quốc với khả năng truyền tải lên tới 131 MVA, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đảo trong lộ trình xây dựng Phú Quốc trở thành đặc khu kinh tế và khu du lịch chất lượng cao của cả nước.

Ngư dân nuôi cá lồng bè ở đảo Hòn Nghệ. Ảnh: ĐÌNH HOÀNG


Riêng phần lưới điện 110 kV trên đảo gồm đường dây 7,6 km và trạm biến áp 110/22 kV - 40 MVA, do các nhà thầu trong nước thực hiện. Trong đất liền, SPC cũng đã đầu tư đường cáp ngầm 110kV Kiên Lương - Hà Tiên, trạm biến áp 110/22 kV Hà Tiên, đóng điện từ tháng 2-2013.
Đến ngày 6-2-2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức cắt băng khánh thành tuyến cáp điện ngầm 110 kV xuyên biển nối Hà Tiên với Phú Quốc, đưa hòn đảo lớn nhất nước hòa vào lưới điện quốc gia.

Tại lễ khánh thành dự án này ở xã Dương Tơ, đại diện SPC cho biết tổng vốn đầu tư của dự án là 2.336 tỉ đồng, từ vốn vay của Ngân hàng Thế giới và vốn đối ứng của SPC.

Từ lâu, người dân Phú Quốc phải mua điện từ nhà máy Diesel Phú Quốc với giá cao gần gấp ba lần so với đất liền mà nguồn điện luôn thiếu dù sản lượng đã tăng từ 5,8 triệu kWh lên 64,5 triệu kWh, kể từ năm 2003. Theo Sở Công thương tỉnh Kiên Giang, vào năm 2012, ngành điện phải bù lỗ 157 tỉ đồng do phát điện bằng dầu ở Phú Quốc.

Sơ đồ kéo điện ra biển Tây Nam. Ảnh: ĐÌNH HOÀNG

Trong khi đó theo quy hoạch, 10 năm tới, đảo du lịch Phú Quốc đặt mục tiêu sẽ đón từ 2 - 3 triệu lượt khách mỗi năm (năm 2015, đón khoảng 900.000 du khách). Nhu cầu tiêu thụ điện trên đảo Phú Quốc do vậy sẽ tăng nhanh; từ nay đến năm 2020 là 2.614 kWh/người/năm.

Kéo điện bằng trụ nổi ra các đảo


Sau công trình tuyến Thổ Sơn - Hòn Tre dài 12,8 km, ngày 4-9-2015, SPC tiếp tục khởi công công trình cấp điện ra xã đảo Lại Sơn. Tại lễ khởi công này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu sớm đưa tiếp điện lưới ra xã đảo Hòn Nghệ để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cho phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt của người dân đảo.

Ngay sau đó, SPC đã xây dựng hệ thống trụ điện nổi và kéo đường dây 22 kV trên biển, xuất phát từ trụ đấu nối tiếp bờ tại Hòn Chông, đi qua hòn Rễ Nhỏ, hòn Rễ Lớn, hòn Nhum Giếng, rẽ trái qua cụm hòn Nhum Ông, Nhum Tròn, Nhum Bà đến điểm đấu nối tiếp bờ tại Hòn Nghệ. Trong đó có đường dây trung thế 22 kV vượt biển dài 16,371 km và đường dây trung thế 22 kV mới xây dựng dài 9,941 km (gồm đường dây 22 kV trên đất liền để nối tuyến dài 154 m, đường dây 22kV trên đảo dài 6,112 km và đường dây 22 kV nối tuyến trên các đảo dài 3,674 km).

Theo đại diện SPC, đây là các hợp phần thuộc dự án cấp điện lưới quốc gia cho các xã đảo gần bờ tỉnh Kiên Giang, gồm ba xã Lại Sơn, An Sơn, Nam Du (huyện Kiên Hải); hai xã Hòn Nghệ, Sơn Hải (huyện Kiên Lương); xã Tiên Hải (thị xã Hà Tiên) và xã Hòn Thơm (huyện Phú Quốc) với tổng vốn đầu tư khoảng 1.506 tỉ đồng.

Trong đó, vốn đầu tư kéo dẫn điện ra đảo Lại Sơn là 467 tỉ đồng, gồm đường dây 110 kV An Biên - Lại Sơn dài 43 km (phần trên đất liền dài 19,357 km, trên biển dài 24,496 km và trạm 110 kV trên đảo). Riêng đường dây trung hạ thế dài 24 km cùng 13 trạm biếp áp 2.080 kVA, lắp đặt công tơ và nhánh rẽ cho 1.956 hộ dân sống trên đảo.

Còn với hợp phần trên đảo Hòn Nghệ (vốn đầu tư khoảng 140 tỉ đồng), SPC xây dựng mới 8 trạm biến áp với tổng công suất 975 kVA, cung cấp điện cho 2.229 người dân đang sinh sống trên đảo Hòn Nghệ.

Đến sáng ngày 10-10-2015, SPC và tỉnh Kiên Giang đã làm lễ khởi công đưa điện lưới quốc gia ra Hòn Nghệ. Lâu nay, hơn 90% hộ dân trên đảo này sử dụng điện từ nguồn diesel tại chỗ với thời gian phát điện 12 giờ/ngày vào buổi sáng và buổi tối.

Điện sẽ sáng vào dịp 30-4-2016


Đại diện SPC nhấn mạnh rằng các dự án này đều nhằm góp phần "thực hiện chiến lược biển đảo Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển đồng thời xây dựng hệ thống đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia các vùng biển, đảo của Tổ quốc".

Trong một báo cáo vào cuối năm 2015, SPC dự kiến đến 30-4-2016, điện lưới quốc gia sẽ sáng trên các hòn đảo này. Riêng với xã đảo Hòn Nghệ, báo cáo này ghi rõ: "Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và đề nghị của tỉnh Kiên Giang, Tổng công ty Điện lực miền Nam đã trình EVN và được EVN chấp thuận cho tách dự án cấp điện lưới quốc gia cho xã đảo Hòn Nghệ ra khỏi dự án cấp điện lưới quốc gia cho các xã đảo tỉnh Kiên Giang thành dự án độc lập thực hiện sớm bằng nguồn vốn do SPC tự thu xếp. Dự án đã khởi công vào ngày 10-10-2015, hiện đang triển khai thi công xây dựng công trình, dự kiến đóng điện vận hành trong đầu năm 2016".

Xã đảo Hòn Nghệ (huyện Kiên Lương) nằm trong vịnh Hà Tiên thuộc vùng biển Tây Nam Việt Nam, chỉ cách mũi Hòn Chông (Hà Tiên) khoảng 15 km về phía Tây Nam, cách quần đảo Bà Lụa 8 km về phía Đông Nam. Đảo dài 2,5 km, rộng 1,6 km, chu vi 7,5 km, diện tích 3,8 km². Trên đảo có 526 hộ, dân số 2.229 người, chủ yếu sống bằng nghề khai thác, đánh bắt - nuôi trồng hải sản và dịch vụ.

Bước sang năm mới, bà con xã đảo Hòn Nghệ cũng như hàng nghìn người dân đang sống trên xã đảo Lại Sơn và các đảo khác gần biển Kiên Giang, đang mong chờ đón dòng điện lưới quốc gia xuyên biển Tây Nam, theo đúng kế hoạch này.


Bài đã đăng tại:
http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=63&id=173704

Thêm nhiều đảo ở Kiên Giang sắp có điện lưới


(TBKTSG Online) – Hàng chục hòn đảo lớn nhỏ thuộc bảy xã đảo ở Kiên Giang sẽ có điện từ nguồn điện lưới quốc gia vào dịp 30-4-2016, tức là chỉ hơn bảy tháng tính từ ngày dự án cấp điện được khởi công, theo Tổng công ty Điện lực miền Nam (SPC) là chủ đầu tư.

Sơ đồ kéo điện ra các đảo vùng biển Tây Nam - Ảnh: Đình Hoàng

Sau công trình đường điện tuyến Thổ Sơn – Hòn Tre dài 12,8 km, ngày 4-9-2015, SPC tiếp tục khởi công công trình cấp điện ra xã đảo Lại Sơn. Tại lễ khởi công này, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu sớm đưa tiếp điện lưới ra xã đảo Hòn Nghệ để đáp ứng nhu cầu sử dụng điện cho phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt của người dân đảo.

Ngay sau đó, SPC đã xây dựng hệ thống trụ điện nổi và kéo đường dây 22 kV trên biển, xuất phát từ trụ đấu nối tiếp bờ tại Hòn Chông, đi qua hòn Rễ Nhỏ, hòn Rễ Lớn, hòn Nhum Giếng, rẽ trái qua cụm hòn Nhum Ông, Nhum Tròn, Nhum Bà đến điểm đấu nối tiếp bờ tại Hòn Nghệ.

Dự án này gồm đường dây trung thế 22 kV vượt biển bằng trụ nổi dài 16,371 km và đường dây trung thế 22 kV dài 9,941 km xây dựng trên các đảo và nối các đảo.

Theo đại diện SPC, đây là các hợp phần thuộc dự án cấp điện lưới quốc gia cho các xã đảo gần bờ tỉnh Kiên Giang, gồm ba xã Lại Sơn, An Sơn, Nam Du (huyện Kiên Hải); hai xã Hòn Nghệ, Sơn Hải (huyện Kiên Lương); xã Tiên Hải (thị xã Hà Tiên) và xã Hòn Thơm (huyện Phú Quốc) với tổng vốn đầu tư khoảng 1.506 tỉ đồng.

Trong đó, riêng vốn đầu tư kéo dẫn điện ra đảo Lại Sơn là 467 tỷ đồng, gồm đường dây 110kV An Biên – Lại Sơn dài 43 km (phần trên đất liền dài 19,36 km, trên biển dài 24,5 km và trạm 110kV trên đảo). Riêng đường dây trung hạ thế dài 24 km cùng 13 trạm biếp áp 2.080kVA, lắp đặt công tơ và nhánh rẽ cho 1.956 hộ dân sống trên đảo.

Còn với hợp phần trên đảo Hòn Nghệ (vốn đầu tư khoảng 140 tỉ đồng), SPC ngày 10-10-2015 khởi công công trình này nhằm xây dựng 8 trạm biến áp với tổng công suất 975 kVA, cung cấp điện cho 2.229 nhân khẩu đang sinh sống trên đảo Hòn Nghệ.

Điện sẽ sáng vào dịp 30-4-2016


Đại diện SCP nhấn mạnh rằng các dự án này đều nhằm góp phần thực hiện “Chiến lược biển đảo Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển đồng thời xây dựng hệ thống đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền quốc gia các vùng biển, đảo của Tổ quốc”.

Trong một báo cáo vào cuối năm 2015, SCP dự kiến đến 30-4-2016, điện lưới quốc gia sẽ sáng trên các hòn đảo này. Riêng với xã đảo Hòn Nghệ, báo cáo này ghi rõ: “Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và đề nghị của tỉnh Kiên Giang, Tổng công ty Điện lực miển Nam đã trình EVN và được EVN chấp thuận cho tách dự án cấp điện lưới quốc gia cho xã đảo Hòn Nghệ ra khỏi dự án cấp điện lưới quốc gia cho các xã đảo tỉnh Kiên Giang thành dự án độc lập thực hiện sớm bằng nguồn vốn do EVN SPC tự thu xếp. Dự án đã khởi công vào ngày 10-10-2015, hiện đang triển khai thi công xây dựng công trình, dự kiến đóng điện vận hành trong đầu năm 2016”.

Xã đảo Hòn Nghệ (huyện Kiên Lương) nằm trong Vịnh Hà Tiên thuộc vùng biển Tây Nam Việt Nam, chỉ cách mũi Hòn Chông (Hà Tiên) khoảng 15 km về phía Tây Nam, cách quần đảo Bà Lụa 8 km về phía Đông Nam. Đảo dài 2,5 km, rộng 1,6 km, chu vi 7,5 km, diện tích 3,8 km². Trên đảo có 526 hộ, dân số 2.229 người, chủ yếu sống bằng nghề khai thác, đánh bắt - nuôi trồng hải sản và dịch vụ.

Việc kéo điện lưới quốc gia ra các xã đảo gần bờ tỉnh Kiên Giang  được thực hiện sau thành công của dự án kéo cáp ngầm cung cấp điện cho huyện đảo Phú Quốc, được SPC thực hiện trước đó.

Cụ thể, ngày 17-11-2013, đơn vị thi công dự án cáp ngầm xuyên biển Tây Nam bắt đầu kéo cáp ngầm 110 kV từ vùng biển xã Hàm Ninh (Phú Quốc) vào bờ biển Hà Tiên tại xã Thuận Yên. Tuyến cáp ngầm này dài 55,8 km, là tuyến cáp ngầm xuyên biển dài nhất Đông Nam Á, và trị giá 1.932 tỉ đồng trong tổng vốn đầu tư của dự án là 2.336 tỉ đồng.

Theo SPC, dự án này với khả năng truyền tải lên tới 131 MVA đủ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đảo trong lộ trình xây dựng Phú Quốc trở thành đặc khu kinh tế và khu du lịch chất lượng cao của cả nước.

Đến ngày 6-2-2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chính thức cắt băng khánh thành tuyến cáp điện ngầm 110KV xuyên biển nối Hà Tiên với Phú Quốc, đưa hòn đảo lớn nhất nước hòa vào lưới điện quốc gia.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/140879

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

WB cho vay 260 triệu đô la Mỹ nâng cấp đô thị Cần Thơ


Trung Chánh - Huỳnh Kim


WB tài trợ 260 triệu đô la Mỹ để Cần Thơ phát triển đô thị. Trong ảnh là một góc Thành phố Cần Thơ nhìn từ trên cao. Ảnh: Trung Chánh


(TBKTSG Online) - Ngân hàng Thế giới (WB) sẽ cho Thành phố Cần Thơ vay 260 triệu đô la Mỹ để thực hiện dự án chỉnh trang, nâng cấp đô thị với mục tiêu giúp Cần Thơ phát triển bền vững và trở thành đô thị thông minh, hiện đại.

Tại buổi làm việc giữa UBND TP Cần Thơ với trường Đại học Cần Thơ được tổ chức vào hôm nay 29-12, bà Võ Thị Hồng Ánh, Phó chủ tịch UBND TP Cần Thơ, cho biết trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2021, thành phố sẽ triển khai các dự án chỉnh trang, nâng cấp đô thị với tổng vốn đầu tư là 320 triệu đô la Mỹ.

Trong số vốn này, WB cung cấp 260 triệu đô la Mỹ, gồm vốn vay 250 triệu đô la Mỹ  và 10 triệu đô la Mỹ viện trợ không hoàn lại, và phần còn lại là vốn đối ứng của Việt Nam, khoảng 62 triệu đô la Mỹ.

Trao đổi với TBKTSG Online, ông Mai Như Toàn, Phó giám đốc Sở Xây dựng Cần Thơ cho biết thêm, dự kiến vào ngày 18-1-2016 một hội đồng thẩm định của Chính phủ sẽ thẩm định dự án vay vốn này; và nếu mọi chuyện suôn sẻ thì hiệp định vay vốn của WB sẽ được ký kết vào tháng 3-2016. Dự án được thực hiện trong 5 năm, từ năm 2016 đến 2021.

Theo bà Ánh, mục tiêu của dự án là xây dựng các công trình chống ngập cho các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, qua đó giúp bảo vệ đồng bộ các công trình và tài sản của người dân.

“Ngoài ra, dự án cũng sẽ đầu tư hệ thống giao thông kết nối với khu vực trung tâm Cần Thơ, bao gồm hệ thống các cầu nối qua sông Cần Thơ gồm cầu trên đường Trần Hoàng Na và cầu Quang Trung, mở thêm các tuyến giao thông huyết mạch kết nối quận Bình Thủy, Ninh Kiều và Cái Răng để giãn dân ở khu vực trung tâm cũng như phát triển đồng bộ giữa các đô thị, qua đó, tạo nguồn thu để trả lại tiền vốn vay của WB”, bà Ánh cho biết.

Theo bà Ánh, một yếu tố quan trọng trong dự án này là ứng dụng công nghệ thông tin để phát triển Cần Thơ trở thành đô thị thông minh thông qua việc quản lý tự động hệ thống chống ngập cũng như ứng dụng vào hệ thống giao thông, chiếu sáng…

“Với dự án này, WB cũng chính thức chọn Cần Thơ là thành phố đầu tiên trên thế giới (được nhận WB cung cấp vốn) để làm thí điểm mô hình đô thị thông minh”, bà Ánh cho biết.

Cũng theo bà Ánh, nếu không có gì thay đổi, thì sau Tết Nguyên đán, WB sẽ đưa các chuyên gia về lĩnh vực này đến làm việc cụ thể hơn với trường Đại học Cần Thơ và UBND Cần Thơ để triển khai đề án đô thị thông minh cho địa phương.

Để chủ động thích ứng, UBND Cần Thơ cũng đã đề xuất một số công việc cần có sự phối hợp thực hiện với trường Đại học Cần Thơ, như đào tạo kỹ năng cho cán bộ của các sở, ngành, quận, huyện của Cần Thơ trong quản lý, phát triển đô thị theo hướng bền vững, ứng phó với biến đổi khí hậu; đào tạo kỹ năng quản lý đô thị có liên quan đến phát triển đô thị thông minh; ứng dụng khoa học nghệ mới vào công tác quản lý và áp dụng các công nghệ này vào những công trình sẽ được xây dựng trong giai đoạn này…


Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/140426

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Khai trương “sở thú” Vinpearl Safari Phú Quốc


Vân Đình



Vượn cáo đuôi trắng đang chơi với nhân viên Vinpearl Safari Phú Quốc. Ảnh Vân Đình

(TBKTSG Online) - Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari Phú Quốc, với bộ sưu tầm khoảng 3.000 cá thể động vật hoang dã quý hiếm từ Nam Phi, châu Âu, Úc, Mỹ..., vừa được khai trương hôm nay 24-12, tại xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện chủ đầu tư, tập đoàn Vingroup, cho biết Công viên Chăm sóc và Bảo tồn Động vật Vinpearl Safari Phú Quốc (gọi tắt là Vinpearl Safari Phú Quốc) được thực hiện theo mô hình safari trên thế giới.

Theo thiết kế, Vinpearl Safari Phú Quốc có tổng diện tích gần 500 hecta, được xây dựng theo mô hình bán hoang dã với các loài động vật quý hiếm.

Công viên Vinpearl Safari Phú Quốc thuộc quần thể dự án du lịch - nghỉ dưỡng Vinpearl Phú Quốc (tổng vốn đầu tư khoảng 3.300 tỉ đồng) nằm ở bắc đảo Phú Quốc, dựa lưng vào rừng nguyên sinh và quay mặt ra biển. Giai đoạn 1, “sở thú” này được đặt trong 380 hecta đất rừng nguyên sinh, xây dựng khu vườn thú mở (open zoo) và khu bán hoang dã (safari park) lần đầu tiên có ở Việt Nam.

Vinpearl Safari Phú Quốc khởi công xây dựng từ tháng 9-2015.

Tại đây, du khách sẽ tận mắt thưởng ngoạn khoảng 3.000 cá thể động vật thuộc 150 loài đặc hữu đến từ Nam Phi, châu Âu, Úc, Mỹ như hổ Bengal, linh dương Ả Rập, linh dương sừng xoắn, vượn cáo trắng đen… Vinpearl Safari Phú Quốc cũng sở hữu bộ sưu tập những loài động vật quý hiếm như 200 cá thể hồng hạc, 100 tê giác, 60 hươu cao cổ.

“Sở thú” Vinpearl Safari Phú Quốc còn có chuồng cách ly kiểm dịch, khu phố mua sắm sản phẩm du lịch và bệnh viện thú y lớn nhất Đông Nam Á. Du khách cũng sẽ được xem các hoạt động biểu diễn định kỳ của một số loài thú tại các khu hoạt động tiếp xúc và cho thú ăn.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/140285

Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

Để trái cây và cá tra ĐBSCL xuất khẩu tốt hơn

Lạc Long



Do hạn chế về trình độ và kỹ thuật canh tác, ngành trồng trọt và thủy sản ở ĐBSCL còn yếu khi cạnh tranh với thế giới. Tại hội thảo "Ứng dụng công nghệ sáng tạo trong phát triển nông nghiệp xanh" tại Cần Thơ vào tuần rồi, nhiều nhà khoa học đã đề xuất giải pháp cải thiện thực trạng này…


* Trồng cây ăn quả theo kiểu Nhật


TS Võ Hữu Thoại, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam, cho biết nông nghiệp đóng góp tới ¼ GDP của Việt Nam, nhưng với việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và những hạn chế trong tập quán, kỹ thuật canh tác cộng thêm quy mô canh tác manh mún, nhỏ lẻ khiến nền nông nghiệp nước ta khó phát triển. Ví dụ tập quán canh tác của nông dân ĐBSCL là trồng cây với mật độ quá dầy. Trong vài năm đầu, có thể cho năng suất cao nhưng càng về sau, cây sẽ cạnh tranh dưỡng chất, ánh sáng… khiến việc tăng năng suất rất khó và hầu như bất khả thi. Trong khi việc duy trì mật độ gieo trồng thích hợp sẽ giúp tăng năng suất cây trồng thêm khoảng 20 - 30%.


Đóng gói bưởi da xanh phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu tại Cơ sở Hương Miền Tây ở tỉnh Bến Tre. Ảnh: VĂN CỘNG

Theo TS Võ Hữu Thoại, việc ứng dụng công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của Nhật Bản sẽ giúp nâng cao đáng kể sản lượng và chất lượng cho nông sản ĐBSCL. "Các hộ sản xuất nông nghiệp của Việt Nam cần học theo kinh nghiệm làm nông nghiệp của người Nhật; nhanh chóng kết hợp với nhau, tạo thành chuỗi ngành hàng, tuân theo một quy chuẩn chất lượng thống nhất như VietGAP, BAP… để đảm bảo giá trị, độ an toàn, tin cậy cho sản phẩm làm ra. Ngoài ra, để giảm chi phí đầu vào, các nông hộ nên ứng dụng máy móc tiên tiến cũng như các hệ thống tự động phân tích chất lượng sản phẩm nông nghiệp", TS Thoại nói.

Trong thực tế, nông dân Nhật Bản đã áp dụng những điều này từ hơn 50 năm nay. Nhờ vậy, từ một đất nước suy sụp, thiếu lương thực sau thế chiến thứ 2, Nhật Bản nay đã trở thành bậc thầy trong sản xuất nông nghiệp của thế giới.

Là người nhiều năm làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, ông Hideki Suzuki, Giám đốc Công ty TNHH Bellfarm (Nhật Bản), chia sẻ: "Ở Nhật, quỹ đất sản xuất rất hạn hẹp, lại thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, nên chúng tôi phải tối ưu hóa và làm tăng độ màu mỡ cho đất trồng. Một trong những kỹ thuật mà chúng tôi áp dụng và đã thành công là sử dụng phân bón hữu cơ kết hợp với vi sinh vật theo tỷ lệ hợp lý, thay cho phân hóa học và thuốc tăng trưởng".

Ông Hideki Suzuki giải thích rõ, việc trộn phân bón hữu cơ đúng cách giúp tăng lượng lợi khuẩn có sẵn trong đất, đồng thời cũng tăng độ phì nhiêu và làm mềm đất. "Trong trường hợp áp dụng thành công kỹ thuật pha trộn này, nông sản làm ra được đảm bảo tươi ngon và an toàn, đáp ứng được tiêu chuẩn đặt ra của những thị trường nhập khẩu khó tính nhất", ông Hideki Suzuki nói.

Riêng với cây có múi, một dòng cây đặc sản phát triển mạnh ở ĐBSCL lại đang đối mặt với tình trạng già hóa và sâu hại tấn công làm giảm năng suất trong những năm gần đây. Để giải quyết căn bản vấn đề này, TS Võ Hữu Thoại ở Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam, đề xuất: "Sau một thời gian thu hoạch nhất định, cây trồng cần được cắt tỉa nhánh già để các nhánh non có điều kiện phát triển thay thế. Ngoài ra, để tăng khả năng chống chịu và tuổi thọ cho cây có múi, theo kinh nghiệm mà Viện Cây ăn quả Miền Nam có được khi quan sát các khu vườn của Nhật Bản, họ hoàn toàn sử dụng gốc ghép chứ không dùng cây giống chiết như cách mà chúng ta vẫn thường làm. Gốc ghép giúp cây sống khỏe và dẻo dai hơn hẳn cây chiết".

Cũng theo ông Thoại, một "kỹ thuật thú vị và khá đơn giản" để phòng ngừa bệnh hại cho cây có múi là "trồng ổi xen kẽ vào vườn cây". Lý do, rầy chổng cánh (tác nhân gây hại lớn trên các vườn cây có múi) và một số loài sâu bệnh không thích hoạt chất tạo mùi có trong cây ổi. "Tôi được biết, ở Nhật đã có một loại thuốc mới, chỉ cần bôi vào một điểm trên thân cây, sau đó kiến gây hại và sâu bọ sẽ bu lại ăn rồi tự chết mà không phải phun quá nhiều thuốc trừ sâu", ông Thoại cho biết.


* Nuôi và chế biến cá tra theo khoa học


Theo Tổng cục Thống kê, mỗi năm ĐBSCL cung cấp hơn 52% sản lượng thủy sản cả nước. Năm 2014, diện tích nuôi thủy sản toàn vùng ước đạt 800.000 hecta với sản lượng hơn 2,4 triệu tấn. Trong đó, sản lượng cá tra là 1,2 triệu tấn, chế biến xuất khẩu đạt gần 1,8 tỉ USD. Dù vậy, do những hạn chế về kỹ thuật chăn nuôi, chế biến cũng như khó khăn trong khâu tiêu thụ khiến cho ngành cá tra ĐBSCL còn tiềm ẩn không ít rủi ro.



Thu hoạch cá tra tại phường Thuận An, quận Thốt Nốt, TP Cần Thơ. Ảnh: VĂN CỘNG


PGS-TS. Nguyễn Thị Ngọc Anh, Khoa Thủy sản Đại học Cần Thơ, nhấn mạnh: "Những khó khăn mà ngành cá tra đang đối mặt tập trung vào hai nhóm chính: tổ chức sản xuất và chế biến, tiêu thụ sản phẩm".

Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh cho rằng, việc phát triển vùng nuôi, cơ sở chế biến ở các địa phương chủ yếu là tự phát, thiếu quy hoạch và định hướng làm mất cân đối cung - cầu, dẫn đến giá cả sụt giảm. Chất lượng con giống không ổn định cùng với việc 70% nguyên liệu nuôi phải nhập từ nước ngoài cũng làm cho chi phí đầu vào tăng cao. "Người nông dân có thói quen thả nuôi theo mật độ dầy trong thời gian dài khiến môi trường nước bị ô nhiễm, vi khuẩn phát triển nhiều gây ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm. Những dòng vi khuẩn mới như Edwardsiella ictaluri gây bệnh gan - thận mủ hay khuẩn Aeromonas hydrophila gây bệnh phù đầu, xuất huyết có thể làm tỷ lệ cá chết trong ao nuôi lên đến hơn 50%", PGS-TS Anh nhấn mạnh.

Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, với việc 92% sản phẩm cá tra xuất khẩu của Việt Nam ở dạng thô, hàm lượng chế biến thấp, phần lớn là phi lê đông lạnh nên không tạo được giá trị gia tăng cho ngành hàng. Hiện tại, các doanh nghiệp chưa tập trung đầu tư nâng cấp trang thiết bị công nghệ, đa dạng hóa phân khúc sản phẩm cũng như chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng thương hiệu cá tra Việt Nam và xây dựng chuỗi phân phối sản phẩm cả trong lẫn ngoài nước cũng là một rào cản khiến ngành cá tra nước ta bị giảm khả năng cạnh tranh. Thêm vào đó, việc xuất khẩu chủ yếu tập trung vào thị trường Mỹ và EU dễ dẫn đến rủi ro khi các thị trường này có biến động bất lợi.

Để giải quyết thực trạng này, PGS-TS Nguyễn Thị Ngọc Anh đề xuất: "Đầu tiên, chúng ta cần quy hoạch lại vùng nuôi, chế biến cá tra ở ĐBSCL. Trong đó, chú trọng đến các hoạt động sản xuất con giống; bảo đảm hài hòa lợi ích theo chuỗi giá trị từ người tiêu dùng đến các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, xuất khẩu và công nghiệp phụ trợ cho ngành hàng cá tra". Bà Anh nhấn mạnh: "Trong những năm tới, không đầu tư các cơ sở chế biến cá phi lê đông lạnh nữa mà chuyển sang thúc đẩy chế biến nhiều sản phẩm cao cấp đóng gói để tăng giá trị cho con cá tra, đưa đời sống hộ sản xuất và kinh tế doanh nghiệp đi lên".

Ngoài ra, áp dụng công nghệ mới vào chăn nuôi cũng giúp cải thiện đáng kể tình trạng cá chết, giúp tăng năng suất, chất lượng và độ tin cậy cho sản phẩm cá tra Việt Nam. Theo kết quả nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản ĐBSCL, công nghệ "Bio-floc" (một dạng phức hợp gồm vi khuẩn dị dưỡng, tảo, động vật nguyên sinh, mảnh vụn hữu cơ) giúp cải thiện môi trường nước, giảm bệnh trên cá vừa là thức ăn tốt cho loài nuôi.

Còn theo công bố của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II thuộc Tổng cục Thủy sản, hiện viện đã thử nghiệm "Mô hình nuôi cá tra thâm canh bằng hệ thống tuần hoàn khép kín" (RAS), cho kết quả khả quan. Ao nuôi đạt năng suất cao, ít thay nước và tăng cường đáng kể chất lượng thịt cá thương phẩm; từ đó, mở ra cơ hội cho nghề nuôi thâm canh, quy mô vừa và nhỏ có giá trị kinh tế cao.

Theo một công bố khác của Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơ, sau 6 tháng thực nghiệm nuôi cá tra áp dụng công nghệ sục khí tiên tiến từ Đan Mạch tại vùng nuôi của Công ty Thuận Hưng (thị xã Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang) cho thấy, tỷ lệ hao hụt giảm, cá tăng trưởng tốt, môi trường cải thiện nhiều so với ao nuôi truyền thống. Sắp tới, mô hình này sẽ được nhân rộng để phục vụ nhu cầu của các hộ nuôi ở ĐBSCL.

Bài đã đăng tại:
http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=63&id=172880

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

ĐBSCL: Loay hoay tìm cách bán nông sản



Nông dân nghèo ở Đồng Tháp mưu sinh trong mùa lũ


(TBKTSG Online) - Đại diện 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL tại hội nghị tổng kết năm 2015, triển khai nhiệm vụ 2016 của Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ sáng nay, 11-12,  tiếp tục đề nghị trung ương sớm có chính sách phù hợp để vùng này bán được lúa gạo, thủy sản, trái cây nhằm cải thiện đời sống nông dân.

Phó trưởng ban thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, ông Nguyễn Phong Quang, khi mở đầu hội nghị, đã “kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành trung ương hỗ trợ thông tin cho các địa phương trong vùng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là vấn đề tiêu thụ lúa gạo, thủy sản, trái cây khi tham gia Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP).”

Ông Nguyễn Thanh Nghị, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Kiên Giang, cho biết ba năm nay xuất khẩu của Kiên Giang không đạt chỉ tiêu; riêng năm nay tỉnh sản xuất được hơn 4,64 triệu tấn lương thực, hơn 677.000 tấn thủy sản “nhưng tiêu thụ khó khăn, giá cả thấp, đời sống người dân chưa được cài thiện”.

Ông Nghị nhìn nhận sản xuất của Kiên Giang chưa bài bản từ quy hoạch đến thị trường và cho biết “Kiên Giang rất muốn sản xuất lớn nhưng hạ tầng điện, nước, thủy lợi… chưa đáp ứng”. Ông đề nghị: “Chính phủ cần có chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư lớn vào sản xuất nông nghiệp và hạ tầng”.

Ông Trần Quốc Trung, Bí thư Thành ủy thành phố Cần Thơ, “đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công Thương có dự báo thị trường, có cơ chế như thế nào để ĐBSCL xuất khẩu hai mặt hàng chủ lực là gạo và thủy sản. Nếu không duy trì và phát triển được hai mặt hàng này thì sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế chung của toàn vùng”.

Trước đó, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp, ông Lê Minh Hoan, cho biết ông rất tâm đắc với ý kiến của một doanh nghiệp Hàn Quốc khi tìm cơ hội đầu tư tại Đồng Tháp: “Mọi sự hỗ trợ của nhà nước đều vô nghĩa nếu người nông dân không thay đổi”.

Ông Hoan kể ông thường hỏi bà con nông dân rằng vì sao xoài Thái Lan, quít Trung Quốc vượt hàng ngàìn cây số qua bán tại chợ ở Đồng Tháp mà giá lại rẻ hơn xoài và quít của Đồng Tháp. Theo ông, nông dân Đồng Tháp làm được như họ thì sẽ thoát nghèo.

Ông Hoan cho biết Đồng Tháp đang làm thí điềm nhiều mô hình nhằm giúp nông dân “tự chủ, tự lực có kiến thức thay vì đào tạo nghề cho nông dân như cách Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang làm ở các trường nghề”.

“Đồng Tháp cũng có mô hình hợp tác xã thuê đất của nông dân và cho doanh nghiệp mua cổ phần trong hợp tác xã”. Những việc làm này, theo ông Lê Minh Hoan, gần như chưa có chủ trương từ trung ương vì chưa có luật, nhưng tất cả nhằm giúp nông sản tiêu thụ được nông sản sao cho có lợi nhất.

Trong khi đó, theo ông Vương Bình Thạnh, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang: “Từ năm 2008 tới nay, An Giang đều được mùa nhưng mất giá, với cả lúa gạo và cá tra”. Lý do chính, theo ông Thạnh, là vì thiếu thị trường tiêu thụ.

Dẫn kinh nghiệm thành công trong hợp tác với nông dân của công ty Lộc Trời và kinh nghiệm đầu tư làm lúa xuất sang Nhật của một công ty Nhật tại An Giang, ông Vương Bình Thạnh nói: “Phải xác định thị trường tiêu thụ cho sản xuất của ĐBSCL; người nông dân sản xuất ra phải biết bán cho ai”.

Ông Thạnh đề nghị: “Muốn liên kết, cốt lõi là từ doanh nghiệp. Do vậy, phải có chính sách thoáng hơn để doanh nghiệp đầu tư mạnh hơn vào nông nghiệp”.

Cần hỗ trợ ĐBSCL ứng phó với BĐKH


Theo ông Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hậu Giang, có bốn việc đang ảnh hưởng lớn tới sản xuất và đời sống người dân Hậu Giang, nhất là nông dân, gồm biến đổi khí hậu, liên kết vùng, đầu tư nước ngoài (FDI) và đào tạo nghề.

Ông Chánh nói, Hậu Giang đã báo động thiếu nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt và xâm nhập mặn sớm hơn mọi năm; liên kết vùng thì chưa có chính sách cụ thể; FDI vào đồng bằng ít vì hạ tầng yếu và chưa có chính sách thu hút phù hợp; đào tạo nghề cho nông thôn thì thầy nhiều hơn trò.

“Trường nghề quá nhiều, bộ nào cũng có trường; chiêu sinh không được, còn chương trình đào tạo thì không thiết thực”, ông Chánh nhấn mạnh.

Ông Nghị thì cho rằng chuyện liên kết vùng chưa chú ý tới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Ông cho biết Kiên Giang vừa bị thiệt hại hơn 30.000 héc ta lúa do xâm nhập mặn và thiếu nước ngọt, và nói: “Kiên Giang đề nghị Chính phủ đầu tư cấp nước cho các vùng này,… nếu không vài năm tới sẽ thiếu nước ngọt”.

Ông Nguyễn Phong Quang kiến nghị Chính phủ  có cơ chế đặc thù giúp ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu và đàm phán với chính phủ các nước thượng nguồn sông Mekong về ảnh hưởng của việc xây đập thủy điện.

Kết luận hội nghị, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, nhấn mạnh các hiệp định thương mại tự do Việt Nam gia nhập đang đòi hỏi Việt Nam phải cải cách sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản ĐBSCL.

Phó Thủ tướng đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn sớm rà soát Nghị định 210 của Chính phủ về đầu tư vào nông nghiệp để sửa đổi, bổ sung các quy định phù hợp với điều kiện riêng của vùng ĐBSCL.

Ông cũng yêu cầu bộ này cũng sớm trình Chính phủ Nghị định về hợp tác xã nông nghiệp để kịp ban hành.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/139737