Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Hơn 322 triệu đô la Mỹ giúp Cần Thơ xanh, sạch, đẹp


Quang cảnh lễ khởi động dự án tại Cần Thơ trưa ngày 3-6.

(TBKTSG Online) - Dự án “Phát triển TP. Cần Thơ và tăng cường khả năng thích ứng của đô thị” trị giá hơn 322 triệu đôla Mỹ chính thức được khởi động trưa nay, 3-6, tại UBND TP. Cần Thơ. Dự án này - do Ngân hàng Thế giới tài trợ - nhằm giúp Cần Thơ xanh, sạch, đẹp hơn vào năm 2021, thời điểm kết thúc dự án.

Theo ông Huỳnh Thanh Sử, Giám đốc Ban Quản lý Dự án ODA TP Cần Thơ, các công trình của dự án sẽ giúp tăng cường khả năng chống chịu của thành phố trước nguy cơ ngập lụt và ảnh hưởng của việc đô thị hóa nhanh. Dự án cũng nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý đô thị cho TP. Cần Thơ thích ứng với biến đổi khí hậu trong vai trò là trung tâm kinh tế - xã hội của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Tổng vốn đầu tư của dự án là hơn 322 triệu đôla Mỹ, trong đó vốn vay từ Ngân hàng Thế giới (WB) hơn 250 triệu đô la Mỹ; vốn tài trợ không hoàn lại của Cơ quan Phát triển Liên bang Thụy sĩ (SECO) 10 triệu đô la; còn lại là vốn đối ứng của TP. Cần Thơ. Thời gian thực hiện dự án từ nay đến năm 2021.

Dự án gồm ba hợp phần. Hợp phần 1, kiểm soát ngập lụt và vệ sinh môi trường, gồm các công trình như xây dựng hệ thống kè sông Cần Thơ; xây dựng bờ kè cho rạch Cái Sơn - Mương Khai; xây dựng các cống ngăn triều và các âu thuyền, các cống ngăn triều kết hợp cầu giao thông; cải tạo hệ thống kênh rạch; xây dựng các hồ điều hòa, chứa nước; lắp đặt các trạm bơm và cải tạo hệ thống cống thoát nước; hệ thống thiết bị quản lý vận hành...


Phối cảnh cầu Quang Trung mới bắc qua sông Cần Thơ, do dự án hỗ trợ.

Hợp phần 2, phát triển hành lang đô thị, gồm xây dựng cầu Quang Trung; xây dựng đường và cầu Trần Hoàng Na, đường song hành đến nút giao IC3; xây dựng đường nối Cách Mạng Tháng Tám (Quốc lộ 91) - đường tỉnh 918; xây dựng hạ tầng khu tái định cư An Bình; hệ thống trang thiết bị quản lý vận hành và hỗ trợ quản lý giao thông...

Hợp phần 3, tăng cường quản lý đô thị thích ứng với biến đổi khí hậu, gồm các hạng mục như thiết lập cơ sở dữ liệu không gian địa lý, quản lý đồng bộ, thống nhất; hệ thống trợ giúp phòng chống, khắc phục thiên tai...

Để có được dự án này, vào giữa tháng 6-2014, đoàn công tác của WB do bà Hoàng Thị Hoa, chuyên gia cao cấp đô thị, và bà Catherine Lynch, chuyên gia kinh tế đô thị, dẫn đầu, đã có nhiều chuyến khảo sát thực địa và tổ chức hội thảo nghiên cứu thế mạnh tại Cần Thơ. Sau đó, các bên đã thảo luận các đề xuất của WB, thống nhất nội dung dự án.

Tại lễ khởi động dự án, ông Võ Thành Thống, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ, đã yêu cầu, ngay từ đầu, Ban Quản lý dự án ODA TP Cần Thơ cùng các đơn vị thiết kế, tư vấn, giám sát, nhà thầu thi công phải tuân thủ các quy định về trình tự thủ tục đầu tư xây dựng, các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm kỹ thuật để triển khai dự án theo đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng.

“Về vốn đối ứng dành cho dự án này,TP. Cần Thơ cam kết sẽ cân đối ngân sách để bố trí vốn kịp thời với tiến độ giải ngân vốn ODA của nhà tài trợ”, ông Thống nói.

Bài đã đăng tại
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/147309

Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2016

Vì sao nông dân ĐBSCL vẫn nghèo?


Lê Anh Tuấn

Người nông dân ĐBSCL không hẳn đói kém nhưng chính sách thị trường hóa và xã hội hóa không đồng bộ, bất hợp lý và thiếu khoa học đã tạo ra sự bất bình đẳng khiến cái nghèo vẫn quanh quẩn cuộc sống của họ. Ảnh: Trung Chánh


(TBKTSG) - Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất đứng đầu về diện tích và sản lượng lương thực, cũng như xuất khẩu nông sản cho cả Việt Nam. Nhưng trớ trêu là vùng ĐBSCL vẫn là nơi có mật độ người nghèo đói cao của Việt Nam, đối tượng nghèo chiếm số đông trong xã hội là những người nông dân.

Có nhiều định nghĩa về cái nghèo: nghèo tính theo thu nhập, nghèo tính theo lượng lương thực hay calori tiêu thụ trên mỗi đầu người, nghèo căn cứ vào sự bất bình đẳng về xã hội... Ở đây, cần hiểu rằng cái nghèo không hẳn là cái đói. Nghèo cần hiểu theo nghĩa rộng, liên quan đến khả năng tiếp cận với các quyền được hưởng thụ và thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cơ bản của con người mà xã hội thừa nhận.

Người nông dân ĐBSCL không hẳn đói kém nhưng chính sách thị trường hóa và xã hội hóa không đồng bộ, bất hợp lý và thiếu khoa học đã tạo ra sự bất bình đẳng khiến cái nghèo vẫn quanh quẩn cuộc sống của họ. Nguyên nhân gây nghèo rất đa dạng và phức tạp, có thể đến từ tất cả hoặc một phần các yếu tố sau:


Nghèo do chính sách bất cập


So với cư dân đô thị, người dân nông thôn phải chịu những cái bất bình đẳng trong chính sách kinh tế và xã hội. Người dân quê phải trả phí các dịch vụ xã hội như điện, xăng dầu, đường sá, trường học, y tế, văn hóa... cao hơn người thành thị nếu xét trên tỷ trọng so với thu nhập. Chi phí sản xuất gồm bơm nước, giống, phân bón, nông dược, công lao động, phí cầu đường, thuế các loại... ngày càng cao trong khi giá bán nông sản bấp bênh. Một bất cập lớn mà người nông dân chịu thiệt thòi là họ phải bảo đảm an ninh lương thực cho đất nước nhưng không quyết định được giá nông sản, phần lớn lợi nhuận rơi vào túi của các nhà buôn.

Đầu tư công tập trung cho vùng đô thị hơn nhiều lần cho vùng nông thôn khiến người nông dân và con em của họ không được hưởng nhiều cơ hội học tập, hưởng thụ văn hóa, chăm sóc y tế, tiến bộ khoa học và thuận lợi về thủ tục hành chính. Chính sách cung cấp dịch vụ như dạy nghề, giải quyết việc làm, tín dụng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội... đến với người nông dân rất hạn chế. Nhiều vùng đất nông nghiệp bị quy hoạch thành nhà máy, cụm dân cư hay khu hành chính... khiến người nông dân bị thu hồi đất, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, khiếu kiện kéo dài làm kiệt quệ vốn liếng, sức lực và thời gian của người dân.


Nghèo do thiếu vốn, thiếu đất, thiếu tay nghề


Tình trạng thiếu vốn, thiếu đất và thiếu tay nghề là thiếu hụt lớn mang tính tự nhiên chung cho người nghèo. Người nông dân nghèo không đủ vốn cho đầu tư sản xuất và dự phòng tái sản xuất. Hệ thống tín dụng nông thôn hiện nay chưa hiệu quả khiến người nông dân phải mua giống, phân bón, thuốc trừ sâu theo kiểu mua chịu, trả góp hoặc trả cuối vụ với lãi suất cao.

Một yếu tố khác nữa liên quan đến cái nghèo là chất lượng dinh dưỡng trong đất ngày một giảm đi do liên tục thâm canh tăng vụ, đất đai bị ô nhiễm do phải sử dụng nhiều phân hóa học, nông dược. Nếu người nông dân chỉ biết độc canh trồng lúa, rau màu, nuôi cá thì không thể thoát nghèo. Họ thiếu tay nghề phụ, như sửa chữa cơ khí nông nghiệp, nghề mộc, nghề hồ, nghề thủ công, chế tác các phụ phẩm nông nghiệp như đan lát, hoặc chế biến nông sản để có một chuỗi giá trị cao hơn. Người nông dân rất ít sử dụng Internet và sách báo để có thông tin về nông sản và tiến bộ nông nghiệp.


Nghèo do thiên tai và phụ thuộc vào thiên nhiên


Sản xuất nông nghiệp và thủy sản ở ĐBSCL phụ thuộc lớn vào nguồn nước và các điều kiện khí hậu. Thiên tai cực đoan và hiện tượng nóng lên toàn cầu làm tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng có vẻ ngày càng rõ rệt với việc nhiệt độ tăng cao, phân bố mưa bất thường, gia tăng xâm nhập mặn và khô hạn. Các dự án thủy điện trên sông Mêkông, chuyển dòng chảy, mở rộng đất canh tác ở thượng nguồn là những nguy cơ cho người nông dân với tình trạng nghèo nước, nghèo phù sa và nghèo nguồn thủy sản.


Nghèo do một phần bản tính nông dân


Nông dân thực thụ vùng ĐBSCL là những người chịu khó và sáng tạo. Tuy nhiên, trong họ vẫn có những người an phận, chấp nhận sự bất cập của xã hội, tự nhiên. Một số có thói quen ăn nhậu, đua đòi, lười biếng, ít chịu tiết kiệm phòng xa lâu dài. Một số thanh niên nông thôn có muốn thoát ly quê nghèo, lên thành thị làm công cho những khu công nghiệp, nhưng tay nghề non yếu, tính kỷ luật công nghiệp kém và thói quen tuỳ tiện nên công việc của họ không ổn định.  Một số nông dân được một số tiền kha khá từ việc “bán” đất tại những dự án thì muốn sống an nhàn hoặc quay qua buôn bán, làm dịch vụ nhưng thiếu kinh nghiệm nên trong một thời gian ngắn, vốn hao hụt nhanh chóng và họ trở về tình trạng nghèo hơn. Ngoài ra, còn những yếu tố khác, như sự bất bình đẳng giới (tiền công cho nữ giới thấp hơn nam giới, kỳ thị giới...), bệnh tật không được chữa trị đúng mức nên sức khỏe giảm sút... là những điều kiện bất lợi đẩy tình trạng nghèo khó của nông dân thêm trầm trọng.


Xóa nghèo phải kiên trì liên tục


Vấn đề xóa đói giảm nghèo cho người nông dân vùng ĐBSCL không đơn giản, đòi hỏi chính quyền, nhà quản lý, tổ chức xã hội và nhà khoa học phối hợp thực hiện kiên trì, liên tục. Giải pháp giúp nông dân thoát nghèo cần đồng bộ và tổng hợp, bao gồm những điểm chính:

Thứ nhất, xem xét chủ trương chuyển đổi cơ cấu kinh tế vùng nông thôn, nên duy trì tỷ lệ phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, giảm tỷ lệ đầu tư công nghiệp và xây dựng, và tăng hợp lý hoạt động dịch vụ. Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng giá trị hàng hóa nông sản. Hoàn thiện Luật Đất đai theo hướng mở rộng quyền sử dụng hoặc tạo quyền tư hữu đất đai lâu dài và ổn định cho nông dân.

Thứ hai, đặt mục tiêu phát triển nông thôn và ưu đãi nông dân thành một chính sách lớn, đảm bảo người nông dân được quyền hưởng các dịch vụ lợi ích xã hội cho họ. Đầu tư nhân lực, phát triển hạ tầng giáo dục và y tế nông thôn; có chính sách ưu đãi cho trí thức về làm việc lâu dài ở vùng nông thôn. Hỗ trợ vốn cho các dự án xóa đói giảm nghèo, dạy nghề nông thôn và tạo điều kiện phát triển các nghề phụ ở nông thôn. Tạo điều kiện tốt hơn cho các nhà khoa học, các tổ chức xã hội trong và ngoài nước thúc đẩy các chương trình, dự án phát triển nông thôn nhằm tăng cường năng lực cho người nông dân và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.

Thứ ba, tạo điều kiện tốt cho người nông dân tiếp cận thông tin về thị trường nông sản, tiến bộ khoa học - kỹ thuật, pháp lý, bình đẳng giới, các kiến thức cơ bản về bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Duy trì môi trường sạch, đẹp và bền vững cho sinh thái vùng nông thôn; người dân nông thôn phải được cung cấp nước sạch, nguồn điện và các tiện nghi hạ tầng khác.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/146890

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam


Thùy Dung


Lãnh đạo hai nước trong buổi hội đàm. Ảnh: Kỳ Anh

(TBKTSG Online) – Tại buổi họp báo diễn ra trưa ngày 23-5, Chủ tịch nước Trần Đại Quang hoan nghênh quyết định của Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho hay, Việt Nam đánh giá cao quyết định này và đây là một bằng chứng cho thấy hai quốc gia đã bình thường hóa quan hệ hoàn toàn.

Tại buổi họp báo, Tổng thống Obama khẳng định Mỹ sẽ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí quân sự cho Việt Nam, vốn được áp đặt khoảng 50 năm qua, đồng thời nhấn mạnh rằng hành động này đã xóa đi "dấu tích dai dẳng của chiến tranh lạnh" và hai nước đã "phát triển được tới một mức độ tin cậy và hợp tác.

"Rõ ràng, hai nước hiện không nên duy trì lệnh cấm nào nữa", ông Obama nhấn mạnh và cho rằng Mỹ sẽ tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua vũ khí từ Mỹ.

Về những vấn đề khu vực và thế giới, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng thống Mỹ Obama nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế. Mỹ có thể hỗ trợ Việt Nam tổ chức hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) 17 cũng như trong nhiệm vụ giữ gìn hòa bình của Liên hiệp quốc.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho hay: "Chúng tôi tin rằng quan hệ Việt - Mỹ phát triển thịnh vượng không chỉ mang lại lợi ích cho từng nước mà còn có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương, thế giới và quan hệ ASEAN - Mỹ".

Theo Chủ tịch nước Trần Đại Quang, trong hơn 20 năm bình thường hóa quan hệ kể từ năm 1995, hai nước đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Về ngoại giao, từ thù địch, hai nước đã trở thành bạn, đối tác, tăng cường hợp tác song phương và đa phương, chia sẻ ngày càng nhiều các mối quan tâm chung, đặc biệt là an ninh trong khu vực.

Về hợp tác kinh tế, kim ngạch thương mại hai chiều tăng 130 lần. Mỹ là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 7 ở Việt Nam, và quan hệ hợp tác kinh tế hai nước còn có nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là sau khi hai nước tham gia Hiệp định Đối tác Thương mại Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tổng thống Obama cũng cho biết thêm Mỹ sẽ sớm trở thành nhà đầu tư lớn nhất. Thương mại song phương có tiềm năng phát triển, đặc biệt là khi TPP có hiệu lực.

Nói về tầm quan trọng của TPP đối với Việt Nam, Chủ tịch nước Trần Đại Quang cho hay TPP là một bước tiến mà Việt Nam tham gia để hội nhập với thế giới. Việt Nam đang cố gắng để thu hẹp những khác biệt dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau. Việt Nam tích cực chuẩn bị phê chuẩn TPP và cam kết sẽ thực hiện các điều khoản trong hiệp định.

Link:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/146764

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Nhiều sự kiện lớn tại MDEC Hậu Giang 2016



Quang cảnh buổi họp báo tại Cần Thơ chiều ngày 11-5-2016

(TBKTSG Online) - Diễn đàn Hợp tác kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) sẽ diễn ra tại TP. Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang từ ngày 11 đến ngày 15-7-2016 với nhiều sự kiện xoay quanh chủ đề “ĐBSCL chủ động hội nhập và phát triển”.

Tại cuộc họp báo chiều nay 11-5, ở Cần Thơ, ông Nguyễn Phong Quang, Phó Ban thường trực Ban chỉ đạo Tây Nam bộ là đơn vị chủ trì sự kiện này, đã đồng ý tổ chức thêm một hội thảo khoa học về giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL trong khuôn khổ diễn đàn.

“Đây là đề xuất thiết thực trong tình hình ĐBSCL đang đối phó với hạn và mặn”, ông Quang nói tại cuộc họp báo về diễn đàn, với tên gọi tắt là MDEC Hậu Giang 2016.

Trước đó, ông Trần Công Chánh, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hậu Giang, đề nghị ngoài các sự kiện đã được chuẩn bị, cần có thêm hội thảo này, để có thể tìm ra giải pháp giúp Hậu Giang và các tỉnh ĐBSCL khác ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn đang hoành hành.

“Đề nghị các nhà khoa học, các chuyên gia thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đồng chủ trì hội nghị này và đưa ra được giải pháp thiết thực giúp nông dân sản xuất trong hoàn cảnh đồng bằng thiếu nước ngọt và mặn xâm nhập như hiện nay”, ông Chánh nói.

Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ tán thành đề xuất này và cho biết bộ đã có đủ tài liệu khoa học liên quan tới đề tài tác động của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập ở ĐBSCL, kể cả việc quản lý và sử dụng nguồn nước ngầm.

“Chúng tôi cũng đã chuẩn bị đủ các mô hình xử lý nước ngọt, nước mặn cho ĐBSCL, sẵn sàng trưng bày và phổ biến tại hội thảo”, vị đại diện này nhấn mạnh.

Trong khi đó, đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nói nên lồng ghép nội dung này vào một hội thảo khác đã chuẩn bị chứ không cần tổ chức hội thảo riêng.

Theo ban  tổ chức, các sự kiện đã và đang được chuẩn bị tại MDEC Hậu Giang 2016 bao gồm: hội nghị ĐBSCL chủ động hội nhập và phát triển (sáng ngày 12-7); hội thảo về hoạt động tín dụng ngân hàng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ĐBSCL (chiều ngày 12-7); diễn đàn doanh nghiệp vùng ĐBSCL (sáng ngày 13-7); hội thảo sản xuất nông nghiệp công nghệ cao (chiều ngày 13-7); hội thảo  hỗ trợ và thúc đẩy ứng dụng, đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp theo chuỗi giá trị (chiều ngày 14-7).

Riêng tỉnh Hậu Giang còn tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Hậu Giang vào chiều ngày 11-7 và hội nghị sơ kết công tác bình ổn thị trường sáu tháng đầu năm 2016 giữa các tỉnh, thành ĐBSCL với TPHCM vào chiều ngày 14-7.

Ngoài ra, từ 11 đến 15-7-2016, MDEC Hậu Giang còn mở Hội chợ Công Thương khu vực ĐBSCL với quy mô 400 gian hàng.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/146287

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2016

LHQ kêu gọi quốc tế giúp Việt Nam ứng phó hạn, mặn



Trung Chánh



Phó tổng thư ký Liên hiệp quốc Jan Eliasson kêu gọi các tổ chức quốc tế giúp Việt Nam ứng phó với hạn, xâm nhập mặn. Trong ảnh là nông dân ĐBSCL đang tưới nước chống nóng cho cây trồng của mình. Ảnh: Trung Chánh

(TBKTSG Online) - Tại buổi làm việc với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) cùng UBND tỉnh Bến Tre chiều nay, 5-5, ông Jan Eliasson, Phó Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc (LHQ), đánh giá cao những nổ lực trong ứng phó với hạn, mặn của Việt Nam và kêu gọi các tổ chức quốc tế “giúp sức” trong thời gian tới.

Tại buổi làm việc nêu trên được tổ chức ở Bến Tre, ông Jan Eliasson cho rằng nước là vấn đề quan trọng nhất đối với cuộc sống của người dân và vì vậy nó cũng là nguyên nhân để các nước sử dụng chung nguồn nước hợp tác, chứ không phải cạnh tranh với nhau. “Ở nhiều nước có liên quan (sử dụng chung nguồn nước), thì rất cần có chương trình chung cho việc sử dụng nguồn nước”, ông gợi ý.

Theo ông Jan Eliasson, ông đánh giá cao những nỗ lực trong ứng phó với hạn và xâm nhập mặn của Việt Nam và người dân Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trong bối cảnh nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông về ĐBSCL thiếu hụt nghiêm trọng như hiện nay.

“Qua đây, chúng tôi cũng thấy mình phải có trách nhiệm trong vấn đề này và chúng tôi cần thúc đẩy mối quan hệ hài hòa giữa các nước trong cùng khu vực (sông Mê Kông) có điều kiện để nguồn nước thông nhau”, ông cho biết.

Theo ông Jan Eliasson, từ lâu ông đã theo sát các thông tin về Việt Nam và hôm nay khi có được một lượng thông tin cụ thể và rõ ràng hơn về những khó khăn do hạn và xâm nhập mặn gây ra cho người dân ĐBSCL, ông hứa sẽ chuyển thông điệp, những khó khăn này đến Hội nghị cấp cao về nhân đạo thế giới và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu chuẩn bị diễn ra để các tổ chức quốc tế có thể giúp Việt Nam.

Trước đó, tại buổi làm việc này, ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ NNPTNT, cho biết Chính phủ Việt Nam đã và đang huy động mọi nguồn lực để giúp người dân vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của hạn và xâm nhập mặn.

“Quan điểm của Chính phủ là không để cho một người dân nào bị đói và thiếu nước sinh hoạt”, ông nói.

Tuy nhiên, với diễn biến quá phức tạp của hạn và xâm nhập mặn, cho nên toàn vùng ĐBSCL vẫn có hàng ngàn hộ dân bị thiếu nước ngọt để sinh hoạt và có hàng trăm ngàn héc ta diện tích canh tác lúa bị thiệt hại.

Cụ thể, báo cáo của Bộ NNPTNT tại buổi làm việc cho thấy toàn vùng ĐBSCL hiện có 208.800 héc ta lúa, 9.400 héc ta cây ăn trái và 2.000 héc ta thủy sản bị thiệt hị do hạn, mặn; và có 225.800 hộ dân thiếu nước sinh hoạt.

Trước tình hình trên, Bộ NNPTNT đã đề nghị Quốc hội ưu tiên kế hoạch đầu tư trung hạn bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, giai đoạn 2016-2020 để thực hiện các dự án, hệ thống thủy lợi quy mô lớn nhằm phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp; phòng chống giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Ngoài ra, dành vốn đầu tư các công trình thủy lợi trọng điểm phòng chống hạn và kiểm soát mặn chưa có nguồn vốn ở ĐBSCL.

Cụ thể, bổ sung gần 18.000 tỉ đồng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, giai đoạn 2016-2020 để đầu tư các công trình phòng chống hạn và xâm nhập mặn, trong đó các công trình cấp bách cần đầu tư ngay năm 2016-2017 là 2.130 tỉ đồng; bố trí 16.883 tỉ đồng đầu tư các công trình thủy lợi trọng điểm phòng chống hạn, kiểm soát mặn đã đề xuất dự kiến đầu tư trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016-2020, trong đó, vốn ngân sách là 567 tỉ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ là 6.715 tỉ đồng và vốn ODA là 9.601 tỉ đồng.


Nguồn: http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/146041

GS Trần Văn Thọ: Quá nhiều nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ



GS Trần Văn Thọ

Đại học Waseda, Tokyo, Nhật Bản

Học tiến sĩ không phải để đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo; luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển kinh tế - xã hội.

Bài này GS Trần Văn Thọ viết để đóng góp vào Đề án cải cách giáo dục Việt Nam do một số trí thức trong và ngoài nước thực hiện vào năm 2008. Trao đổi với VnExpress, GS Thọ cho rằng nội dung bài viết đến nay vẫn còn giá trị. 


gs-tran-van-tho-qua-nhieu-nhan-thuc-sai-lam-ve-bang-tien-si
GS Trần Văn Thọ.

Một số nhận thức sai lầm về bằng tiến sĩ


Bằng tiến sĩ không phải nhằm đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo để cho phép nhà nước cấp kinh phí đi học tại chức lấy bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là bước cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học.

Nghiên cứu sinh không cần phải có ý kiến mới để được nhận vào chương trình tiến sĩ, nhưng nghiên cứu sinh phải có đủ trình độ để từ quá trình học, nắm được phát triển lý thuyết cơ bản và kiểm chứng lý thuyết bằng thực tiễn trong ngành trên thế giới, từ đó biết được vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp và từ đó có đóng góp mới về mặt học thuật.

Luận án tiến sĩ không nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế như làm sao thu hút đầu tư nước ngoài, hoặc làm sao một địa phương có thể trồng lúa ba vụ. Luận án tiến sĩ phải có tính học thuật (academic), triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả lý luận, kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Quan trọng nhất luận án phải có tính độc sáng (originality), đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới.

Từ những nhận định trên bài viết đề cập yêu cầu thẩm định lại trình độ của giáo sư hướng dẫn, và các trường, viện đào tạo hiện nay, chấm dứt ngay những cơ sở không có tư cách cấp bằng.

Một trong những căn bệnh trầm trọng mà chế độ giáo dục đào tạo của Việt Nam trong mấy mươi năm qua gây ra cho xã hội ta là làm lạm phát văn bằng tiến sĩ, là đưa chuẩn mực của học vị cao nhất trong khoa học này xuống mức thấp ngoài sự tưởng tượng của người làm khoa học nghiêm túc. Nhiều người, kể cả người viết bài nầy, đã cảnh báo, phê phán vấn đề này từ rất sớm và đã có nhiều đề nghị cải cách rất cụ thể và khả thi. Thế nhưng vấn đề này không được cấp lãnh đạo cao nhất quan tâm, còn các cơ quan quản lý trực tiếp, chủ yếu là Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì hầu như bất lực.

Gần đây nhà nước có vẻ đã thấy không thể không hành động trước tình trạng đã quá trầm trọng. Cụ thể là vào tháng 1/2008 Bộ Giáo dục đã công bố bản Dự thảo quy chế đào tạo tiến sĩ (dưới đây gọi tắt là Dự thảo). Đây là lần đầu tiên vấn đề đào tạo tiến sĩ được đặt ra tương đối nghiêm túc. Tuy nhiên, nội dung Dự thảo có nhiều điểm không khả thi, và nhiều điểm cho thấy người đặt chính sách chưa hiểu đúng ý nghĩa của việc đào tạo bậc tiến sĩ và yêu cầu của luận án tiến sĩ.

Mặt khác, Dự thảo chủ yếu nói đến việc xây dựng quy chế cho những cơ sở đào tạo mới và không đề cập đến việc xử lý những văn bằng tiến sĩ sản sinh trong quá trình vàng thau lẫn lộn vừa qua, cũng như không nói rõ vấn đề cải tổ, thanh lọc những cơ sở đào tạo ra đời trong bối cảnh bê bối hàng chục năm qua. Vì đã có nhiều dịp phát biểu ý kiến về vấn đề đào tạo và cấp bằng tiến sĩ, dưới đây tôi chỉ nêu lại một số vấn đề xét thấy cần đặt lại hoặc viết thêm trong giai đoạn hiện nay:

Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?

Thế nào là một luận án tiến sĩ?

Tiêu chuẩn của giáo sư hướng dẫn và cơ sở đào tạo tiến sĩ.

Việc đánh giá và cấp bằng tiến sĩ nên làm như thế nào?


Mục tiêu đào tạo tiến sĩ là gì?


Trong kế hoạch đào tạo 20.000 tiến sĩ (đến năm 2020), suy nghĩ của người làm kế hoạch khá đơn giản và không thực tế. Ngoài tính bất khả thi, ta thấy nhà nước có suy nghĩ rất đơn giản, để phục vụ nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần phải có một đội ngũ những nhà khoa học, cụ thể là đội ngũ của những người có học vị tiến sĩ. Không biết từ bao giờ đã có một quan niệm sai lầm rằng bất cứ người làm trong ngành nào, kể cả quan chức và những nhà lãnh đạo doanh nghiệp, người có học vị càng cao càng “lãnh đạo” giỏi.

Do quan niệm sai lầm này, nhà nước đã cấp kinh phí cho quan chức đi học (làm nghiên cứu sinh) tại chức để lấy bằng tiến sĩ, và xem văn bằng này là một trong những tiêu chuẩn để đề bạt lên chức vụ cao hơn. Do vậy quan chức tranh nhau đi học để lấy bằng và nạn học giả lấy bằng thật trở thành phổ biến. Quan điểm và chính sách này đã làm lãng phí nguồn lực xã hội và gây ra nạn lạm phát văn bằng tiến sĩ. Quan niệm sai lầm và chính sách chạy theo số lượng trong khi các tiền đề xây dựng cơ sở đào tạo chưa được xác lập đã hạ thấp (một cách kinh khủng) chuẩn mực văn bằng tiến sĩ là hệ quả đương nhiên.

Do đó hơn bao giờ hết cần xác định mục tiêu đào tạo tiến sĩ. Đó là tạo ra một đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu khoa học có thể được thực hiện ở đại học hoặc các viện nghiên cứu của cơ quan nhà nước hoặc của doanh nghiệp (nhất là nghiên cứu ứng dụng), nhưng người thuần tuý quản lý doanh nhgiệp hoặc quản lý hành chánh không cần văn bằng tiến sĩ. Dĩ nhiên có trường hợp một số quan chức hoặc lãnh đạo doanh nghiệp có bằng tiến sĩ.

Đó là trường hợp những người nguyên đã có dự định theo con đường nghiên cứu hoặc giảng dạy ở đại học nhưng sau đó tìm thấy khả năng của mình ở lãnh vực quản lý doanh nghiệp hoặc nhà nước. Cũng có trường hợp họ không thành công trong dự định ban đầu. Ở Nhật hay ở Mỹ người có bằng tiến sĩ khó tìm việc ở cơ qụan hành chánh nhà nước hoặc doanh nghiiệp hơn là người chỉ có bằng đại học (dĩ nhiên trừ trường hợp xin vào các viện nghiên cứu của doanh nghiệp hoặc của nhà nước).


Thế nào là một luận án tiến sĩ?  


Mới đây Bộ trưởng Giáo dục tuyên bố một câu được báo chí nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Nếu không tìm được vấn đề gì mới thì đừng đi học tiến sĩ”. Tôi ghi nhận chủ ý tích cực của câu tuyên bố này. Bối cảnh của tuyên bố này là tình trạng có nhiều luận án tiến sĩ chỉ là sự sao chép hoặc tổng kết các nghiên cứu của người khác và cần phải chấm dứt tình trạng này. Nhưng câu tuyên bố này khó hiểu đối với người làm khoa học, nhất là đối với người phụ trách đào tạo tiến sĩ nghiêm túc.

Ta có thể đặt lại vài câu hỏi sau: Thứ nhất, một người định thi vào bậc tiến sĩ (thi làm nghiên cứu sinh) có cần phải có sẵn một đề tài mới? Hay là đề tài mới chỉ được phát hiện trong quá trình học tập vất vả, phải biết vấn đề gì đã được nghiên cứu và cái gì chưa được giải đáp? Thứ hai, thế nào là “mới”? Có thể là mới trong một thực tiễn nào đó nhưng chẳng có ý nghĩa gì đối với khoa học. Chẳng hạn, làm sao để huy động vốn trong dân ở tỉnh A hay tại một thành phố B có thể là mới vì chưa ai nghiên cứu vấn đề cụ thể này nhưng đề tài tự nó chưa nêu ra được điểm gì mới về học thuật. Cần nói thêm là các đề tài luận án tiến sĩ kinh tế trong hơn 10 năm qua ở Việt Nam phần lớn có tính cách thưc tiễn và thiếu tính học thuật như vậy. Tôi đã víết khá chi tiết về điểm này trên Tia sáng (9/2003). 

Vậy trình độ của người được cấp bằng và chuẩn mực khách quan của luận án tiến sĩ là gì? Tiến sĩ là học vị cao nhất trong khoa học. Người được cấp bằng tiến sĩ do đó phải am hiểu các lý luận cơ bản, các khung phân tích trong ngành mình và nắm vững các khái niệm, các khung phân tích, các lý luận và những tiến triển nghiên cứu mới trong ngành chuyên môn hẹp của mình. Những kiến thức cơ bản này được trang bị từ các cấp bậc đại học và thạc sĩ, nhưng ở bậc tiến sĩ phải được tiếp tục ở trình độ cao hơn và nhất là phải có cơ chế kiểm tra nghiêm túc để bảo đảm cho ứng cử viên học vị này hội đủ các điều kiện đó.

Trình độ của ứng cử viên tiến sĩ được thử thách và được nhân lên trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án tiến sĩ. Ngoài tính khoa học, logic tất nhiên phải có, một luận án tiến sĩ phải có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là tính học thuật (academic) trong đó vấn đề phải được triển khai bằng ngôn ngữ khoa học, bằng những khung lý luận cơ bản trong ngành và gói ghém có phê phán tất cả các lý luận, các kết quả mà các công trình nghiên cứu trước đã đạt được liên quan đến đề tài của mình. Thứ hai là tính độc sáng (originality), luận án phải đặt ra được những vấn đề mới, đưa ra được những giả thuyết hay lý luận mới và kiểm chứng bằng những tư liệu mới. Cái “mới” trong khoa học là như vậy.

Cần nói thêm rằng đòi hỏi chính của luận án tiến sĩ là sự đóng góp về mặt lý luận và luận án là bằng chứng cho thấy ứng cử viên tiến sĩ có trình độ nghiên cứu độc lập, chứ không đòi hỏi phải giải quyết một vấn đề thực tế (dĩ nhiên nếu kết quả nghiên cứu góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn thì càng tốt nhưng đó là thứ yếu). Sau khi lấy bằng tiến sĩ, tùy theo nhu cầu công tác lúc đó mới cần nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Tại Việt Nam, chí ít là trong lãnh vực kinh tế, hình như đa số hiểu sai về ý nghĩa của luận án tiến sĩ. Các đề tài của một luận án tiến sĩ kinh tế học ở Việt Nam thường là "Những giải pháp để…” (chẳng hạn, những giải pháp để thu hút đầu tư nước ngoài phục vụ chiến lược công nghiệp hoá). Những vấn đề này dĩ nhiên có thể được chọn là đối tượng nghiên cứu nhưng đó chỉ là trường hợp được chọn để kiểm chứng một vần đề có tính cách lý luận chứ không phải nhằm để giải quyết một vấn đề thực tế.

Ở Việt Nam, được biết nhiều đề tài cấp nhà nước, cấp bộ tốn hàng tỷ đồng và huy động hàng chục nhà nghiên cứu nhưng ít có công trình trực tiếp giải quyết vấn đề thực tiễn mà tại sao lại kỳ vọng ở công trình của một nghiên cứu sinh? Các đề tài này chẳng nêu ra được những câu hỏi có tính lý luận nên chẳng có giá trị về mặt học thuật, và về mặt thực tế cũng chẳng thấy cơ quan nào của nhà nước đã tham khảo các luận án ấy. Thật ra một người tốt nghiệp đại học thuộc loại giỏi chỉ cần vài tháng là có thể hoàn thành một bản báo cáo về những đề tài như vậy. Trong thời gian qua ở nước ta các bản báo cáo như vậy vẫn được gọi là luận án tiến sĩ. Chất lượng tiến sĩ ở Việt Nam quá thấp là vì vậy.

Cũng do quan niệm sai lầm ở Việt Nam về việc “ép” nghiên cứu sinh phải chọn một đề tài về mới về thực tiễn (dù không có giá trị về học thuật) mà trong quá khứ một số đề tài liên quan đến an ninh, quốc phòng, được phép bảo vệ không công khai. Bản Dự thảo nói trên cũng có quy định về những trường hợp không công khai việc bảo vệ luận án tiến sĩ.

Theo tôi, mọi luận án tiến sĩ đều phải được công khai. Nếu vì an ninh hoặc quốc phòng thì không cho nghiên cứu sinh chọn những đề tài như vậy. Như đã nói ở trên, mục tiêu đào tạo tiến sĩ là xây dựng những con người khoa học có trình độ nghiên cứu độc lập và đảm trách việc giáo dục đại học chứ không phải là nhằm nghiên cứu một vấn đề thực tiễn áp dụng ngay cho việc phát triển xã hội, kinh tế. Những đề tài thực tiễn và cấp thiết như vậy thì nên giao cho người đã có khả năng nghiên cứu độc lập, kể cả người đã lấy bằng tiến sĩ.


Ông Trần Văn Thọ quê ở Quảng Nam, năm 1968 sang Nhật Bản du học. Ông lấy được bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Hitotsubashi, Tokyo. Ở lại Nhật, ông vào làm việc tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế Nhật Bản, sau đó làm phó giáo sư, rồi giáo sư Đại học Obirin, Tokyo. Từ năm 2000 đến nay, ông làm giáo sư kinh tế Đại học Waseda, Tokyo.


Năm 1990, báo chí Nhật đưa tin lần đầu tiên có ba người nước ngoài được mời làm thành viên chuyên môn trong Hội đồng tư vấn kinh tế của thủ tướng Nhật, ông Thọ là một trong ba người đó. Ông ở cương vị này trong gần 10 năm, qua nhiều đời thủ tướng Nhật.



Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/gs-tran-van-tho-qua-nhieu-nhan-thuc-sai-lam-ve-bang-tien-si-3396519.html