Chủ Nhật, 24 tháng 2, 2019

Đài Phát thanh và truyền hình Hậu Giang tự lực 70% kinh phí

Huỳnh Kim
Thứ Tư,  20/2/2019, 21:23 


(TBKTSG Online) - Sau 15 năm thành lập, đến nay Đài Phát thanh và Truyền hình Hậu Giang (HGTV) đã tự lực kinh phí được 70%.

Lễ kỉ niệm 15 năm thành lập HGTV chiều ngày 20-2. Ảnh: Huỳnh Kim

Trao đổi với TBKTSG Online chiều nay 20-2, tại Hậu Giang nhân lễ kỉ niệm 15 năm thành lập HGTV, ông Trần Anh Dũng, Giám đốc HGTV, cho biết như vậy.

So với năm 2004, thu nhập bình quân của 160 cán bộ nhân viên HGTV hiện nay đều đã tăng gấp 4 lần; nguồn chi cho phúc lợi tập thể và chính sách tăng 11 lần. Ông Dũng cho biết, ví dụ như nhuận bút năm 2004 chi hơn 600 triệu đồng thì năm 2018 hơn 12 tỉ đồng.

Nguyên nhân chính, theo ông Dũng, là do các chương trình của đài ngày càng thu hút lượng người xem và nghe, từ đó nguồn thu từ quảng cáo và tài trợ tăng lên. Các chương trình hấp dẫn là nhờ nhân lực được đào tạo, bồi dưỡng liên tục và có thiết bị hiện đại, đồng bộ.

Hiện nay, HGTV đã phủ sóng toàn quốc với chuẩn SD và HD 24/24 giờ, tương thích mọi thiết bị. HGTV có thể truyền hình trực tiếp trên mọi miền đất nước chỉ sau ít phút triển khai. Từ công nghệ 2D và ứng dụng 3D trong các chương trình live, HGTV đang hoàn thiện các khâu cuối cùng để thỏa mãn thị giác người xem với hình ảnh, kích thước, không gian như thật trong môi trường ảo.

Mở rộng hợp tác để tự lực lớn mạnh là hướng đi tới của HGTV. “Chúng tôi đang xây dựng HGTV trở thành kênh tin tức mạnh, nông nghiệp đặc sắc, giải trí hữu ích, ngày càng gần gũi, thiết thực, đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi tầng lớp nhân dân”, ông Trần Anh Dũng nhấn mạnh.

Dịp này, HGTV đã chính thức vận hành Trung tâm Kỹ thuật và Dự án nâng cấp số hóa truyền hình trị giá hơn 135 tỉ đồng.

* Đã đăng TBKTSG Onlien 20-2-2019:

Đại học Nam Cần Thơ sản xuất ô tô điện

Huỳnh Kim
Thứ Tư,  20/2/2019, 12:35 

(TBKTSG Online) - Sau dự án xây dựng bệnh viện đa khoa vừa khởi công trước Tết Kỷ Hợi, trường Đại học tư thục Nam Cần Thơ đã khởi công xây dựng showroom ô tô Nam Cần Thơ DNC vào sáng nay 20-2, tại khu dân cư Nam Cần Thơ (phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ).

GS.TS Võ Tòng Xuân đang giới thiệu với TBKTSG Online về dòng xe điện DNC 9 chỗ sử dụng năng lượng mặt trời tại lễ khởi công xây dựng Showroom ô tô của Đại học Nam Cần Thơ sáng 20-2. Ảnh: Huỳnh Kim

Trao đổi với TBKTSG Online, GS.TS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ, cho biết dự án showroom ô tô Nam Cần Thơ DNC phục vụ việc thực hành, thực tập, đưa đón sinh viên và hướng đến nhu cầu mua sắm ô tô điện ở ĐBSCL. Đây là dòng xe điện DNC 9 chỗ, sử dụng năng lượng mặt trời do khoa Cơ khí động lực nhà trường nghiên cứu chế tạo. 

Công trình rộng 5.400m2, kinh phí đầu tư hơn 155 tỉ đồng, do Đại học Nam Cần Thơ làm chủ đầu tư, Tập đoàn Nam Miền Nam (TPHCM) thầu thi công, Công ty TNHH tư vấn, thiết kế, xây dựng TAT thầu tư vấn thiết kế; dự kiến khánh thành vào tháng 12-2019. Giai đoạn 2, sẽ xây dựng gara sửa chữa ô tô, nâng cấp xưởng cơ khí ô tô thực hành, xưởng chế biến thực phẩm, nhà ở sinh viên.

Ông Xuân cũng cho biết, Nam Cần Thơ là trường đại học tư thục đầu tiên ở ĐBSCL có mô hình “doanh nghiệp trong nhà trường”. Trường đã phối hợp với Tập đoàn Nam Miền Nam sản xuất, kinh doanh kết hợp đào tạo kiến thức thực hành cho sinh viên các ngành Y - Dược, Kinh tế - Luật, Kỹ thuật - Công nghệ, Kiến trúc - Xây dựng và Môi trường…

Ngoài ra, trường cũng đang liên kết với nhiều tập đoàn lớn như Tập đoàn TaTa International, Tập đoàn ISUZU, Tập đoàn Vingroup… nhằm đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng mềm cho sinh viên từ năm thứ nhất đến khi tốt nghiệp.

* Đã đăng TBKTSG Online 20-2-2019:


Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2019

"Đường biên xanh cột mốc dựng bao đời"

Huỳnh Kim
Thứ Bảy, 16/2/2019, 15:40 

(TBKTSG Online) - Tháng 7-1985, mặt trận Vị Xuyên (Hà Tuyên, nay là Hà Giang) đang nóng bỏng. Kỉ niệm 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc (17-2-1979 / 2019), PV TBKTSG Online xin kể lại hầu bạn đọc hôm nay, vài mẩu chuyện ở mặt trận này vào thời điểm đó.

Tác giả đang cùng đồng đội Đoàn Quang Trung lên mặt trận Vị Xuyên, tháng 7-1985. Ảnh: Nguyễn Đình Chiến

Một ngày hè cuối tháng 7-1985, rời Mặt trận 979 ở biên giới Tây Nam, chúng tôi lên biên giới phía Bắc để viết phóng sự chiến trường. Sau gần 12 giờ ngồi xe đò từ Hà Nội, chiều tối vừa tới thị xã Hà Giang, đã nghe tiếng pháo ì đùng dội về từ hướng Bắc. Sáng hôm sau, quá giang xe của Đoàn Quang Trung, chúng tôi theo lộ 2 ra mặt trận Vị Xuyên.

Tại hầm chỉ huy hậu cứ, thiếu tá Trần Bản, phó đoàn trưởng Đoàn Quang Trung, trải bản đồ quân sự ra, nói dãy núi 1500 phân định rõ ranh giới hai nước với những điểm cao 1545, 1509, 772… thuộc lãnh thổ Việt Nam, nhưng quân Trung Quốc đã lấn chiếm một số điểm cao này và huy động các đơn vị pháo bắn phá dữ dội vào quân dân ta. Anh Bản kể chỉ riêng ngày 31-5-1985, quân Trung Quốc đã nã gần 50.000 quả đạn pháo. Với bộ binh, từ 22-5 đến 2-6, bộ đội Đoàn Quang Trung đã 4 lần đánh bại các đợt lấn chiếm của địch. Thảo nào, con lộ 2 hữu nghị dài 22 cây số lành lặn chạy ra cửa khẩu ngày nào, sáng nay đã bị pháo băm vằm loang lổ.

Anh Bản nói, bộ đội Đoàn Quang Trung đã cùng các đơn vị địa phương Hà Tuyên trấn thủ vùng biên nóng bỏng này và đã đánh thắng mọi hành động lấn chiếm của giặc. Các địa danh sau đây đã gắn liền với đá núi Vị Xuyên, với những tháng ngày chiến đấu kiên cường bảo vệ từng tất đất, mỏm đá biên cương Tổ quốc: ngã ba Thanh Thủy, hang Làng Lò, đồi Bốn Hầm, hang Suối Cụt, đồi Chuối, Cốc Nghè, Cửa Tử, điểm cao 2000, 1000, 1200, bình độ 300, 400, 685, đồi không tên…

Chiều hôm sau chúng tôi theo toán vận tải vượt Cửa Tử trên đèo Cốc Nghè để lên các điểm tựa tiền tiêu. Chiều tối, trời mưa nhẹ. Sấm giật rồi pháo địch ùng ùng, đường đạn bay dội vào vách núi ù ù như bão thổi. Đồng chí Thái, lính công binh đi cùng, nói đây là nơi ta và địch đã đánh giáp lá cà nhiều trận để giành lại từng mỏm đá. Thái kể, với lính vận tải, nhiều đêm, các anh phải lợi dụng ánh chớp của sấm sét hoặc ánh đạn pháo địch nổ hụt phía sau để vọt lên ở tư thế đang bò dốc để kịp rút ngắn đoạn đường. Cánh lính vận tải tính có cả chục kiểu vận tải tránh đạn pháo ở mặt trận này; không phải chỉ là đi tải, mà còn chạy tải, nhảy tải, bò tải, luồn lách tải… Miễn sao đưa kịp hàng hóa đạn dược lên chốt và cáng thương binh về tuyến sau.

Hôm sau chúng tôi theo đồng chí Lâm, lính trinh sát quê Gia Lâm, Hà Nội lên “chốt dựng” ở điểm cao 1000. Lâm kể, nơi đây từ 27 đến 31-5-1985, đơn vị anh đã đẩy lùi 3 đợt tiến công lấn chiếm của địch, giữ vững điểm tựa. Tới nơi, một đồng chí chỉ tôi xem một đỉnh núi loang lổ đất đỏ vì pháo địch. Đó là một điểm tựa, nhưng sau mỗi trận pháo lại thấy lính mình loáng thoáng trên đỉnh núi. Là vì ngay sau lưng điểm tựa là một thung lũng. “Cái khối chắn khổng lồ sau lưng mình buộc đạn pháo lọt thỏm hết xuống đó anh ạ. Cả đạn cối truyền đơn của nó cũng lao xuống đó rồi theo con suối Thanh Thủy cuốn phăng ra sông Lô luôn!”, Lâm nói.

Trong hầm chỉ huy đơn vị ở gần điểm cao 1200 hôm đó, chúng tôi càng hiểu hơn địa thế hiểm trở ở nơi này. Ba đỉnh núi nối liền là cụm điểm tựa tiền tiêu của đơn vị, đối mặt với những lô cốt địch thập thò dọc các dông núi đường biên giới đang bị giặc xâm lấn.

Khoảng 2 giờ chiều, anh Thịnh, phó chỉ huy đơn vị, đưa chúng tôi lên chốt trên cùng. Bên điểm cao trước mặt, địch đang bắn tỉa. Đạn rít qua đầu. Pháo từ bên kia biên giới cũng bắt đầu ầm ầm nã xuống khu Bốn Hầm. “Tới giờ hợp xướng của nó rồi đấy!”, anh Thịnh la lên, chúng tôi chạy vào giao thông hào. Đạn pháo từ Bốn Hầm nổ dội lên, cách mấy cây số mà nghe muốn ngạt thở, tức ngực.

Tôi hỏi một chiến sĩ, khẩu đại liên mới triển khai chiều nay của nó đặt ở đâu. Anh áp sát vách hầm, chỉ hướng dông núi 1200, khuất sau một mỏm đá, nói: “Ngay đó đấy. Lúc nãy thủ trưởng Thịnh đã cóc mấy quả M79, nó im, nhưng sau nó lại bắn tiếp”.

Khi pháo lớn đã im hẳn, chúng tôi quay về hầm chỉ huy. Bỗng đại liên địch lại ré lên tành tạch, anh Thịnh nói: “Cứ mặc cho nó bắn chỉnh súng trọn hôm nay. Mai ta sẽ tính!”.

Chúng tôi lại quây quần quanh cái bàn làm bằng gỗ hòm đạn. Ở góc hầm, có mấy hộp sắt ủ giá đậu xanh. Bây giờ nhiệm vụ ai người nấy làm. Tranh thủ “trời yên núi lặng” để người chỉ huy tiếp khách phương Nam một chút. Bát nước đường pha viên B1, thuốc lào rít liên tục… Anh Thịnh hỏi, gian khổ ác liệt nhất ở chiến trường giới Tây Nam, nơi quân tình nguyện Việt Nam đang làm nhiệm vụ giúp bạn Campuchia, là gì. Tôi nói: “Sốt rét, mìn và thiếu nước. Cũng như ở đây là pháo với pháo vậy!”. Anh Thịnh trầm ngâm: “Vậy là cùng tuyến lửa cả. Xin chia lửa với biên giới Tây Nam! Tôi có nhiều đồng hương Vĩnh Phú ở trong ấy”.

… Sau chuyến đi ấy, báo Quân đội nhân dân đăng bài thơ “Trên điểm tựa Một Ngàn” và bài ghi chép 3 kỳ “Gửi về đồng đội phía Nam”. Cuối bài báo, tôi đã viết: “Lần đầu tiên tôi về với biên cương phía Bắc. Lại là nơi nóng bỏng nhất của đất nước hôm nay. Nơi điểm tựa tiền tiêu này, lửa đã cháy trong tôi. Không chỉ là lửa tội ác của pháo đạn giặc. Còn là lửa sống của đồng đội tôi nơi đây. Lửa chiến đấu hết mình để giữ vững biên cương Tổ quốc. Lửa của tình đồng chí đồng đội và lòng thiết tha yêu quý hòa bình. Mùa lúa chín, con đường làng, lời mẹ dặn lúc ra đi, và em, và bạn, và trường lớp… tất cả là nỗi nhớ lung linh thành ngọn lửa trong ta, cùng cháy lên, nơi đây”. Còn bài thơ, thì như vầy:

Nơi đây tràn trề thế đất
Bao năm rồi chẳng bình yên
Pháo giặc bắn sang từ hướng Bắc
Trụi trần đất đá Vị Xuyên

Tôi đã sống một thời cao nguyên
Đã qua đôi mùa khô biên giới
Mà hiểu núi mà xót xa yêu núi
Là nơi đây sau lưng tôi Hà Giang

Mây phủ trắng đỉnh cao Hai Ngàn
Người bản Mèo rủ nhau về dưới thấp
Tựa vào đá tôi quay đầu nhìn khắp
Ruộng bậc thang mờ xanh cỏ tranh

Nơi đây nhiều tên đất nổi danh
Suối Cụt, Bốn Hầm, Cốc Nghè, Cửa Tử…
Pháo – phản pháo ngày đêm dồn ứ
Lồng ngực ta nung lửa chặn thù

Tôi chồm mình qua bờ chiến hào
Lấp loáng thượng nguồn sông Lô ánh đỏ
Ôi sông Lô tuổi học trò thuở nhỏ
Miền Nam xa tôi hát khúc sông Lô

Uống bát nước đường trong hầm điểm tựa
Đồng đội quây quần hỏi chuyện phương Nam
Bạn cầm tay tôi nhắn lời chia lửa
Khi nghe mùa khô Campuchia

Nơi đầy tràn trề thế đất
Vẫn cứ rạch ròi giữa trái tim tôi
Như sông Hậu sóng duềnh xa hút mắt
Đường biên xanh cột mốc dựng bao đời

Ngày 17- 2-1979, Trung Quốc bất ngờ đưa quân đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới Việt Nam, từ Pa Nậm Cúm (Lai Châu) đến Pò Hèn (Quảng Ninh) với chiều dài 1.200 km.

Ngày 5-3-1979, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ra lệnh tổng động viên toàn quốc. Cùng ngày, Trung Quốc tuyến bố rút quân nhưng vẫn chiếm đóng trái phép một số điểm cao ở Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và thường xuyên lấn chiếm bằng vũ trang.

Đến năm 1989, cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc mới kết thúc.

***

Ngày 15-2, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Hội thảo quốc gia “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc – 40 năm nhìn lại (1979-2019)”.

Theo TTXVN, 60 tham luận tại Hội thảo tập trung vào những vấn đề cơ bản, trong đó khẳng định sự thật lịch sử và tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Theo GS.TSKH Vũ Minh Giang (Đại học Quốc gia Hà Nội), “Cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc cần có vị trí xứng đáng trong các bộ lịch sử, sách giáo khoa”. Ông cũng nhấn mạnh: “Hoàn toàn không nhắc tới lịch sử, cho dù sự kiện ấy như thế nào sẽ đồng nghĩa với việc che giấu lịch sử, đều không thể và không nên làm. Trình bày khách quan, khoa học về cuộc chiến 1979 là cách tốt nhất để đầy lùi luận điệu xuyên tạc, dùng lịch sử để kích động, đồng thời cũng là cách tốt nhất để giáo dục thế hệ trẻ truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc ta”.

Tỉnh ủy Hà Giang cũng vừa tổ chức thông tin chuyên đề về 40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, nhất là những diễn biến tại mặt trận Thanh Thủy, huyện Vị Xuyên. Thông tin nhấn mạnh, cuộc chiến đấu anh dũng của quân và dân ta bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 mãi khắc ghi vào lịch sử giữ nước và xây dựng đất nước như một dấu son không thể phai mờ; là cuộc đấu tranh chính nghĩa bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc.

* Đã đăng TBKTSG Online 16-2-2019:




40 năm cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc (17.2.1979 - 17.2.2019): Chiến thắng của chính nghĩa

07:21 - 17/02/2019  Thanh Niên

Vào 3 giờ 30 sáng 17.2.1979, Trung Quốc huy động hơn 600.000 quân tiến vào lãnh thổ VN. Chúng ta bắt đầu cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc của Tổ quốc kéo dài suốt 10 năm sau đó.


Chia sẻ với Thanh Niên, thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2, Tham mưu trưởng mặt trận Vị Xuyên, cho biết khi Trung Quốc xua quân tràn qua lãnh thổ VN ngày 17.2.1979 với tuyên bố “dạy cho VN một bài học”, ông đang là Tư lệnh Sư đoàn 325, thuộc Quân đoàn 2 đang chiến đấu ở Campuchia. Khi cuộc chiến đấu bắt đầu, Quân đoàn 2 và Quân đoàn 3 được lệnh nhanh chóng ra phía bắc để phối hợp với quân đoàn 1 bảo vệ thủ đô và sẵn sàng ứng cứu.

Những ngày tháng 2.1979, từng đoàn quân tiến ra biên giới
Ảnh: Trần Mạnh Thường 

Tới năm 1985, ông Huy mới nhận lệnh lên mặt trận Vị Xuyên (Hà Tuyên, nay là Hà Giang) trực tiếp tham gia chiến đấu…

Cuộc chiến đấu kéo dài trong suốt 10 năm

* Nhiều người vẫn chưa hiểu vì sao vào năm 1979, Trung Quốc lại muốn “dạy cho VN một bài học” như cách họ tuyên bố, thưa ông?

Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy - Ảnh: Nam Trần

Từ đầu thập niên 1970 việc quan hệ Xô - Trung rạn nứt, Trung Quốc quay sang bắt tay với Mỹ đã ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa VN và Trung Quốc. Sau khi chúng ta thống nhất đất nước vào năm 1975, mối quan hệ giữa VN - Trung Quốc trở nên căng thẳng khi Trung Quốc liên tục gây hấn, khiêu khích ta ở biên giới mà đỉnh điểm là sự kiện nạn kiều năm 1978.

Tiếp đó, việc chúng ta thắng lợi trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và cùng quân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng Pol Pot vào đầu năm 1979 mà Trung Quốc là đồng minh, đã khiến Trung Quốc trực tiếp đánh ta với tuyên bố “dạy cho VN một bài học” nhưng thực chất là muốn cứu Pol Pot, giữ Campuchia trong tay của họ.

* Ông có nhớ cuộc chiến đấu đã diễn ra như thế nào khi 600.000 quân Trung Quốc tiến vào biên giới nước ta?

Rạng sáng 17.2.1979, Trung Quốc đã xua 600.000 quân tiến sang lãnh thổ VN ở cả 6 tỉnh biên giới phía bắc từ Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Lai Châu, Hà Tuyên (cũ), Quảng Ninh. Với lực lượng đông, lợi dụng yếu tố bất ngờ, những ngày đầu tiên, quân Trung Quốc đã thọc sâu vào nội địa của ta, gây ra rất nhiều thiệt hại. Có những nơi như Cao Bằng, quân Trung Quốc vào sâu tới hơn 40 km. Thị xã Cao Bằng rồi Lào Cai, Lạng Sơn hàng vạn ngôi nhà bị quân Trung Quốc đốt phá, nhiều người dân bị giết hại.

Tuy nhiên, sau những ngày đầu tiên, quân và dân 6 tỉnh đã đánh trả quyết liệt các đợt tiến công của quân Trung Quốc, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, làm thất bại các mục tiêu của Trung Quốc. Tới đầu tháng 3 khi thấy không đạt được mục đích cứu nguy cho Pol Pot, lại bị tổn thất nặng nề và nguy cơ có thể phải thương vong lớn hơn khi quân đoàn 2, quân đoàn 3 của VN đã hoàn thành nhiệm vụ ở Campuchia, được điều ra phía bắc, Trung Quốc đã tuyên bố rút quân. Tới ngày 18.3.1979, đúng 1 tháng sau khi phát lệnh tấn công thì quân Trung Quốc đã rút hết khỏi VN.

* Nhưng cuộc chiến không dừng lại ở đó?

Suốt 10 năm sau đó, cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc của chúng ta vẫn luôn căng thẳng khi Trung Quốc vẫn đánh chúng ta. Chúng dùng bộ đội biên phòng và bộ đội địa phương đánh chiếm một số điểm phòng ngự tại các tỉnh biên giới của ta. Đặc biệt là từ ngày 28.4.1984 cho tới tận năm 1989, Trung Quốc tập trung lực lượng hơn 500.000 quân tấn công ta ở mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang), biến nơi đây trở thành mặt trận ác liệt nhất trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía bắc kéo dài suốt 10 năm.

Khác với hồi 17.2.1979, Trung Quốc dàn quân khắp 6 tỉnh thì lần này, cuộc chiến đấu chỉ diễn ra trong khoảng 20 km chiều dài và 5 km chiều sâu. Lực lượng ta và địch lại xen kẽ, có nơi chỉ cách nhau khoảng 200 - 300 m, cứ đánh đi, giật lại liên tục, bám lấy nhau mà đánh, một ngày có thể đánh nhau 2 - 3 lần.

Hằng ngày, quân Trung Quốc bắn vào đất VN từ 30.000 - 50.000 viên đạn pháo lớn, có đợt trong 3 ngày liên tục chúng bắn tới 150.000 viên pháo để chi viện cho bộ binh tấn công vào các trận địa của ta. Trong 5 năm (1984 - 1989), Trung Quốc đã bắn tới 1,8 triệu viên đạn pháo lớn vào VN. Những ngọn núi đá trong khu vực tác chiến vỡ trắng như miệng các lò vôi, nên quân ta gọi là “lò vôi thế kỷ”.

Ác liệt là vậy nhưng chúng ta đã chiến đấu rất kiên cường. Ta với địch quần nhau ở Vị Xuyên tới 5 năm trời, nhưng 500.000 quân Trung Quốc cũng không xuống sâu lãnh thổ ta được quá 2 km và cuối cùng phải rút quân. Chúng bị thiệt hại hơn 10.000 quân, hàng ngàn tên bị thương và 350 tên bị bắt sống.

* Vậy thời điểm ông nhận lệnh lên mặt trận cũng là thời điểm ác liệt nhất của cuộc chiến?

Tôi nhớ lúc tôi nhận quyết định của đại tướng Hoàng Văn Thái, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng khi ấy, thì tình hình tại mặt trận Vị Xuyên đang rất nhiều khó khăn, vì anh em khá bi quan, cho rằng nếu địch đánh thì ta mất, còn ta có đánh lại mà bị địch phản kích thì cũng không giữ được.

Điển hình nhất là trận ngày 12.7.1984, chúng ta tổ chức đợt tấn công của 3 trung đoàn đánh chiếm 3 cao điểm 1509, 233 và 1030. Mặc dù chúng ta đã huy động lực lượng đánh được một phần nhưng khi địch phản công lại gây ra thương vong rất lớn cho ta. Chỉ riêng trận ngày 12.7 có tới 700 - 800 anh em hy sinh. Vì vậy, sau này anh em vẫn gọi ngày này là ngày “giễu trận”, cứ ngày đó là anh em thắp hương cho các đồng đội. Sau đó, chúng ta phải nghiên cứu thay đổi cách đánh, lựa chọn những cao điểm có thể đánh được và giữ được để giúp binh sĩ ta lấy lại tinh thần. Điển hình như các trận chiếm cao điểm A-6B (30.5.1985), hay chiếm lại khu vực Pa Hán (24.9.1985)… Đây cũng là những trận đánh tạo ra bước ngoặt trong cuộc chiến đấu ở mặt trận Vị Xuyên.

Đây là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc

* Như vậy, trong 10 năm, chúng ta đã 2 lần phải dùng quyền tự vệ để đánh trả trước sự xâm lấn của Trung Quốc chứ không phải như Trung Quốc tuyên bố “phản kích” để “tự vệ”?

Phải khẳng định cuộc chiến tranh 10 năm 1979 - 1989 là cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc đối với VN. Đối với chúng ta, đó là cuộc chiến đấu vì chính nghĩa chống xâm lược bảo vệ biên giới Tổ quốc. Việc Trung Quốc gọi đây là cuộc phản kích tự vệ của họ thực chất chỉ là luận điệu lừa bịp, vì cả 2 lần (lần thứ nhất là ngày 17.2.1979 và lần thứ 2 là 28.4.1984), Trung Quốc đều chủ động tấn công, xâm lược chúng ta còn chúng ta chỉ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, trong một thời gian dài, chúng ta ít nói tới cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, nhất là cuộc chiến Vị Xuyên - Hà Tuyên. Vì vậy, tôi cho rằng đã đến lúc phải nói rõ cho nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ biết tường tận về cuộc chiến tranh biên giới để giáo dục về lòng tự hào. Không có cuộc chiến đấu suốt 10 năm ấy chúng ta sẽ không giữ được biên giới, giữ được sự toàn vẹn lãnh thổ của mình. Đồng thời đây cũng là bài học cảnh giác, không chỉ đối với Trung Quốc mà còn với bất kỳ thế lực nào muốn xâm chiếm nước ta.

* Trong những năm tháng ác liệt ấy, thương vong của hai bên hẳn là không ít, thưa ông?

Chẳng ai muốn chiến tranh, vì chiến tranh là thiệt hại. Thắng cũng thiệt hại mà thua cũng thiệt hại. Chúng ta rất muốn hòa bình, rất muốn hữu nghị với Trung Quốc vì có lúc họ cũng đã giúp chúng ta rất nhiều. Vì thế, khi chúng ta giành được độc lập chúng ta không quên họ, chúng ta đã làm tất cả để gìn giữ mối quan hệ hòa bình, hữu nghị giữa hai nước. Tuy nhiên, họ không thể vì đã giúp chúng ta trong chiến tranh hay vì thế nước lớn mà đưa quân xâm lấn biên giới, lãnh thổ nước ta. Không phải chúng ta muốn gây sự với Trung Quốc mà chúng ta bất đắc dĩ phải đánh trả để tự vệ, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta nhường nhịn, nhún nhường nhưng không thể nhún quá để họ bắt nạt, ăn hiếp mình.

* Tới hôm nay đã tròn 40 năm kể từ khi chúng ta bắt đầu cuộc chiến đấu tự vệ, bảo vệ biên giới phía bắc của Tổ quốc, có còn điều gì khiến ông trăn trở về cuộc chiến này?

Sau 40 năm cuộc chiến đấu, nhờ có sự hòa bình, ổn định trong quan hệ giữa 2 nước, cuộc sống của người dân ở khu vực biên giới đã thay đổi rất nhiều. Tuy nhiên, điều khiến tôi thấy rất đau là vẫn còn hơn 2.000 chiến sĩ, đồng đội hy sinh nằm lại trên chiến trường Vị Xuyên mà chúng ta vẫn chưa đưa về được. Vì thế, điều tôi mong muốn nhất lúc này là đưa được hài cốt của anh em về để họ được yên nghỉ.

40 năm thay da đổi thịt

Cầu Bằng Giang, cây cầu huyết mạch của TX.Cao Bằng, bị địch phá hủy (trái)
và được xây dựng lại đẹp hơn xưa
ẢNH: TTXVN - CAO BẮC
TX.Lào Cai bị quân Trung Quốc đánh phá (trái) và nay đã được nâng cấp trở thành TP.Lào Cai
Ảnh: Tư liệu TTXVN
TX.Lạng Sơn bị tàn phá bởi quân Trung Quốc (trái) và sau 40 năm là TP.Lạng Sơn với hạ tầng phát triển
Ảnh: TL - Lưu Quang Phổ

Tin liên quan


Trong lịch sử VN, cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía bắc từ 1979 - 1989 là một trong những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhất của VN. Bởi lẽ, cuộc chiến này diễn ra trong 10 năm và tổn thất của chúng ta rất lớn, tuy nhiên, chúng ta chiến đấu kiên cường, bản lĩnh và giữ được toàn vẹn lãnh thổ. Đây cũng là một chiến thắng vĩ đại của quân và dân VN chống quân Trung Quốc xâm lược. Dù người ta có dùng luận điệu “dạy cho VN một bài học” hay cuộc chiến “phản kích tự vệ” thì việc tới 600.000 quân tiến sâu vào lãnh thổ của VN, san phẳng 5 thị xã dọc biên giới từ Móng Cái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Phong Thổ… giết hại nhiều người dân, phá hoại rất nhiều công trình của chúng ta thì phải nói đó là cuộc chiến tranh xâm lược.

(Thiếu tướng Lê Mã Lương, Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự VN)

Các nhà sử học khẳng định chính Trung Quốc đã khởi đầu cuộc chiến tranh và chiến sự diễn ra chủ yếu trên lãnh thổ VN. Bên cạnh đó, giới sử gia cũng đồng tình rằng cuộc chiến nếu không phải là một Thoth bại hoàn toàn đối với Trung Quốc, thì cũng là một sai lầm tốn kém cho những mục đích rất mơ hồ là trừng phạt VN vì đã lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, đồng minh của Trung Quốc khi đó đồng thời cũng là bạo chúa đẫm máu nhất trong thế kỷ 20.


(Howard W.French trong bài viết Was the War Pointless? China Shows How to Bury It đăng trên The New York Times ngày 1.3.2005)

* Đã đăng Báo Thanh Niên Online 17-2-1019:

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2019

Cuối năm bàn chuyện làm nông

Huỳnh Kim
Thứ Hai,  4/2/2019, 11:14 

(TBKTSG Online) - Cắt bỏ trái sai cành; ngồi nhà bấm điện thoại di động điều khiển tưới tiêu ngoài ruộng; dự hội thảo bàn chuyện chuyển tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp… Những việc làm này không còn xa lạ với nhiều nông dân đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Giúp nhà nông làm chuyện này cần sự đồng hành của nhiều “nhà” khác.



Khách du lịch trong vườn quýt hồng ở tỉnh Đồng Tháp. Ảnh: Đào Loan.

Chiều ngày 3-2 (29 Tết Kỷ Hợi), trao đổi với chúng tôi về đề tài này, ông Lê Minh Hoan, Bí thư tỉnh Đồng Tháp, cho biết trong làn sóng cách mạng 4.0, Đồng Tháp phải lo nhiều hơn chuyện giúp bà con nông dân không bị bỏ lại phía sau. Trong đó có việc hưởng ứng đề án “Hệ tri thức Việt số hóa” của Chính phủ, Đồng Tháp đã đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ điện thoại thông minh cho nông dân. Ở Đồng Tháp, một nhóm thanh niên chuyên lo tập huấn cho nông dân sử dụng điện thoại thông minh để làm nông mà không phải suốt ngày ở ngoài đồng ruộng.

“Hiện nay nhiều nông dân Đồng Tháp đã sử dụng điện thoại thông minh để điều khiển hệ thống tưới tự động cho cam, quýt, xoài… Chúng tôi muốn chuyện này phổ biến hơn”, ông Hoan nói.

Ông Hoan kể, khi khảo sát Hợp tác xã (HTX) Xoài Mỹ Xương ở Cao Lãnh hôm 12-6-2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã kể chuyện làm nông kiểu 4.0 ở nông trại Yokoyama (tỉnh Aichi, Nhật Bản), nơi Thủ tướng vừa tới thăm.

Nông trại này chỉ có 15 nhân công, làm 1,2ha dưa lưới và cà chua nhưng hàng năm thu lãi 350.000 - 400.000 đô la (hơn 8 tỉ đồng). Trong tay 15 nông dân này luôn có hàng trăm trang web là địa chỉ tiêu thụ sản phẩm.

Chưa nói về công nghệ cao, Thủ tướng chỉ nhấn mạnh với bà con xã viên HTX Xoài Mỹ Xương: “Một dây dưa có rất nhiều quả nhưng để bảo đảm chất lượng thì họ đã cắt hết, chỉ để lại một quả. Một quả dưa của họ có giá từ 800.000 đồng đến một triệu đồng. Tôi nói điều đó để thấy rằng kinh nghiệm nâng cao chất lượng, thương hiệu, mở rộng thị trường tiêu thụ và đặc biệt là áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý tốt thì nhất định sẽ thành công”. Một chi tiết nhỏ nói lên quan hệ giữa chất lượng, số lượng, giá trị gia tăng… trong thời làm nông kiểu 4.0.

Ở Đồng Tháp, từ năm 2017, Tỉnh ủy đã họp chuyên đề và đến nay UBND tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động để liên kết nhà nông với doanh nghiệp, nhà khoa học cùng chính quyền địa phương thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo xu hướng 4.0. Nói như Tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ, Việt kiều Canada, Chủ tịch Tập đoàn Rynan Holdings JSC chuyên ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp: “Ở Đồng Tháp, từ bí thư, chủ tịch tỉnh đến giám đốc các sở, người nào cũng rất tâm huyết với quê hương của họ trong chuyện này”.

TS Nguyễn Thanh Mỹ cho biết ông đang cùng nông dân Trà Vinh, Đồng Tháp ứng dụng nhiều giải pháp dựa trên nền tảng công nghệ 4.0 để canh tác lúa và hoa màu. Làm kiểu này, theo ông Mỹ, sẽ giảm được hơn 30% nước tưới, hơn 40 % phân đạm, hơn 50% tiền công, hơn 50% thuốc bảo vệ thực vật, hơn 40 % khí nhà kính; tăng năng suất 10-20% và tăng doanh thu 100% với mô hình canh tác lúa - vịt.

“Nông dân mình rất thông minh, bà con sẽ làm được khi có hướng dẫn phù hợp. Thông qua các cơ quan chuyên về quản lý nông nghiệp cấp tỉnh, chúng tôi đang cùng hàng trăm ngàn bà con nông dân sử dụng điện thoại thông minh để cho ra sản phẩm đáp ứng được chuỗi giá trị gia tăng và nâng cao thu nhập”, ông Mỹ nói.

Trong mối liên kết này, vào tháng 6-2018, TBKTSG và UBND tỉnh Đồng Tháp đã đồng tổ chức hội thảo “Giúp nông dân làm kinh tế nông nghiệp” với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, chuyên gia, nhà quản lý và hàng trăm bà con nông dân Đồng Tháp từ 81 đầu cầu trực tuyến.

Tại đây, các đại biểu đã nhất trí rằng thời làm nông 4.0 này, muốn thắng, người nông dân phải xóa bỏ “tư duy mùa vụ”, doanh nghiệp phải xóa bỏ “tư duy thương vụ” và các cấp lãnh đạo chính quyền phải xóa bỏ “tư duy nhiệm kỳ” thì liên kết mới bền vững.
Ở Cần Thơ, nơi đang giảm dần làm nông truyền thống và đang quy hoạch xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao, mấy năm nay đã diễn ra nhiều hội thảo về đề tài này, nhằm kết nối cho được nhà nông với nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và chính quyền các địa phương vùng ĐBSCL.

Tại một hội thảo hôm 28-12-2018, GS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Trường Đại học Cần Thơ, cho biết nhà trường sẵn sàng thực hiện theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp và địa phương với những ký kết cụ thể để thực hiện việc giúp nông dân làm nông theo kiểu 4.0. Trong đó, Đại học Cần Thơ luôn bắt đầu từ việc đào tạo nguồn nhân lực ngay trong thực tế, yếu tố quyết định cho sự thành công của câu chuyện này.

Bến Tre, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Hậu Giang… cũng đang có những dự án, chương trình liên kết làm nông theo hướng gắn kinh tế xanh với nông nghiệp công nghệ cao. Ở Hậu Giang, nhiều doanh nghiệp đã cùng bà con nông dân đưa ra thị trường trong nước và xuất khẩu được một số đặc sản tươi và chế biến như cá thát lát, mãng cầu xiêm, dưa lưới, khóm, xoài… từ những cánh đồng, nhà lưới sản xuất theo công nghệ mới.

Mấy năm nay, nhiều cơ quan báo chí cũng đã tham gia truyền thông mạnh hơn về mối liên kết này. Riêng với nhóm TBKTSG, theo kế hoạch, ngày 8-3-2019, TBKTSG sẽ phối hợp với UBND tỉnh Hậu Giang và Đài Truyền hình Hậu Giang tổ chức một hội thảo với chủ đề “Giúp nông dân làm nông thông minh”.

Trao đổi với TBKTSG Online xoay quanh câu chuyện liên kết làm nông thời 4.0, GS.TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, nhấn mạnh: “Trước hết, chính quyền các địa phương không nên để doanh nghiệp tự mua đất rồi “đuổi” nông dân đi để muốn làm bao nhiêu nhà màng, nhà lưới thì làm”.

Ông Xuân đề xuất, phải tìm cách đưa công nghệ mới vào tay người nông dân để họ làm trực tiếp, sát với thực tiễn và thu được lợi. Thí dụ với những cây trồng ngắn ngày trong nhà màng thì có thể đầu tư nhà màng cho một nhóm nông dân để họ cùng làm. Hoặc đầu tư cho cây lúa thì nên bón phân lót bằng phân hữu cơ vi sinh do doanh nghiệp cung cấp để nông dân làm ra lúa có chất lượng tốt nhất. Ở đây, theo GS Xuân, trách nhiệm của chính quyền địa phương, tức ông “nhà nước”, phải rõ ràng trong việc ban hành các chính sách liên quan, có lợi cho cả nông dân và doanh nghiệp.

“Còn nhà khoa học thì phải làm việc với cả hai “nhà” kia. Vì nhà doanh nghiệp phải tham khảo nhà khoa học trước để sau đó nhà khoa học ngồi lại thỏa thuận với nhà nông cho ra được một cái quy trình áp dụng VietGAP hay GlobalGAP sát thực tế nhằm giúp nông dân làm đúng quy trình này chớ không nên làm theo cái cũ nữa”, GS Xuân nhấn mạnh.

“Trong nền kinh tế thị trường, người nông dân đâu chỉ cần đến kỹ năng nghề nghiệp mà còn phải hiểu rằng sản phẩm sẽ có giá trị gia tăng cao hơn nếu có được hàm lượng tri thức.

Trong mua bán, người nông dân còn phải biết cơ bản về quy luật cung cầu để tìm cách tối đa hoá lợi nhuận bằng cách tối thiểu hoá chi phí và nâng cao chất lượng nông sản do mình làm ra.

Trong sinh hoạt hàng ngày, nếu biết sử dụng chiếc điện thoại thông minh nhỏ xíu thì mỗi người nông dân có thể tối ưu hoá cuộc sống và nghề nông của mình.
Câu chuyện phát triển bền vững đâu chỉ trong các diễn đàn mang nặng tính hàn lâm, mà phải làm sao đến được người nông dân, những người mới thật sự làm nên sự bền vững”.

Lê  Minh Hoan - Bí thư tỉnh Đồng Tháp

* Đã đăng TBKTSG Online 4-2-2019:

Cánh bướm nâu

Huỳnh Kim
Chủ Nhật,  3/2/2019, 08:40 


(TBKTSG Xuân AL) - Vào những ngày Tết, mọi gia đình có truyền thống tề tựu tưởng nhớ đến tổ tiên và những người thân đã khuất. Nhưng cũng không ít gia đình vẫn trăn trở khi không biết người thân của mình còn nằm lại đâu đó nơi đất lạ quê người. Thầm nghĩ Bắc Trung Nam đâu cũng là nhà, nhưng vẫn thấy ngậm ngùi vì đã mấy chục năm đất nước hòa bình thống nhất mà vẫn còn bao kiếp người tha hương.


1. Vậy là đất nước đã hòa bình thống nhất được hơn bốn mươi năm. Hơn nửa đời người đã trôi qua. Trong quãng đất trời thăm thẳm ấy, trước khi chuyển về làm việc cho Thời báo Kinh tế Sài Gòn, hai mươi năm tôi đã mặc áo lính. Tôi nhập ngũ ở Quân khu 7, đi học sĩ quan ngoài Bắc, về phục vụ ở Quân khu 9 và Mặt trận 979.

Hai mươi năm đời lính, có nhiều năm tháng ở mặt trận Tây Nam trên chiến trường Campuchia và cả ở biên giới phía Bắc, hướng Hà Giang và Lạng Sơn. Trong những tháng ngày chiến chinh gian nan ở hai đầu đất nước, có biết bao chàng trai trẻ như tôi, đã ra đi không trở về. Tôi may mắn còn nguyên lành, chuyển về làm việc ở TBKTSG từ năm 1996. Thế nhưng sau những trận sốt rét ác tính kinh hoàng trong những mùa khô biên giới Campuchia - Thái Lan, tôi lại hay trầm tư suy nghĩ mông lung về sự tồn tại của một kiếp người.

Trong cái cõi tâm linh mơ hồ đó, dù đã giã từ vũ khí, nhưng tới năm 1998, tôi lại xung phong làm một việc mà cho tới bây giờ, câu chuyện ngày ấy vẫn cứ đong đưa lặng lẽ ở trong lòng mỗi khi tôi ngẫm nghĩ về thời gian, sự sống và cái chết.

Chuyện về người cha vợ của tôi, dân Cần Thơ tập kết ra Bắc năm 1954, là trung úy ở sư đoàn 338, sau chuyển ngành về Khu Gang thép Thái Nguyên rồi bị bệnh chết năm 1969, lúc 50 tuổi, mai táng trên núi Chùa thuộc tỉnh Bắc Thái lúc bấy giờ, nhưng mãi 29 năm sau hài cốt mới được đưa về Nam.

2. Câu chuyện bắt đầu từ một giấc mơ.

Đêm hôm ấy, khoảng hai giờ sáng, lần đầu tiên trong đời, chị Dần nằm chiêm bao thấy một ngôi mộ hoang. Mộ um tùm cỏ dại, nằm ven một ngọn đồi, dưới chân đồi là ruộng lúa. Có một con bướm nâu to bằng lòng bàn tay bay theo chị rồi đậu trên mộ. Chị Dần tỉnh dậy, thấy sợ, kể lại giấc mơ với người chị vừa từ Cần Thơ ra. Chị Liên làm ở tòa án tỉnh Cần Thơ, về quê Thái Nguyên nghỉ hè, nghe giấc mơ của cô em dâu, mới bảo, chuyến này về chị cũng muốn đi tìm mộ giúp cho gia đình một người bạn ở Cần Thơ, rồi đưa tấm sơ đồ mộ chí bạn gửi theo cho chị Dần xem. Lật tấm sơ đồ cũ nát gửi từ Bắc Thái về Cần Thơ sau năm 1969, chị Dần lơ mơ đoán ra địa danh núi Chùa, một ngọn núi thấp ở thôn Hương Chùa, xã Hà Châu, huyện Phú Bình, cách thị trấn Ba Hàng, huyện Phổ Yên chỗ nhà chị hơn mười cây số. Nhớ lại giấc mơ có con bướm nâu lạ lùng, chị Dần bảo để mình đi tìm mộ thay cho chị Liên.

Sáng ra chị Dần đạp xe vào Phú Bình, dọc đường mua ít nhang đèn. Vào tới núi Chùa, hỏi những người dân làng, biết trên núi có một khu mộ cũ có mai táng bộ đội miền Nam tập kết vốn là cán bộ Khu Gang thép Thái Nguyên. Lang thang tới trưa, chị Dần gặp ông Kiếm, một nông dân nhà ở gần khu mộ. Bác Kiếm đưa chị ra triền núi, bảo nơi đây còn nhiều mộ của “các cụ bộ đội tập kết ngày xưa”. Tiếc là không nấm mộ nào còn bia, cái nhỏ cái to ngập tràn cỏ dại. Chị Dần lo âu, lâm râm khấn: “Lạy cụ Thạnh, linh thiêng xin cụ báo cho con gặp được mộ phần”. Chợt có một con bướm nâu chấp chới bên mình, con bướm to bằng lòng bàn tay, chị Dần lại khấn: “Linh thiêng, xin đậu lại”. Không ngờ con bướm nâu bay tiếp một đoạn rồi đáp xuống ngôi mộ cuối cùng. Chị Dần giật mình khi nhìn thấy một phần mộ quạnh hiu đầy cỏ dại nằm kề bên bờ ruộng, cảnh tình giống y như trong giấc chiêm bao đêm hôm qua. Thế rồi chị Dần thắp nhang cúng vái bên nấm mộ và hẹn với bác Kiếm sẽ quay lại.

3. Nhà tôi ở khu gia binh Trần Khánh Dư cũ, thuộc phường Xuân Khánh, cách nhà mẹ vợ tôi chừng 5 cây số trong ấp Lợi Nguyên, xã An Bình, Cần Thơ. Sáng sớm ngày 24-8-1998, khi đang chờ xe về Sài Gòn để bay ra Hà Nội, đi Thái Nguyên thì mẹ vợ tôi điện thoại ra. Mẹ vừa nói vừa khóc, rằng đêm qua mẹ nằm mơ gặp cha tôi, tướng mạo y như trong tấm hình tôi phóng to mang theo, mặc đồ đại cán, quân hàm trung úy. Ông nhắc mẹ nhớ dặn tôi là “khi tìm gặp mộ, đào lên rồi phải rửa xương cho thiệt kỹ trước khi tẩm liệm đưa về”.

Tôi khoác ba lô lên đường mà bụng dạ cồn cào hình ảnh giấc chiêm bao của mẹ. Hồi tiễn chồng đi tập kết, mẹ mới 25 tuổi, là một hoa khôi y tá của trường Thiếu sinh quân Quân khu đóng ở Cà Mau. Ngày đó, mẹ đang mang thai Lệ Thanh, con gái út, còn người anh trai thì chưa đầy hai tuổi. Vậy là hai cha con Lệ Thanh - vợ tôi bây giờ - từ hồi đó, đã không biết mặt nhau.

Hôm sau tôi lên Thái Nguyên, tìm gặp anh Huấn, chị Dần. Chưa từng biết nhau mà khi gặp nhau, cứ như là chuyện của anh em ruột thịt trong nhà. Ba người con của anh chị đang học ở Hà Nội. Trưa hôm đó anh Huấn chở tôi lên nhà bác Kiếm, rồi tìm gặp cả bà Vụ, chủ đất khu mộ bên triền núi Chùa. Bác Vụ đã gần bảy mươi, kể rằng mười năm trước khi vỡ hoang khu đồi núi này để trồng sắn, nhà bác đã gặp dãy mộ, nhưng bia thì cái còn cái mất. Riêng phần mộ cuối chân đồi, tấm bia đã đổ bể, bác chỉ còn nhớ là bia có ghi quê người mất ở Cần Thơ. Sợ dân chăn trâu lấy cắp, bác đưa tấm bia bể lên gửi trong nhà chùa trên đồi nhưng bây giờ chẳng hiểu sao nó cũng không còn nữa.

Nhìn những nấm mộ buồn hiu liêu xiêu bên triền đồi trong buổi chiều trung du hoang vắng, tôi chợt nghe lạnh cả người. Thầm nghĩ Bắc Trung Nam đâu cũng là nhà, nhưng vẫn thấy ngậm ngùi vì đã mấy chục năm đất nước hòa bình thống nhất mà vẫn còn bao kiếp người tha hương, chưa sum họp gia đình, lạnh lẽo nắm xương tàn xa xứ. Lại nghe lòng thoáng nỗi hoài nghi. Trong mười một nấm mộ này, Trung úy Trần Hữu Thạnh yên nghỉ chính xác ở chỗ nào, dù trong sơ đồ ghi rõ “mả ông Thạnh” nằm ở cuối cùng phía Nam triền núi.

Anh Huấn, bác Kiếm, bác Vụ và cả ông Sở, Chủ tịch xã Hà Châu, đều khuyên tôi nên mời thêm thầy cúng xin âm dương chứng giám để cho lòng được thanh thản. Vậy là chúng tôi tìm tới nhà ông thầy Thiều bên thôn Châu Tuấn.

Chuyện tôi không thể nào quên là trưa hôm sau, vừa khi ông thầy Thiều khấn vái gieo trúng hai đồng tiền sấp ngửa thì có một con bướm màu nâu to bằng lòng bàn tay của tôi, chấp chới quanh ngọn khói nhang. Chợt nhớ tới giấc mơ của chị Dần, tôi nhắm mắt khấn thầm: “Có phải linh hồn Trung úy Thạnh, xin đậu lại”. Lạ thay, khi tôi vừa mở mắt ra, con bướm nâu cũng vừa đáp xuống bờ cỏ trên nấm mồ trước mặt.

4. Tôi ngả người trên ghế máy bay, chuyến bay sáng ngày 30-8-1998 Hà Nội - TPHCM, muốn ngủ một giấc nhưng không tài nào ngủ được. Các bạn ở Văn phòng Đại diện TBKTSG tại Hà Nội đã lo giúp mọi thủ tục để hài cốt cha tôi được cùng về theo khoang hành khách. 29 năm, hài cốt đã hóa thành cát bụi, chỉ còn một ít đủ vóc hình hài, đã được chị Dần tẩm liệm cẩn thận trong tấm vải đỏ, đựng trong một cái hộp đặt giữa túi xách và dặn tôi không được rời tay cho tới giờ cải táng là sáu giờ chiều hôm đó, tại quê nhà.

Tôi thầm thì động viên Trung úy Trần Hữu Thạnh: “Xưa ba xuống tàu đi tập kết khi Bắc - Nam còn chia cắt, giờ ba về bằng đường hàng không khi nước nhà đã sum vầy, thế cũng là vui. Cái hậu sự này chứa chan biết bao nhiêu tình nghĩa, của ngày hôm qua và mới mấy bữa nay; của chị Liên, chị Dần, anh Huấn, anh Sở, của gia đình bác Kiếm, bác Vụ và nhiều bác nông dân thôn Hương Chùa đã giúp tìm kiếm và bốc mộ ba”. Tôi lại nhớ lời dặn của ông thầy Thiều: “Cố gắng về cho kịp sáu giờ tối ngày 30-8, là giờ tốt. Nhớ đi thẳng ra nơi cải táng, đừng ghé đâu cả. Nhớ đưa hài cốt đặt trong quách sành”. Tôi đã điện thoại về nhà dặn lại tất cả mọi chuyện.

Tối hôm đó, dường như có đầy đủ bà con nội ngoại gia đình bên vợ tôi tham gia lễ cải táng tại nhà bà Hai Tần, mẹ vợ tôi. Vừa mừng vừa tủi, như là cảnh gia đình đã đón ông ngoại và mấy cậu, dì trở về sau ngày miền Nam giải phóng. Gia đình xây sẵn ngôi mộ phía sau nhà, trên cái nền cao của ngôi nhà lớn bị bom đánh tan tành hồi Tết Mậu Thân 1968. Hài cốt Trung úy Trần Hữu Thạnh được cải táng nơi đây, không xa mồ mả tổ tiên trong khu vườn xanh um của gia tộc có gốc ở miền Trung vào đây lập nghiệp từ hơn một trăm năm trước.

Chuyện sau cùng tôi muốn kể ra đây là hình bóng của con bướm nâu lạ lùng lần đầu tiên trong đời tôi gặp ở núi Chùa. Bữa đó, dù đã gần tám giờ tối, trong khi mọi người đang tề tựu trong nhà, chợt có con bướm nâu, hình hài y như tôi đã gặp, chập chờn bay vào nhà, bay trên đầu mọi người rồi bay lại bàn thờ đầy nhang khói, đậu lại chỗ khung ảnh thờ tổ tiên rồi lại đậu trên tấm hình Trung úy Trần Hữu Thạnh.

Hôm sau, khi tôi đi làm về, vợ tôi kể hồi sáng có con bướm nâu to bằng lòng bàn tay đã bay vào nhà tôi ở khu gia binh Trần Khánh Dư. Lạ một điều là khi vợ tôi lên nhà trên thì con bướm bay theo, khi vợ tôi xuống bếp con bướm cũng bay theo. Cho tới khi ánh mặt trời chiếu xiên vào gian phòng khách xập xệ ngổn ngang sách báo của tôi, mới thấy con bướm nâu từ tốn bay ra khỏi nhà, mất hút trong con hẻm nhỏ.

* Đã đăng TBKTSG Xuân âm lịch 2019 & TBKTSG Online 3-2-2019:
https://www.thesaigontimes.vn/284390/canh-buom-nau-.html