Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Dân khúc buồn



Khúc ca dao / Hát một mình / Ta ru ta / Cả mảnh thinh không buồn / Tạ tình người / Đoạn thơ suông / Cứa lòng nhau / Gió lạnh suồng sã cây. Tự tình với bài thơ Dân khúc bằng hai khổ lục-bát-rơi ấy, nhà thơ Vĩnh An như muốn chạm vào cái điệu buồn sinh tử của một câu Kiều: Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 




Không dưng mà anh để dành bài Những chuyện bình thường vào cuối tập thơ với những câu sầu não như vầy: Đi qua năm tháng nước lã khí trời / Gạo chợ nước sông cùng cực / Mùi tiền đăng quang làm chuẩn mực /…Gọi em lột dùm xác ve sầu. Trước đó, trong bài Thú nhận, anh viết: Nơi cánh đồng tận cùng cuống rạ /… Em treo tôi trên sợi tơ óng ả / Không thể đứng yên / Không thể lao về phía gió /… Đêm muộn màng / Tôi gọi khẽ và rơi.

Dân khúc còn có nhiều bài lục bát buồn hiu “những điều trông thấy” kiểu như vậy. Trong bài Gởi một buổi chiều: Bỗng dưng chiều ngã vào đêm / Người dưng vuột miệng hẹn tìm người dưng. Trong bài Trời mưa tháng sáu: Yêu đời đi dọc cơn mưa / Trắng tay từ độ mới vừa xa em. Hay trong bài Những người thương phải xa nhau: Những người thương phải xa nhau / Nên ngàn sóng cứ xô vào đá xanh / Yêu hoài dẫu rất mỏng manh / Lúc gần gũi, lúc đã thành người dưng. Để rồi: Chợt gần mà cũng chợt xa / Chẳng còn em, chẳng còn ta, chẳng còn (Vét tình).

Và khi quay trở về nhà, theo vợ đi chùa lễ Phật, người đàn ông nhìn lại mình: Đã hai màu tóc trên đầu / Chợt vụng dại với mấy câu nguyện thầm / …Cắm nhang xong nắm bàn tay / Nghe nhoi nhói mấy vết chai đàn bà (Theo em lễ Phật đầu năm).


Trong tập Dân khúc của nhà thơ Vĩnh An (hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Trà Vinh), còn có một chùm thơ hai-ku 4 bài. Đọc hai bài này, tôi hiểu được lòng tác giả: Làm giáo chức nửa đời / Cha làm thày con đi bán sách / Cha phủi bụi thơ con (Cha); Những nỗi đau người khác / Ám ảnh cuộc sống và giấc mơ / Thì ra của chính mình (Thi sĩ)   ◙


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121106/dan-khuc-buon.aspx

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

GPD giữa đồng


Đọc tập thơ GPD của nhà thơ Ngô Vĩnh Nguyên (NXB Văn hóa – Văn nghệ, quý III-2012) dễ thấy mệt, đúng như tác giả viết ở bài Đục trong tùy bút: đọc thơ mệt hơn đi cày / mồ hôi trong / lòng đục. Mệt mà thấm, vì đã cày xong; và không ai hiểu ruộng bằng chính người cày.



Không vần điệu, tác giả GDP cày sâu cuốc bẩm cánh đồng cuộc đời như bác sĩ làm phẫu thuật nội soi để nhìn cho rõ “cái bên trong” giữa thời hiện đại. Thí dụ anh không nhìn giá trị GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) theo cách hiểu quen thuộc là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền. Bởi xây một nhà máy giữa đồng, có thể đem lại công ăn việc làm cho nông dân nhưng đồng thời cũng có thể góp sức tàn phá môi trường hoặc gây những hệ lụy thương đau khác cho con người. Đây cũng là điều mà xã hội học hiện đại đang đặt ra cho cách tính GDP. Ngô Vĩnh Nguyên thử tính GDP không bằng tiền bạc - bài thơ gọn 4 câu:

Tổng hạnh phúc quốc gia
Chín chia ba bằng ba
Nhà/cửa không rầm rầm sập
Ta/mùi thịt ôi đi xa


Ấy là cách tính bằng “một chữ tình”, như tác giả tâm sự trong bài Trái chiếng mở màn tập thơ: Lời mọn / hoa quả vườn nhà / chưa thông chưa tinh / nương một chữ tình / mời anh mời chị / đọc lấy thảo. Trong 83 bài của tập thơ GDP, có 32 bài 3 câu, một bài 2 câu và nhiều bài ngắn khác tác giả mời ta “đọc lấy thảo” kiểu như vậy. Đọc và ngẫm nghĩ, thấy “có lý”, vì dù nói về cảnh nhưng rốt lại như là cày xới nội tâm mình. Thí dụ: dìm nhau xuống bùn / người hóa sen / ta lấm (Sen); hoặc xem ti vi cảnh sóng thần, anh viết bài thơ Bầu bí: sóng thần đi / ân tình bầu bí / ở lại. Hay có lần anh nhìn trăng như vầy: dưới trăng / suối tóc lai láng / gương lược khóc than (Nguyệt). 

Lại có bài thơ dài tới 71 câu như bài Những cơn ho cổ điển tác giả kể câu chuyện có thật về một người cựu tù Côn Đảo “đã thao thức cùng đau nhức” viết cả ngàn trang sách trong những “cơn ho cổ điển người già”. Để rồi, cuốn sách đó trở thành một bút ký ầu ơ siêu thực / đưa hồn đồng đội trở lại cố hương như hai câu thơ kết thúc: Tổ quốc giữ được tên / mật truyền những cơn ho cổ điển.

Là một nhà báo sống giữa đồng bằng này (anh tên thật là Ngô Thanh Hòa, quê Trà Vinh và đang làm việc ở báo Trà Vinh), nhưng sáng tác văn học của Ngô Vĩnh Nguyên như là sự cất công đi tìm kiếm những căn nguyên cuộc sống. Tập truyện ngắn Hậu Sida (1990) và tập thơ Tro (1991) của anh cũng chung một nguồn chảy ấy. Dường như nghề báo (luôn đòi hỏi trung thực và chính xác) đã giúp anh thêm “khó tánh” như vậy chăng...

♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121030/gdp-giua-dong.aspx

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Nguyễn Ngọc Tư - Một nhà văn viết về thân phận con người



Sau những chuyến đi bụi khắp xứ sở, có chuyến lang thang Tây Bắc rồi lên cột cờ Lũng Cú một mình, chị lại về với Cà Mau, lặng lẽ viết. Sách của chị được tái bản nhiều và được dịch ra tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Thụy Điển. Và cho tới giờ, tôi thấy điều mà chị nói khi nhận Giải thưởng Văn học ASEAN hồi tháng 9-2008 tại Thái Lan về văn chương của mình, vẫn vậy.


Ảnh: Trương Công Khả


Khi đó, chị nói ngắn, chưa đầy hai phút: “Tôi hay nghĩ về sức mạnh của những giọt nước mắt. Chúng trong trẻo, giản dị nhưng lại gây rung cảm sâu sắc. Những tối, trên bản tin truyền hình, tôi nhìn thấy một em bé, hay một phụ nữ ở xứ sở xa xôi nào đó đang khóc, vì chiến tranh, vì bạo lực, hay vì thiên tai… và những giọt nước mắt lay động bất cứ ai nhìn thấy chúng, bất chấp biên giới, màu da, thể chế chính trị, ngôn ngữ hay những cách biệt văn hóa hác. Tôi nghĩ, nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt, hay gần giống như thế, bởi văn học vẫn còn rào cản ngôn ngữ. Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt.  Khi ấy, trong lòng các bạn, tôi không còn là cô gái Việt Nam viết về Việt Nam, mà là một nhà văn viết về thân phận con người, như các bạn”.

Nhân vật kỳ cục nhất của văn học thế giới

Hồi đó, Cánh đồng bất tận đã được dịch sang tiếng Hàn và theo người dịch, nhà thơ Ha Jea Hong, trả lời điện thoại với chúng tôi khi anh đang đi chơi ở Cà Mau, là “sách bán chạy lắm và đã được tái bản”. Sau đó anh đã đưa tác giả và ba bạn văn Việt Nam khác sang Hàn Quốc dự giao lưu với bạn đọc tiếng Hàn về cuốn truyện này. Về phần mình, Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ: “Tôi nhận được ở anh một tấm lòng nhiệt thành, tâm huyết, một sự thấu hiểu, đồng cảm lớn giữa người viết và người đọc”.

Giữa tháng 2-2012, Dagens Nyheter, một tờ báo lớn của Thụy Điển, đã đăng bài của giáo sư Stefan Jonsson đọc tuyển tập tuyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư do Tobias Theander dịch sang tiếng Thụy Điển (http://www.dn.se/dnbok/bokrecensioner/nguyen-ngoc-tu-falt-utan-slut) . Vị giáo sư chuyên nghiên cứu về dân tộc và là nhà phê bình văn học của tờ báo này, cho rằng đây là những truyện ngắn hoàn hảo từ Việt Nam ngày nay. Ông viết: “Ở Thụy Điển, cuộc hiện đại hóa lớn đã đánh vỡ hệ thống nông thôn tự lực, đồng thời mở cho thế giới vào. Với Tư, điều tương ứng là cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài đã làm dân Cà Mau thấy rõ vị trí của mình trên thế giới”. Theo ông, “Trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện một thế giới duyên dáng, không cưỡng lại được, và tuyệt vọng” rồi cho biết: “Trong lời bạt, Tobias Theander giải thích tại sao nhiều người ở Việt Nam thương Tư, thảo luận về Tư. Tư không sắp đặt, chỉ kể lại chuyện nghiện rượu, mại dâm, áp bức phụ nữ. Và chính vì các truyện ngắn không cố gắng mang tính giáo dục, tri lại, chúng mô tả thẳng thắn mọi vấn đề, thì các nhân vật của Tư có vẻ càng anh hùng hơn khi đấu tranh để khắc phục các vấn đề này”. Giáo sư Stefan Jonsson phát hiện: “Hơn nữa, ở đây có một trong những nhân vật kỳ cục nhất của văn học thế giới, con vịt xiêm Cộc. Có lẽ, vai trò của nó là đại diện cho Phật”. 

Ở Mỹ, giáo sư Trần Hữu Dũng thuộc Đại học Wright State còn lập hẳn một “tủ  sách Nguyễn Ngọc Tư” trong trang web của mình (http://www.viet- studies.info/NNTu/index.htm). Đây là nơi đang lưu giữ nhiều nhất tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và ý kiến của bạn đọc. Có lần, trả lời phỏng vấn của chúng tôi, ông nói: “Trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta, ở khắp mọi phương trời, tìm lại được cái quê hương đích thực trong tâm tưởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình, những kỷ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ”. Một lần khác, ông trả lời một bạn đọc trang web ấy, rằng: “Có rất nhiều người, từ mọi nơi trên thế giới, viết mail cảm ơn tôi về tủ sách Nguyễn Ngọc Tư. Có những em sinh viên còn rất trẻ, cũng có những người trạc tuổi tôi. Nhiều người xa quê hương đã lâu, người chỉ mới đây, người ở Hà Nội, người ở Cần Thơ. Có điều lạ là đa số đều cho tôi biết là họ đã… khóc khi đọc truyện của cô. Nhưng đó là những giọt nước mắt thương yêu, êm đềm”.

Sau chuyến về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư, giáo sư Trần Hữu Dũng kể: “Đến Cà Mau, tôi mới thấy sự gắn kết của Nguyễn Ngọc Tư với con người, với đời sống, với đất nước quanh cô. Bối cảnh gia đình cho Nguyễn Ngọc Tư một cái nhìn mà tôi ít thấy ở ai khác. Đó là cái nhìn thật trưởng thành nhưng của một người rất trẻ. Đó là cái nhìn của kẻ đã sống qua máu lửa, chứng kiến lắm đau thương, nhưng với con mắt vô tư của một người sinh ra sau chiến tranh. Đó là cái nhìn của một người chân chất và trầm lặng, hãnh diện đã làm tròn nhiệm vụ đấu tranh cho đất nước, không chút nghi ngờ tương lai của dân tộc, nhưng chẳng có ảo tưởng nào về những mặt bất toàn của hiện tại”. Rồi ông trả lời một độc giả: “Mỗi lần về nước tôi thích giao du với các bạn trẻ. Ở họ, và nhất là ở những người như Nguyễn Ngọc Tư, tôi thấy tương lai một nước Việt Nam làm tôi vui và tin tưởng”. Tôi lại hỏi: “Theo ông thì văn Nguyễn Ngọc Tư sẽ hòa mình với thế giới này như thế nào?”. Vị giáo sư kinh tế mê văn học đưa ra một ý kiến hơi lạ: “Tại sao lại phải dịch văn Nguyễn Ngọc Tư ra tiếng nước ngoài? Tại sao không nói với người nước ngoài rằng chúng ta có một nhà văn tuyệt vời là Nguyễn Ngọc Tư (và nhiều người khác nữa), nhưng muốn thưởng thức trọn vẹn (và đó sẽ là diễm phúc cho anh, tin tôi đi!) thì anh phải ... học tiếng Việt! Như vậy có phải là hợp lý hơn không”.

Vẫn thấy mình được chúc mừng nhầm


Ảnh: Huỳnh Kim


Còn với Nguyễn Ngọc Tư, dường như càng nổi tiếng thì chị càng lặng lẽ. Cuối năm 2010, phim Cánh đồng bất tận đạt doanh thu 17 tỉ đồng cùng lúc tập truyện Khói trời lộng lẫy tái bản ngay sau tuần lễ đầu phát hành và tác giả phải về Sài Gòn dự giao lưu ra mắt sách – thế nhưng Nguyễn Ngọc Tư lại bộc bạch: “Đi giao lưu ngại thật. Thấy người ta đông tôi kinh hãi lắm, nói chẳng ra ngô ra khoai, nhất là phải nói về những chuyện mà mình không quan tâm mấy, như thể chưa từng có trong đầu mình vậy”. Trước nhiều lời chúc mừng phim Cánh đồng bất tận thành công là nhờ truyện phim hay, chị nói: “Cho tới bây giờ tôi vẫn thấy mình được chúc mừng nhầm, tôi không vơ lấy doanh thu rực rỡ của phim làm vinh dự của mình được. Từ khi đứa con tinh thần đó ra đời, người ta đã mặc cho nó một cái áo khác, sống với một tinh thần khác”. Cánh đồng bất tận kể chuyện nông thôn, nhưng cả sách, kịch và phim thì chưa được nhiều nông dân thưởng thức. Tôi băn khoăn hỏi chị về chuyện này thì chị nói: “Tôi không nghĩ viết về nông dân là để giới hạn cho người nông dân đọc. Cách nghĩ đó giống như tôi soi gương mỗi ngày và nhìn mặt mình hiện lên trên đó mỗi ngày. Người khác ngắm tôi, nhìn nhận tôi bằng cái nhìn của họ thì thú vị hơn chứ. Một vài cuốn sách mà để anh hiểu người nông dân hơn, để những giới khác quan tâm đến họ hơn, yêu thương họ hơn, với tôi đã là một tham vọng lớn rồi”.

Giờ đây cũng vậy, dù tiểu thuyết Sông được tái bản ngay trong tuần lễ đầu phát hành (lên 11.000 bản) và cuộc giao lưu ra mắt sách ở Hà Nội rộn ràng đến mấy, Nguyễn Ngọc Tư vẫn không thích nói nhiều về chuyện đã qua. Chị lại lặng lẽ ngồi vào bàn viết, viết báo Tết, viết văn và làm thơ. Thơ của chị cũng buồn như văn của chị. Nỗi buồn ám ảnh hơn. Như những giọt nước mắt.


♥ Mời đọc thêm tại Báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121028/nguyen-ngoc-tu-mot-nha-van-viet-ve-than-phan-con-nguoi.aspx

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012

Gió trên đồng ù ù thổi




Để hoàn thành chuyên luận “Thơ tứ tuyệt trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX” (NXB Văn học, quý 2-2010), thầy giáo Nguyễn Kim Châu đã đọc tham khảo và trích dẫn từ 113 tác phẩm văn học cổ kim tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Trung. Sự khảo sát kỹ càng ấy, dường như đã để lại dấu ấn trong 12 truyện ngắn mà anh cho in thành tập “Gió trên đồng” (NXB Văn hóa - văn nghệ, quý 3-2012). Đó là cái cốt cách “ý tại ngôn ngoại” của thơ tứ tuyệt phả vào những trang văn xuôi này. Lại nghĩ, tác giả như muốn làm ngọn gió; lặng lẽ len qua gần 10 thế kỷ thơ tứ tuyệt của cha ông thời phong kiến để rồi lồng lộng thổi qua bao số phận lớp cháu con ngày hôm nay đang khai khẩn đất phương Nam. 



Dù đang sống ở nông thôn hay ra chốn thị thành, hầu hết những nhân vật trong Gió trên đồng thường có nội tâm riêng của những phận người hay dằn vặt lương tâm. Để rồi, dù tác giả không miêu tả hết ra, ta vẫn hiểu được rằng, lòng người vẫn còn đó, mặc cho giông gió cuộc đời đang ù ù thổi đến. Thí dụ đọc đoạn này trong truyện Gió trên đồng, ta có thể đoán được chuyện gì đã xảy ra chăng: “Y trừng mắt như ra lệnh khiến thị hoảng hốt thò tay cầm lấy tiền rồi lò dò ra ngoài lều. Y ngồi phệt xuống chõng, thở hắt ra, lắng tai nghe tiếng dầm khuấy nước trong cái tĩnh lặng của đất trời sau cơn mưa. Lòng y quặn thắt một nỗi buồn”.

Nguyễn Kim Châu lấy nghề dạy học làm chính (anh là tiến sĩ ngữ văn ở Đại học Cần Thơ), lặng lẽ viết truyện ngắn gởi đăng báo (đã được tặng Giải Truyện ngắn hay của Tuần báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam) và không tham gia hội đoàn văn nghệ nào.

Trân trọng tác phẩm văn chương này, nhà văn Dạ Ngân đã viết lời giới thiệu sách, nhấn mạnh về tác giả - người con của đồng bằng sông Cửu Long: “Sinh ra và lớn lên, học hành và thành danh đều ở Cần Thơ, không khó hiểu khi tiến sĩ – nhà văn Nguyễn Kim Châu quanh quẩn và sống chết với miền đất nắng táp mưa sa của mình. Không thể yêu cầu sự bứt phá giọng điệu hay thủ pháp ở một người vẫn xem viết văn là việc của tay trái. Xác quyết âm thầm, dung dị, chân thực và thuyết phục, thì Nguyễn Kim Châu đã làm được tất cả những điều đó. Gần hai mươi năm cầm bút mà đến giờ mới có tập truyện đầu tay đã là khá muộn nhưng chậm mà sâu, chậm mà vững và, cũng có nghĩa, chậm mà bền… Đồng bằng nhiều gió chứ không phẳng lặng như người ta tưởng. Biết về nó thì sẽ thấy gió đồng cũng khi thế này khi thế khác, gió sông cũng lúc đầy lúc vơi như nhịp nước mỗi ngày. Trên hết, đấy là một vùng đất với rất nhiều ký ức đặc sắc và hiện tại ngổn ngang, vì vậy, miền gió của Nguyễn Kim Châu thật đáng để đồng hành”.

♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121023/gio-tren-dong-u-u-thoi.aspx

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Sinh nhật ở mũi Cà Mau


Em cắt bánh sinh nhật Sài Gòn ở mũi Cà Mau
Cơn bão tháng mười ngoài biển Đông nghiêng mình gió mưa một trận
Bạn đồng hành nâng ly rượu
Mừng dòng sông bất tận gặp biển khơi
Nơi mà cây mắm mọc rễ ngược lên trời
Lặng lẽ xuyên sình lầy mở đất
Để cây đước mọc sau giữ đất
Chùm rễ đước nhón chân ôm ấp
Những rừng đước hân hoan tất bật
Không hay rừng mắm đang đi
Không hay rừng mắm nghĩ gì
Trái mắm âm thầm trôi theo phù sa sông Cửa Lớn
Trôi theo tình yêu nẩy mầm đất mới
Trời phương Nam xa xôi buồn hiu
Trái đước lao mình cắm phập
Mọc xuống
Đất Cà Mau

Rừng mắm gieo tình yêu đất
Rừng đước ngỏ lời cầu hôn

Anh ra đi
Lặng lẽ U Minh
Lặng lẽ Cần Thơ
Lặng lẽ Sài Gòn
Giọt rượu cuối cùng mừng sinh nhật
Thấm tận đáy rừng





♥ Mời đọc thêm tại báo Cần Thơ:
http://baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=186&id=117032

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Sáu mươi năm… phù du


Sáng tác từ năm 14 tuổi (1966), năm nay tròn tuổi 60, cậu học trò Châu Phú - An Giang năm xưa “nhìn lại mình” bằng một tập thơ 37 bài viết trong vòng ba năm nay, với một thanh âm bàng bạc: phù du. Cũng lạ, đây là chuyện hiếm thấy ở Trịnh Bửu Hoài trong số 48 tác phẩm đã xuất bản của anh gồm thơ và văn xuôi. Bởi bao nhiêu năm rồi, thơ Trịnh Bửu Hoài được nhớ nhiều ở cái cốt nhẹ nhàng tươi thắm những giai điệu tình yêu, quê hương, bằng hữu.




Anh mở đầu tập thơ: Ta sinh vào cõi phù du / Nên mãi đi tìm vĩnh cửu / Một kiếp trần gian chẳng đủ / Chớp mắt đã là trăm năm… Thì ra đời quá mênh mông / Ta tự làm mình bẩn chật / Đứng giữa bao la trời đất / Sống hoài chẳng hết phù du trong bài Phù du - như muốn gởi đi một câu hỏi tìm lời chia sẻ về ý nghĩa cuộc đời.  

Đó là một cuộc sống hiện đại mà Một ngày trôi qua ngỡ như bình lặng (trong bài Thứ sáu ngày bảy tháng tám năm lẻ chín) nhưng anh lại nhìn thấy Người giàu kẻ mạnh thống trị trên thương trường, chính trường, đạo đức và từ thiện / Người nghèo kẻ yếu đang co ro trong khí hậu, môi trường, tình trường và bất ổn / Có những người đang đi xuôi trong nghịch lý / Có những người đang đi ngược trong đạo lý… để rồi Vẫn cứ đi trong cõi tàn phai / Cho đến khi hóa thành hạt bụi.

Nhưng mà hạt bụi ấy không cầm lòng được, khi gặp một người con gái đồng hương xa xứ: Mưa bay mưa bay rừng rơi nước mắt… Quán trống người che không kín nổi / Ngọn gió hoang mù đêm phương xa / Tay chạm vào tay thêm bối rối / Chợt ấm hồn nhau nỗi nhớ nhà (Gặp đồng hương ở Dầu Tiếng).

Bởi vì phù du không phải là vô nghĩa. Vẫn đọng lại sau những chuyến đi dài xuyên đất nước của anh: Sông thì rộng mà lòng ta nhỏ hẹp… Trăm năm đi chưa hết một dòng đời (Cùng em đi dọc sông Tiền). Hoặc: Qua sông đầy thương cánh lục bình trôi / Bến cũ không còn ai đến tiễn / Lòng ta chín một màu hoa điên điển / Trời như vàng đến tận cõi mênh mông / Ta giấu mình trong sương trắng tàn đông… (Mùa hoa vàng).

Để rồi khép lại “kỉ niệm sáu mươi năm cuộc đời”, Trịnh Bửu Hoài lạc quan viết bài thơ Tinh sương chiều và chọn làm tên cho cả tập - với lòng khát khao trở lại cuộc sống ban đầu: Như dòng sông trôi / Buông mình đi mãi / Bỗng dưng ngoái lại / Đã miệt mài xa / Bóng chiều dần qua / Bầy chim về tổ / Nụ hoa vụt nở / Thèm chút tinh sương…   


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121016/sau-muoi-nam…-phu-du.aspx