Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

Ai ơi bưng bát cơm đầy…



Từ hàng nghìn năm qua và hàng nghìn năm tới, chắc chắn hạt gạo vẫn là nguồn lương thực ổn định trong thực đơn của người Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà từ xưa tới giờ, người Việt Nam gọi bữa ăn là bữa cơm. Hằng triệu người dân các nước khác, chắc hẳn cũng vẫn cần có cơm gạo dài lâu.

Với đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đến cuối thế kỷ thứ 20, vùng này đã trở thành nơi giữ vai trò chính bảo đảm an ninh lương thực cho cả nước và giúp Việt Nam thành nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới. Năm 2011, dù bị lũ lụt nặng, ĐBSCL đã làm ra trên 51% trong hơn 41 triệu tấn lúa của cả nước và chế biến xuất khẩu được hơn 90% trong số hơn 7 triệu tấn gạo xuất khẩu của cả nước. Tới tháng 11-2012, xuất khẩu gạo của nước ta đang dẫn đầu thế giới và có thể xuất được 7,7 triệu tấn vào cuối nay năm, theo VFA.

Nhưng rồi câu chuyện sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL trong tương lai sẽ ra sao khi mà vùng châu thổ này đang và sẽ là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nặng nhất về biến đổi khí hậu của trái đất? 

Đọc cuốn sách “Sản xuất lúa và tác động của biến đổi khí hậu ở ĐBSCL” (do NXB Tổng hợp TP.HCM và Thời báo Kinh tế Sài Gòn ấn hành, tháng 10-2012), có thể giúp ta tìm được câu trả lời. 



Sách do hai nhà giáo và cũng là nhà khoa học đang làm việc tại trường Đại học Cần Thơ - PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ và TS Lê Anh Tuấn - biên soạn. PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ giới thiệu tổng quan về sản xuất lúa, tài nguyên giống lúa, các mô hình canh tác lúa và về vai trò của nông dân trong sản xuất lúa ở ĐBSCL. TS Lê Anh Tuấn giới thiệu về điều kiện tự nhiên vùng ĐBSCL, bức tranh chung về biến đổi khí hậu, tác động của biến đổi khí hậu và việc thích nghi với biến đổi khí hậu trong sản xuất lúa ở ĐBSCL. Trong chương cuối, hai tác giả cùng đưa ra nhận định về tương lai của câu chuyện sản xuất lúa ở ĐBSCL trong thời biến đổi khí hậu toàn cầu. 

Cuốn sách như một cẩm nang kiến thức phổ thông về sản xuất lúa và biến đổi khí hậu ở ĐBSCL, rất cần cho những ai quan tâm tới đề tài này.

Đọc xong cuốn sách, chợt nhớ tới câu ca dao: 

Ai ơi bưng bát cơm đầy 
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Từ bao đời nay, câu ca dao ấy nhắc ta nhớ tới công lao làm ra hạt gạo của bao người, mà trực tiếp là của nhà nông. Và phải chăng, câu ca dao ấy cũng ẩn chứa nỗi lo về mùa màng lúa gạo khi mà ảnh hưởng của biến đổi khí hậu trên trái đất sẽ chẳng chừa một ai, nếu ta không lường trước được bao điều “cay đắng”? 

♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên ra ngày 13-11-2012

Thứ Hai, 12 tháng 11, 2012

Mía đường – nhìn từ một hội thảo quốc tế




Trở về từ hội thảo quốc tế tại Ấn Độ “Những lĩnh vực mới trong nghiên cứu cây mía” (15 đến 18-10), GS-TS Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo, cho biết: “Đây là dịp để nắm được toàn bộ khung cảnh nghiên cứu khoa học về cây mía, qua đó chúng tôi thấy rất rõ trình độ cây mía của Việt Nam còn thua xa các nước khác trên thế giới”.

Tại hội thảo này, Tiến sĩ S.K. Dutta, Phó Tổng giám đốc Hội đồng Nghiên cứu khoa học nông nghiệp Ấn Độ (ICAR) cho biết, mặc dù số nhà máy đường đã tăng từ 30 (năm 1930) lên 560 (năm 2012), nhiều địa phương trong nước vẫn cần thêm nhà máy đường. Tiến sĩ N. Vijayan Nair, Viện trưởng Viện Chọn tạo giống mía (SBI) của Ấn Độ cho biết trong 100 năm qua, viện đã cho ra đời khoảng 2.500 giống mía. SBI cũng đã nghiên cứu đặc tính di truyền của giống mía từ thập kỷ 1990 và đang nghiên cứu công nghệ biến đổi gen mía. Tiến sĩ Nair lưu ý các quốc gia sản xuất đường sẽ đối đầu với thách thức lớn trong tương lai. Đó là nhu cầu tiêu thụ đường ăn sẽ tăng 50% trong năm 2030 nên rất cần có giải pháp khoa học công nghệ thích hợp. Ông cũng nói, biến đổi khí hậu sẽ tác động xấu đến sản lượng mía bất kỳ ở vùng trồng mía nào trên trái đất. Các chuyên gia khí hậu dự đoán sản lượng mía sẽ giảm 20% mỗi khi nhiệt độ bình quân tăng 1 độ C.

Phía sau đoàn là bụi cỏ Erianthus arundinaceus đối tượng đang được dùng lai tạo với mía trồng để chọn ra những giống mía có giá trị cao hơn mía trồng hiện nay.
(Ảnh & chú thích: GS Võ Tòng Xuân)


Bên lề hội thảo, giáo sư Võ Tòng Xuân còn gặp riêng nhiều đoàn để tìm hiểu thêm kinh nghiệm sản xuất mía đường. 

Brazil (đang dẫn đầu thế giới về sản xuất mía đường), có Mạng lưới Nghiên cứu giống mía Brazil (RIDESA) gồm 10 trường đại học liên bang. 20 năm qua, RIDESA tạo được 59 giống mía cao sản, (chiếm 59% giống mía ở Brazil). Năm 2011, RIDESA có thêm 2 giống mía chịu khô hạn và kháng bệnh rĩ sắt. Ngoài RIDESA, Brazil còn có Trung tâm Kỹ thuật cây mía (CTC) và Viện Nông học Campinas (IAC). CTC đang giữ bộ sưu tập giống mía lớn nhất của Brazil, cung cấp miễn phí những gen mía cho bất cứ nhà khoa học nào. Năm 2011, CTC cho ra đời thêm 2 giống mía chịu hạn. CTC cũng đang thử nghiệm tạo giống mía được biến đổi gen để tạo giống mía chịu hạn tốt. Viện IAC đang chọn tạo giống mía chịu hạn và chịu ngập để đối phó với tình huống biến đổi khí hậu. Vài con số về vụ mía 2011-2012 tại Brazil: Năm 2010 có 330 nhà máy đường; sản lượng mía 631 triệu tấn (tăng 2% so năm 2011) / 9,65 triệu ha (tăng 8% so năm 2010) - 46,6% dành sản xuất đường, 53,4% làm rượu ethanol; sản lượng đường 39,6 triệu tấn (tăng 1,45 triệu tấn so năm 2010); năng suất mía bình quân 71 tấn/ha; lượng đường thu hồi là 140,23 kg/tấn mía; xuất khẩu 27,3 triệu tấn đường.  

Úc (nước đang cung cấp đường thứ 3 thế giới) đã xuất khẩu 2,8 triệu tấn đường vụ mùa 2011-2012 nhờ sản lượng 4,5-5 triệu tấn đường làm từ 32-35 triệu tấn mía (366.000 ha). Chữ đường của Úc đạt từ 13,9% đến 14,5%. Vụ mùa 2012-2013 Úc đã xuống giống 380.000 ha, tăng 14.000 ha. Nghiên cứu về mía đường để phục vụ cho nông dân chủ yếu do Công ty BSES (tư nhân, do hệ thống các nhà máy đường và nông dân lập ra) và Tổ chức CSIRO (nhà nước) lo. Úc hiện có 4.000 nông trại mía và 24 nhà máy đường. Phần lớn nông trại làm khoảng 100 ha, nhiều nông trại làm tới 1.000 ha. Nông trại Úc áp dụng hầu hết cơ giới trong trồng trọt và thu hoạch; nhưng lao động ngành trồng mía có khoảng 6.000 người.

Thái Lan, vụ mùa 2011-2012, nông dân trồng 1,4 triệu ha mía, sản lượng 100-105 triệu tấn mía, năng suất bình quân 77,3 tấn/ha. Với tỉ lệ thu hồi 104,3 kg đường/tấn mía, tổng sản lượng đường Thái Lan lên đến 11 triệu tấn; đã xuất khẩu 9 triệu tấn, đứng hàng thứ 2 thế giới. Lượng tiêu thụ đường bình quân đầu người của Thái Lan (40 kg/người) xếp thứ 3 thế giới. Thái Lan phát triển giống mía bắt đầu từ Trung tâm Suphanburi ở U Thong; tiếp đó là trường Đại học Nông nghiệp Kasetsart chi nhánh ở Kamphaeng Saen (vùng mía miền Bắc) và Kanchanaburi (vùng mía miền Trung), Khoa Nông nghiệp trường Đại học Khon Kaen, Khoa Nông nghiệp trường Đại học Chiang Mai, và một số trung tâm vùng của Bộ Nông nghiệp. Hàng năm, Bộ Nông nghiệp Thái Lan tổ chức thí nghiệm cấp quốc gia “Đánh giá giống mía triển vọng từng vùng trồng mía” để các nhà máy đường áp dụng. Thái Lan hiện có 47 nhà máy đường; dự kiến sang vụ 2012-2013 sẽ có thêm 4 nhà máy nữa và đến 2017-201 sẽ có 60 nhà máy.

Khi ngành đường phát triển mạnh ở Thái Lan, nhu cầu giống mía bức xúc, riêng Công ty Mitr Phol đã xây Trung tâm Đổi mới và nghiên cứu cây mía Mitr Phol từ năm 1997 để phục vụ khoa học nông nghiệp cho 5 nhà máy đường của mình. Tiến sĩ R. Saravanan, khoa học gia cao cấp của Công ty Mitr Phol, cho biết trung tâm này phục vụ cho 20.000 nông hộ trồng 300.000 ha mía. Trung tâm có 60 chuyên viên lo từ việc sưu tập giống, chọn cây bố mẹ để lai tạo, chọn giống tại các vùng mía, nhất là nghiên cứu các biện pháp nông học để tăng năng suất mía và chữ đường, bảo đảm sản xuất của công ty đồng thời nâng cao lợi tức của dân trồng mía. Những giống mía của Mitr Phol tạo ra có tên bắt đầu bằng chữ MP. Công ty Đường Mitr Phol đang sản xuất 2,8 triệu tấn đường/năm (thứ 5 thế giới) đồng thời sản xuất ra 162 MWh điện cùng 800 triệu lit ethanol.

Còn ở châu Phi thì Nam Phi là nước sản xuất đường lớn nhất với một tổ chức rất căn cơ. Chính phủ Nam Phi đã thành lập Viện Nghiên cứu Mía Nam Phi (SASRI) từ năm 1925. Đến năm 2012, Viện SASRI đã phổ biến 53 giống mía, trong đó 45 giống do viện lai tạo, 8 giống nhập từ Ấn Độ và một số nơi khác. Hiện nay Nam Phi có 23.130 nông dân trồng mía trên tổng diện tích 400.000 ha, sản xuất được 19 triệu tấn mía và 2,7 triệu tấn đường từ 13 nhà máy đường.

***

Nhìn lại mình, giáo sư Võ Tòng Xuân nhấn mạnh: “Việt Nam không có gì đóng góp khoa học cho ngành sản xuất mía thế giới. Khi phát triển ngành mía đường trên các địa bàn trong nước thì chúng ta không có đủ dữ kiện khoa học cụ thể của từng vùng trồng mía để giúp cho nông dân trồng mía sản xuất có lợi cao”.

Theo giáo sư Xuân, đoàn Việt Nam đã thấy được những khiếm khuyết về mặt khoa học, từ lai tạo, chọn giống cho từng vùng trồng mía khác nhau, đến các kỹ thuật quản lý đồng ruộng bảo đảm cây mía có năng suất cao và chữ đường cao. Giai đoạn cạnh tranh mãnh liệt sẽ đến khi cam kết trong WTO sẽ cho nhập khẩu tự do đường từ các nước, nhất là Thái Lan.

Giáo sư Võ Tòng Xuân đề nghị: “Nhà nước cũng như các công ty đường của Việt Nam cần đầu tư kinh phí để thiết lập các chương trình nghiên cứu cây mía Việt Nam từ các viện, trường đại học sẵn có tại các vùng sinh thái, và cần thiết lập Viện Nghiên cứu Mía có đầu tư đích đáng, đồng thời cần cải tiến công cuộc đào tạo cán bộ ngành mía đường”. 


Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

GS-TS. Võ Tòng Xuân: “Phải cải cách và đổi mới mạnh hơn”




Năm nay 72 tuổi, GS-TS Võ Tòng Xuân – hiệu trưởng trường Đại học Tân Tạo, vẫn nóng bỏng những thao thức làm cho nông dân giàu lên và đổi mới được sự nghiệp giáo dục, như hồi còn làm việc ở đại học Cần Thơ, đại học An Giang…


GS-TS Võ Tòng Xuân sinh ra trong một gia đình nghèo ở Châu Đốc, An Giang. Lúc nhỏ ông lên Sài Gòn tự lập để phụ cha mẹ nuôi các em và để có tiền đi học đến khi thành tài. Ông đã từng đi bán báo dạo dọc các bến xe đò, đêm đi dạy kèm cho học sinh luyện thi. Thế mà một ngày đầu tháng 4-1975, trong khi nhiều người rời đất nước, ông quyết định quay về Việt Nam ngay sau khi trình luận án tiến sĩ nông học ở Nhật.

* Xác định mục đích sống cho đời mình 

Còn nhớ, trong một căn phòng làm việc chật chội ở Đại học Cần Thơ hồi năm 1985, giáo sư Xuân nói: 

- Anh nghĩ coi, nông dân mình, hễ trời sụp tối là phủi sơ hai bàn chân khô sình đất, leo lên giường. Trong lúc đó, ở các nước tiên tiến, nông dân họ đi giày trong nhà, ngồi trước ti vi, lò sưởi hoặc đến các câu lạc bộ nông trang. Mà chắc chắn là họ không anh hùng hơn dân tộc mình, tài nguyên của họ không giàu hơn của mình. 

Rồi ông lại đăm chiêu: 

- Cây lúa ĐBSCL còn bề bộn công việc vây quanh nó. Lúa mùa, đất ngập mặn, nhiễm phèn, trình độ dân trí… Làm sao để tìm ra được giống lúa thích hợp kèm theo các kỹ thuật tương ứng? Tôi thao thức nhiều về những vùng đất hoang lớn ở đồng bằng này, mà nông dân thì họ bỏ đi, bám sống ven quốc lộ với tỷ lệ sinh đẻ quá cao, cứ như phó mặc cho số phận.

Trước đó, những năm 1975-1977, người ta hay gặp ông và nhiều đồng nghiệp cùng hàng trăm sinh viên Đại học Cần Thơ, lặn lội qua hàng ngàn héc ta ruộng lúa cháy rụi vì giặc rầy nâu, băng qua những cánh rừng tràm xơ xác vì thuốc khai hoang thời chiến tranh, những đồng cỏ năn dày mịt, hoang vắng mênh mông. Khi thì lội bì bõm, khi thì lắc lư trên chiếc xuồng nhỏ hoặc ngồi nghêu ngao trên những mui tàu đò; lúc đi xe đạp, lúc chạy xe gắn máy hay đeo cửa một chuyến xe đò nào đó trên các tuyến hương lộ đồng bằng.

Mười năm đầu sau ngày hòa bình 1975, hoạt động khoa học của GS-TS Võ Tòng Xuân, Phó hiệu trưởng Đại học Cần Thơ, chỉ nhằm một hướng: phát triển nông thôn. Ông đã linh động vượt qua nhiều thử thách trong cơ chế bao cấp lúc đó để làm cho được mục tiêu đào tạo kết hợp với nghiên cứu khoa học, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ sản xuất. Ông tâm sự: 

- Sự giàu có của dân lao động các nước nghèo tài nguyên thiên nhiên mà tôi đã đi qua làm tôi nghĩ đến dân mình - những người chủ nghèo sống trên tài nguyên giàu có. Từ đó tôi đã xác định mục đích sống cho đời mình: phải đem hết tri thức để đóng góp cho đất nước, làm sao cho dân mình mau trở thành những người chủ giàu như dân các nước tiên tiến. Cách cơ bản nhất, theo tôi, là phải đào tạo con người có tri thức và lý tưởng để cùng tham gia phát triển đất nước. 


Giáo sư Võ Tòng Xuân và đại úy Nguyễn Văn Trọng tại Nông trường Động Cát (Quân khu 9) năm 1985 với cây tràm được sạ đại trà trên những cánh đồng phèn.
Ảnh: DAVID CARLING


* Đóng cửa trường ra đồng cứu lúa

Nhớ lại cái thời cả nước thiếu gạo, ĐBSCL bị dịch rầy nâu, Đại học Cần Thơ tạm đóng cửa để ra đồng cứu lúa, ông kể:

- Đó là một quyết định táo bạo. Trong lúc ruộng lúa cao sản của hàng trăm ngàn nông dân bị thiệt hại vì rầy nâu, không còn gạo để ăn mà phải ăn thân cây chuối xắc mỏng, biện pháp hữu hiệu nhất và ít tốn kém nhất là sử dụng giống lúa kháng rầy nâu phủ kín đồng bằng. Cách thực hiện cũng phải phù hợp với thực tế. Chiến thắng của nông dân ĐBSCL đối với con rầy nâu là một kỳ công làm cho các chuyên gia quốc tế đều thán phục. 

Đây là một sự phối hợp lực lượng rất độc đáo. Từ 5 gram hạt giống lúa IR36 gởi trong một bao thơ từ Viện Lúa Quốc tế ở Philippines, tôi và anh Nguyễn Văn Huỳnh đã thanh lọc tính kháng rầy và tiềm năng năng suất của IR36, sau đó nhân ra khoảng 2 tấn lúa giống. Lúc đó giặc rầy nâu khủng khiếp đang đốt cháy hầu hết các cánh đồng lúa cao sản trồng giống lúa cũ TN73-2 và IR26. Hàng trăm ngàn bà con nông dân điêu đứng; nhiều người bán hết cả tủ thờ để đầu tư trừ rầy nâu nhưng vẫn thất bại, phải cột xuồng nối đuôi nhau đi sang các tình Sóc trăng, Bạc liêu, Cà Mau để mua gạo ăn. Tôi đề nghị ban giám hiệu cho đóng cửa trường trong 2 tháng để chúng tôi cho sinh viên đem phổ biến giống lúa mới IR36 kháng rầy để cứu nông dân. Chú Bảy Phạm Sơn Khai, Bí thư Đảng ủy kiêm Hiệu trưởng Đại học Cần Thơ đã đồng ý cho thực hiện. Hơn 2.000 sinh viên nông nghiệp và sư phạm, sau 2 ngày được huấn luyện cấp tốc 3 phương pháp: sản xuất mạ, chuẩn bị đất cấy, và cấy lúa 1 tép/buội, đã ra quân dưới sự hướng dẫn của cán bộ Khoa Trồng trọt đến tất cả các địa phương đang có rầy nâu xuất hiện. Mỗi sinh viên mang 1 kí lúa giống IR36 để cấy ra 1.000 mét vuông, trái với tập quán của nông dân là phải cần đến 8-10 kí lúa giống. Cán bộ nông nghiệp ở các huyện, xã trong tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Long An, Vĩnh Long và Cần Thơ bố trí cho từng sinh viên đến ruộng của nông dân đang gặp hại để chuẩn bị trồng giống lúa IR36 theo kỹ thuật mới. 

Ba tháng sau, tất cả các ruộng IR36 chuẩn bị được gặt, nông dân phải ra đồng ngủ giữ lúa để không bị ăn cắp giống. Bà con đổi lúa giống cho nhau và tiếp tục nhân giống kiểu 1 tép/buội như sinh viên đã hướng dẫn, và chỉ trong hai vụ lúa, giống mới IR36 đã phủ kín khắp các vùng lúa cao sản, đánh đuổi giặc rầy nâu, chấm dứt thảm họa của nông dân”. 
          
Nhìn lại công cuộc đổi mới về kinh tế của đất nước, giáo sư Xuân nhận xét:

- Cũng con người này, đất nước này, nhờ có thay đổi chính sách một chút là có cải cách, có đổi mới. Từ một đất nước thiếu thốn đủ thứ, phải ăn gạo theo tem phiếu… trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới, dân mình đã khá hơn xưa. Nhưng, đến giờ đại bộ phận nông dân vẫn còn nghèo và thua thiệt. Cái chính của thời hội nhập là Nhà nước mình phải dám thay đổi thêm chính sách, cải cách và đổi mới mạnh hơn thì chúng ta mới có thể thắng được cái nghèo.

* Lấy người học làm trung tâm

Trăn trở về giáo dục, ông nói:

- Sản phẩm giáo dục của nước ta còn nhiều hụt hẫng so với các nước tiên tiến. Các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới đánh giá rằng hệ thống giáo dục Việt Nam chưa phải là nơi tạo động lực tối hảo cho sự nghiên cứu và phát triển đất nước và chưa làm được nơi ươm mầm cho các tài năng xuất chúng của quốc gia. 

Đổi mới giáo dục sẽ phải bắt đầu từ bậc phổ thông, lần lên đến bậc đại học, trong đó sự đổi mới phương pháp đào tạo tại đại học sư phạm đóng vai trò then chốt. Nhưng rất tiếc là Nhà nước chưa thấy sự cần thiết đó. Và như thế chúng ta sẽ càng làm chậm đi tiến trình đổi mới. Hệ thống đào tạo của Việt Nam hiện nay, từ chương trình đào tạo quá nặng nề - có quá nhiều môn học lý thuyết, nhiều môn học không quan trọng cho ngành chuyên môn, gấp đôi thời gian lên lớp so với sinh viên các nước khác, đến cách dạy chủ yếu vẫn là đọc – chép, vì dạy theo kiểu mới như “lấy người học làm trung tâm” sẽ bị cháy giáo án, cho nên không phát huy được tính sáng tạo, suy nghĩ độc lập của người học. Trong khi đó, nhất là đối với những sinh viên xuất sắc, nhu cầu học cấp bách những kỹ năng cao cấp ngày càng tăng, nhưng bị hệ thống giáo dục kìm hãm, không phát huy được. Mọi sinh viên phải chờ nhau cùng đi lên chầm chậm, người muốn đi nhanh không có cách gì để đi trước được. Trong khi đó, hệ thống giáo dục ở các nước chung quanh Việt Nam đều đã chuyển từ lâu. 
              
Còn đây là tâm sự của giáo sư Võ Tòng Xuân với thanh niên: 

- Thanh niên ngày nay có thể bị mất phương hướng phấn đấu khi thấy những biểu hiện xã hội hiện nay. Nhiều em phân vân tự hỏi mình phấn đấu học giỏi làm gì khi tiềm năng đất nước rất giàu đẹp, hàng bao nhiêu người không cần học hành gì mà vẫn làm giàu nhờ biết cách sử dụng của cải của người khác? Nói thế chứ chúng ta không thể bắt chước người vi phạm mà cũng vượt đèn đỏ khi đến nút giao thông. Thanh niên chúng ta không nên buông trôi theo cách sống “chụp giựt” mà cần nên là một cá nhân kiểu mẫu để góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, tri thức thông thái trong tương lai. Phải có ước mơ là mình sẽ làm gì để góp phần xây dựng xã hội ấy, phải thích cái ước mơ ấy, tức là phải có cái tâm với nó. 

Để thực hiện, trước nhất và cơ bản nhất là phải học thật và học giỏi, không học tắt để lên lớp hoặc để lấy bằng cấp. Trong mọi hoàn cảnh, nhất là những lúc khó khăn, càng phải có nghị lực vượt khó, luôn tìm cơ hội để phát huy trong mọi hoàn cảnh, không để mình bị trói buộc bởi những trở ngại. Như thế thì thanh niên sẽ có tri thức và kỹ năng, từ đó mới có nhiều sáng kiến thực hiện ước mơ của mình. Nhưng thế chưa đủ. Có tâm và trí rồi, thanh niên phải dũng cảm tìm cách thực hiện những sáng kiến của chính mình để làm giàu và đồng thời tạo của cải giúp ích xã hội. Trong quá trình thực hiện ý tưởng ước mơ, thanh niên còn phải trong sạch, liêm chính, không tráo trở, gạt gẫm và tham nhũng với bất cứ ai. Tóm lại, người thanh niên mới của thời đại phải có “tâm, trí, dũng, liêm.”    


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121107/gs-ts-vo-tong-xuan-phai-cai-cach-va-doi-moi-manh-hon.aspx

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012

Dân khúc buồn



Khúc ca dao / Hát một mình / Ta ru ta / Cả mảnh thinh không buồn / Tạ tình người / Đoạn thơ suông / Cứa lòng nhau / Gió lạnh suồng sã cây. Tự tình với bài thơ Dân khúc bằng hai khổ lục-bát-rơi ấy, nhà thơ Vĩnh An như muốn chạm vào cái điệu buồn sinh tử của một câu Kiều: Những điều trông thấy mà đau đớn lòng. 




Không dưng mà anh để dành bài Những chuyện bình thường vào cuối tập thơ với những câu sầu não như vầy: Đi qua năm tháng nước lã khí trời / Gạo chợ nước sông cùng cực / Mùi tiền đăng quang làm chuẩn mực /…Gọi em lột dùm xác ve sầu. Trước đó, trong bài Thú nhận, anh viết: Nơi cánh đồng tận cùng cuống rạ /… Em treo tôi trên sợi tơ óng ả / Không thể đứng yên / Không thể lao về phía gió /… Đêm muộn màng / Tôi gọi khẽ và rơi.

Dân khúc còn có nhiều bài lục bát buồn hiu “những điều trông thấy” kiểu như vậy. Trong bài Gởi một buổi chiều: Bỗng dưng chiều ngã vào đêm / Người dưng vuột miệng hẹn tìm người dưng. Trong bài Trời mưa tháng sáu: Yêu đời đi dọc cơn mưa / Trắng tay từ độ mới vừa xa em. Hay trong bài Những người thương phải xa nhau: Những người thương phải xa nhau / Nên ngàn sóng cứ xô vào đá xanh / Yêu hoài dẫu rất mỏng manh / Lúc gần gũi, lúc đã thành người dưng. Để rồi: Chợt gần mà cũng chợt xa / Chẳng còn em, chẳng còn ta, chẳng còn (Vét tình).

Và khi quay trở về nhà, theo vợ đi chùa lễ Phật, người đàn ông nhìn lại mình: Đã hai màu tóc trên đầu / Chợt vụng dại với mấy câu nguyện thầm / …Cắm nhang xong nắm bàn tay / Nghe nhoi nhói mấy vết chai đàn bà (Theo em lễ Phật đầu năm).


Trong tập Dân khúc của nhà thơ Vĩnh An (hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Trà Vinh), còn có một chùm thơ hai-ku 4 bài. Đọc hai bài này, tôi hiểu được lòng tác giả: Làm giáo chức nửa đời / Cha làm thày con đi bán sách / Cha phủi bụi thơ con (Cha); Những nỗi đau người khác / Ám ảnh cuộc sống và giấc mơ / Thì ra của chính mình (Thi sĩ)   


♥ Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121106/dan-khuc-buon.aspx

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2012

GPD giữa đồng


Đọc tập thơ GPD của nhà thơ Ngô Vĩnh Nguyên (NXB Văn hóa – Văn nghệ, quý III-2012) dễ thấy mệt, đúng như tác giả viết ở bài Đục trong tùy bút: đọc thơ mệt hơn đi cày / mồ hôi trong / lòng đục. Mệt mà thấm, vì đã cày xong; và không ai hiểu ruộng bằng chính người cày.



Không vần điệu, tác giả GDP cày sâu cuốc bẩm cánh đồng cuộc đời như bác sĩ làm phẫu thuật nội soi để nhìn cho rõ “cái bên trong” giữa thời hiện đại. Thí dụ anh không nhìn giá trị GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) theo cách hiểu quen thuộc là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền. Bởi xây một nhà máy giữa đồng, có thể đem lại công ăn việc làm cho nông dân nhưng đồng thời cũng có thể góp sức tàn phá môi trường hoặc gây những hệ lụy thương đau khác cho con người. Đây cũng là điều mà xã hội học hiện đại đang đặt ra cho cách tính GDP. Ngô Vĩnh Nguyên thử tính GDP không bằng tiền bạc - bài thơ gọn 4 câu:

Tổng hạnh phúc quốc gia
Chín chia ba bằng ba
Nhà/cửa không rầm rầm sập
Ta/mùi thịt ôi đi xa


Ấy là cách tính bằng “một chữ tình”, như tác giả tâm sự trong bài Trái chiếng mở màn tập thơ: Lời mọn / hoa quả vườn nhà / chưa thông chưa tinh / nương một chữ tình / mời anh mời chị / đọc lấy thảo. Trong 83 bài của tập thơ GDP, có 32 bài 3 câu, một bài 2 câu và nhiều bài ngắn khác tác giả mời ta “đọc lấy thảo” kiểu như vậy. Đọc và ngẫm nghĩ, thấy “có lý”, vì dù nói về cảnh nhưng rốt lại như là cày xới nội tâm mình. Thí dụ: dìm nhau xuống bùn / người hóa sen / ta lấm (Sen); hoặc xem ti vi cảnh sóng thần, anh viết bài thơ Bầu bí: sóng thần đi / ân tình bầu bí / ở lại. Hay có lần anh nhìn trăng như vầy: dưới trăng / suối tóc lai láng / gương lược khóc than (Nguyệt)

Lại có bài thơ dài tới 71 câu như bài Những cơn ho cổ điển tác giả kể câu chuyện có thật về một người cựu tù Côn Đảo “đã thao thức cùng đau nhức” viết cả ngàn trang sách trong những “cơn ho cổ điển người già”. Để rồi, cuốn sách đó trở thành một bút ký ầu ơ siêu thực / đưa hồn đồng đội trở lại cố hương như hai câu thơ kết thúc: Tổ quốc giữ được tên / mật truyền những cơn ho cổ điển.

Là một nhà báo sống giữa đồng bằng này (anh tên thật là Ngô Thanh Hòa, quê Trà Vinh và đang làm việc ở báo Trà Vinh), nhưng sáng tác văn học của Ngô Vĩnh Nguyên như là sự cất công đi tìm kiếm những căn nguyên cuộc sống. Tập truyện ngắn Hậu Sida (1990) và tập thơ Tro (1991) của anh cũng chung một nguồn chảy ấy. Dường như nghề báo (luôn đòi hỏi trung thực và chính xác) đã giúp anh thêm “khó tánh” như vậy chăng...

Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121030/gdp-giua-dong.aspx

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2012

Nguyễn Ngọc Tư - Một nhà văn viết về thân phận con người



Sau những chuyến đi bụi khắp xứ sở, có chuyến lang thang Tây Bắc rồi lên cột cờ Lũng Cú một mình, chị lại về với Cà Mau, lặng lẽ viết. Sách của chị được tái bản nhiều và được dịch ra tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Thụy Điển. Và cho tới giờ, tôi thấy điều mà chị nói khi nhận Giải thưởng Văn học ASEAN hồi tháng 9-2008 tại Thái Lan về văn chương của mình, vẫn vậy.


Ảnh: Trương Công Khả


Khi đó, chị nói ngắn, chưa đầy hai phút: “Tôi hay nghĩ về sức mạnh của những giọt nước mắt. Chúng trong trẻo, giản dị nhưng lại gây rung cảm sâu sắc. Những tối, trên bản tin truyền hình, tôi nhìn thấy một em bé, hay một phụ nữ ở xứ sở xa xôi nào đó đang khóc, vì chiến tranh, vì bạo lực, hay vì thiên tai… và những giọt nước mắt lay động bất cứ ai nhìn thấy chúng, bất chấp biên giới, màu da, thể chế chính trị, ngôn ngữ hay những cách biệt văn hóa hác. Tôi nghĩ, nếu vẽ một biểu tượng của nghề viết mà tôi đang đeo đuổi, tôi sẽ vẽ hình ảnh của giọt nước mắt, hay gần giống như thế, bởi văn học vẫn còn rào cản ngôn ngữ. Khi viết về thân phận, nỗi đau, sự bối rối thường trực của con người trước những biến cố của cuộc đời, tôi luôn ao ước những trang viết của mình có được sự rung cảm như những giọt nước mắt.  Khi ấy, trong lòng các bạn, tôi không còn là cô gái Việt Nam viết về Việt Nam, mà là một nhà văn viết về thân phận con người, như các bạn”.

Nhân vật kỳ cục nhất của văn học thế giới

Hồi đó, Cánh đồng bất tận đã được dịch sang tiếng Hàn và theo người dịch, nhà thơ Ha Jea Hong, trả lời điện thoại với chúng tôi khi anh đang đi chơi ở Cà Mau, là “sách bán chạy lắm và đã được tái bản”. Sau đó anh đã đưa tác giả và ba bạn văn Việt Nam khác sang Hàn Quốc dự giao lưu với bạn đọc tiếng Hàn về cuốn truyện này. Về phần mình, Nguyễn Ngọc Tư chia sẻ: “Tôi nhận được ở anh một tấm lòng nhiệt thành, tâm huyết, một sự thấu hiểu, đồng cảm lớn giữa người viết và người đọc”.

Giữa tháng 2-2012, Dagens Nyheter, một tờ báo lớn của Thụy Điển, đã đăng bài của giáo sư Stefan Jonsson đọc tuyển tập tuyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư do Tobias Theander dịch sang tiếng Thụy Điển (http://www.dn.se/dnbok/bokrecensioner/nguyen-ngoc-tu-falt-utan-slut) . Vị giáo sư chuyên nghiên cứu về dân tộc và là nhà phê bình văn học của tờ báo này, cho rằng đây là những truyện ngắn hoàn hảo từ Việt Nam ngày nay. Ông viết: “Ở Thụy Điển, cuộc hiện đại hóa lớn đã đánh vỡ hệ thống nông thôn tự lực, đồng thời mở cho thế giới vào. Với Tư, điều tương ứng là cuộc chiến tranh giải phóng lâu dài đã làm dân Cà Mau thấy rõ vị trí của mình trên thế giới”. Theo ông, “Trong các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện một thế giới duyên dáng, không cưỡng lại được, và tuyệt vọng” rồi cho biết: “Trong lời bạt, Tobias Theander giải thích tại sao nhiều người ở Việt Nam thương Tư, thảo luận về Tư. Tư không sắp đặt, chỉ kể lại chuyện nghiện rượu, mại dâm, áp bức phụ nữ. Và chính vì các truyện ngắn không cố gắng mang tính giáo dục, tri lại, chúng mô tả thẳng thắn mọi vấn đề, thì các nhân vật của Tư có vẻ càng anh hùng hơn khi đấu tranh để khắc phục các vấn đề này”. Giáo sư Stefan Jonsson phát hiện: “Hơn nữa, ở đây có một trong những nhân vật kỳ cục nhất của văn học thế giới, con vịt xiêm Cộc. Có lẽ, vai trò của nó là đại diện cho Phật”. 

Ở Mỹ, giáo sư Trần Hữu Dũng thuộc Đại học Wright State còn lập hẳn một “tủ  sách Nguyễn Ngọc Tư” trong trang web của mình (http://www.viet- studies.info/NNTu/index.htm). Đây là nơi đang lưu giữ nhiều nhất tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và ý kiến của bạn đọc. Có lần, trả lời phỏng vấn của chúng tôi, ông nói: “Trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư, chúng ta, ở khắp mọi phương trời, tìm lại được cái quê hương đích thực trong tâm tưởng, những tình tự ngủ quên trong lòng mình, những kỷ niệm mà mình tưởng như không ai chia sẻ”. Một lần khác, ông trả lời một bạn đọc trang web ấy, rằng: “Có rất nhiều người, từ mọi nơi trên thế giới, viết mail cảm ơn tôi về tủ sách Nguyễn Ngọc Tư. Có những em sinh viên còn rất trẻ, cũng có những người trạc tuổi tôi. Nhiều người xa quê hương đã lâu, người chỉ mới đây, người ở Hà Nội, người ở Cần Thơ. Có điều lạ là đa số đều cho tôi biết là họ đã… khóc khi đọc truyện của cô. Nhưng đó là những giọt nước mắt thương yêu, êm đềm”.

Sau chuyến về Cà Mau thăm Nguyễn Ngọc Tư, giáo sư Trần Hữu Dũng kể: “Đến Cà Mau, tôi mới thấy sự gắn kết của Nguyễn Ngọc Tư với con người, với đời sống, với đất nước quanh cô. Bối cảnh gia đình cho Nguyễn Ngọc Tư một cái nhìn mà tôi ít thấy ở ai khác. Đó là cái nhìn thật trưởng thành nhưng của một người rất trẻ. Đó là cái nhìn của kẻ đã sống qua máu lửa, chứng kiến lắm đau thương, nhưng với con mắt vô tư của một người sinh ra sau chiến tranh. Đó là cái nhìn của một người chân chất và trầm lặng, hãnh diện đã làm tròn nhiệm vụ đấu tranh cho đất nước, không chút nghi ngờ tương lai của dân tộc, nhưng chẳng có ảo tưởng nào về những mặt bất toàn của hiện tại”. Rồi ông trả lời một độc giả: “Mỗi lần về nước tôi thích giao du với các bạn trẻ. Ở họ, và nhất là ở những người như Nguyễn Ngọc Tư, tôi thấy tương lai một nước Việt Nam làm tôi vui và tin tưởng”. Tôi lại hỏi: “Theo ông thì văn Nguyễn Ngọc Tư sẽ hòa mình với thế giới này như thế nào?”. Vị giáo sư kinh tế mê văn học đưa ra một ý kiến hơi lạ: “Tại sao lại phải dịch văn Nguyễn Ngọc Tư ra tiếng nước ngoài? Tại sao không nói với người nước ngoài rằng chúng ta có một nhà văn tuyệt vời là Nguyễn Ngọc Tư (và nhiều người khác nữa), nhưng muốn thưởng thức trọn vẹn (và đó sẽ là diễm phúc cho anh, tin tôi đi!) thì anh phải ... học tiếng Việt! Như vậy có phải là hợp lý hơn không”.

Vẫn thấy mình được chúc mừng nhầm


Ảnh: Huỳnh Kim


Còn với Nguyễn Ngọc Tư, dường như càng nổi tiếng thì chị càng lặng lẽ. Cuối năm 2010, phim Cánh đồng bất tận đạt doanh thu 17 tỉ đồng cùng lúc tập truyện Khói trời lộng lẫy tái bản ngay sau tuần lễ đầu phát hành và tác giả phải về Sài Gòn dự giao lưu ra mắt sách – thế nhưng Nguyễn Ngọc Tư lại bộc bạch: “Đi giao lưu ngại thật. Thấy người ta đông tôi kinh hãi lắm, nói chẳng ra ngô ra khoai, nhất là phải nói về những chuyện mà mình không quan tâm mấy, như thể chưa từng có trong đầu mình vậy”. Trước nhiều lời chúc mừng phim Cánh đồng bất tận thành công là nhờ truyện phim hay, chị nói: “Cho tới bây giờ tôi vẫn thấy mình được chúc mừng nhầm, tôi không vơ lấy doanh thu rực rỡ của phim làm vinh dự của mình được. Từ khi đứa con tinh thần đó ra đời, người ta đã mặc cho nó một cái áo khác, sống với một tinh thần khác”. Cánh đồng bất tận kể chuyện nông thôn, nhưng cả sách, kịch và phim thì chưa được nhiều nông dân thưởng thức. Tôi băn khoăn hỏi chị về chuyện này thì chị nói: “Tôi không nghĩ viết về nông dân là để giới hạn cho người nông dân đọc. Cách nghĩ đó giống như tôi soi gương mỗi ngày và nhìn mặt mình hiện lên trên đó mỗi ngày. Người khác ngắm tôi, nhìn nhận tôi bằng cái nhìn của họ thì thú vị hơn chứ. Một vài cuốn sách mà để anh hiểu người nông dân hơn, để những giới khác quan tâm đến họ hơn, yêu thương họ hơn, với tôi đã là một tham vọng lớn rồi”.

Giờ đây cũng vậy, dù tiểu thuyết Sông được tái bản ngay trong tuần lễ đầu phát hành (lên 11.000 bản) và cuộc giao lưu ra mắt sách ở Hà Nội rộn ràng đến mấy, Nguyễn Ngọc Tư vẫn không thích nói nhiều về chuyện đã qua. Chị lại lặng lẽ ngồi vào bàn viết, viết báo Tết, viết văn và làm thơ. Thơ của chị cũng buồn như văn của chị. Nỗi buồn ám ảnh hơn. Như những giọt nước mắt.


 Mời đọc thêm tại Báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121028/nguyen-ngoc-tu-mot-nha-van-viet-ve-than-phan-con-nguoi.aspx