Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Cái tội cộng tác “tự do” với báo ngoài

Sau năm 1990, báo Tuổi Trẻ lập tổ đặc phái viên tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đặt tại Cần Thơ, mở màn cho các văn phòng đại diện sau này của báo tại các vùng kinh tế trong cả nước. Trước năm 1985, khi còn là bộ đội Quân khu 9, tôi đã cộng tác với báo Tuổi Trẻ rồi làm đặc phái viên tại ĐBSCL cho tới ngày xuất ngũ,1996. Hai câu chuyện sau đây, như những kỉ niệm khó quên về ĐBSCL, trong quãng thời gian ấy.

“Chuyện nghề & chuyện người”



1.

Trong bài “Về đâu chất xám miền Tây?” (báo Tuổi Trẻ Xuân 1992), có một đoạn như thế này: “Hồi cuối năm về Minh Hải, tôi nhận được một thông tin buồn: tỉnh không cho Đài Phát thanh - truyền hình Minh Hải phát bài nói của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại Đại hội Đảng bộ tỉnh vòng 2. Ông Võ Văn Kiệt đã nhận xét thẳng những nguyên nhân ảnh hưởng sự phát triển của Minh Hải, trong đó có việc Minh Hải chưa biết trọng dụng chất xám: “Theo những thông tin mà tôi được biết thì cán bộ ở đây chưa được sử dụng tốt: sử dụng trái ngành nghề, cán bộ tập trung quá nhiều ở cơ quan tỉnh, một số ít lại chưa có việc làm, nhiều bất hợp lí kéo dài, đãi ngộ chưa thỏa đáng, thậm chí có một số trường hợp hẹp hòi, thành kiến… Một đất nước muốn phát triển, không thể không trọng dụng những trí thức, trọng dụng nhân tài, cả chuyên gia trong nước và ngoài nước”. 

Hồi đó, tôi đã chuyển từ lính pháo binh sang làm phóng viên báo Quân khu 9 được sáu năm. Trước đó, báo và đài địa phương có “rao”, mời mọi người đón nghe / xem bài nói ấy. Nhưng tới ngày đại hội, không thấy báo chí thông tin gì. Biết lí do, tôi đã mở đầu bài báo như vậy - chỉ với một thôi thúc: góp sức đổi mới nhiều hơn cho miền Tây Nam bộ thời đó. 

Chuyện ấy của Minh Hải (nay là Cà Mau và Bạc Liêu), giờ đây thậm chí còn nóng hơn và báo chí lâu nay phê phán mạnh hơn nhiều. Vậy mà hồi đó nó là “chuyện sóng gió” trong làng báo, mà người tạo ra sự kiện cấm đoán ấy lại là ông bí thư tỉnh ủy Minh Hải lúc bấy giờ. Và, với tư cách khu ủy viên Quân khu 9, ông đã yêu cầu Quân khu 9 điều tra động cơ tôi viết bài ấy cho báo Tuổi Trẻ. Báo Quân khu 9 đã cử người đi Minh Hải tìm hiểu và xác nhận đó là sự thật. Tuy nhiên, tôi vẫn bị “hành” rất mệt mấy tháng liền vì đã cộng tác “tự do” với báo chí ngoài quân đội. Còn với báo Tuổi Trẻ thì anh Nam Đồng, lúc đó là phó Tổng biên tập, đã tính cử người về Minh Hải làm việc để “bảo vệ đặc phái viên” nhưng sau lại thôi vì tỉnh Minh Hải không chính thức “kiện” báo Tuổi Trẻ.  


2.

Lụt lội ở miền Tây không giống như ở miền Trung quê tôi. Quê Quảng Nam của tôi, tới mùa lũ lụt, chỉ cần qua một đêm nước dâng tràn bờ sông Thu Bồn, là đã thấy "đỉnh lũ" và bao nhiêu cảnh tang thương kéo dài hàng tháng trời. Mùa lụt lội ở miền Tây, dân địa phương kêu là mùa nước nổi. Con nước từ sông Mêkông tràn đồng Campuchia rồi tràn qua biên giới Tây Nam và... lừ đừ tràn ngập ruộng đồng các tỉnh trong vùng từ hai dòng sông Tiền, sông Hậu, kéo dài vài tháng. Các tỉnh ở thượng nguồn ngập trước, An Giang, Đồng Tháp, Long An... rồi tới Tiền Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Hậu Giang, Sóc Trăng, Kiên Giang. Năm lụt lớn, thậm chí mấy tỉnh ven biển như Bến Tre, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau cũng bị nước tấn công.

Tôi nhớ nhất kỉ niệm tác chiến trong mùa nước nổi tháng 9-1991. Hôm đó vào đầu tuần, báo Tuổi Trẻ nhờ tôi "làm gấp" một bài khi hay tin nước đã tràn đồng mấy huyện đầu nguồn sông Tiền, sông Hậu. Tôi đón xe đò tới Châu Đốc vào quãng 11 giờ trưa. Nhìn cảnh nước đã lé đé bờ sông thị xã và mênh mông trước mặt, tôi tạt vào bưu điện Châu Đốc fax về Sài Gòn (lúc đó chưa có e-mail) đề nghị tòa soạn cho "rao" trước trên báo Tuổi Trẻ hôm sau, mời bạn đọc đón xem phóng sự trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật bài “Lũ lụt ở hướng An Giang". 

Sau đó, tôi vọt qua huyện An Phú, cùng mấy anh ở huyện đội chạy vỏ lãi khắp nơi, chỗ nào cũng mênh mông đồng nước, không biết đâu là sông Tiền, sông Hậu, đâu là ruộng vườn trước đó. Thích nhất là gặp được một đám cưới trên hai chiếc vỏ lãi đang ngược lên biên giới. Giữa trùng trùng nước lụt đỏ ngầu phù sa, bà con mình vẫn thảnh thơi che dù đỏ, dù xanh, rộn ràng mâm lễ đi rước dâu bằng vỏ lãi.

Tối bữa đó trời mưa tầm tã, tôi về tới Sài Gòn khoảng gần 11 giờ khuya, ghé nhà anh Trần Ngọc Châu (Tổng Thư ký tòa soạn báo Tuổi Trẻ) và thức viết xong bài phóng sự kèm với chùm ảnh né lũ, kịp sáng bữa sau gửi Tuổi Trẻ Chủ Nhật  như đã hứa. Đoạn chót bài báo ấy như vầy:

Hơn một giờ trưa, chúng tôi về tới ngã ba sông Hậu. Châu Đốc vẫn rộn ràng. Lũ từ thượng nguồn vẫn đổ về, hợp với dòng kinh Vĩnh An bên hướng Đồng Tháp qua, đang cuồn cuộn tràn về hạ lưu sông Hậu, qua đất An Giang, Hậu Giang một cách lặng lẽ đầy bí ẩn  những tai ương, bất hạnh. Dẫu biết đây là con lũ sau một chu kì 84-91, tôi vẫn nao nao khi nhớ về câu hò xưa của cô gái An Giang: Hò… ơ. Con nước mênh mông trổ vàng bông điên điển / Anh có thương em thì cứ ở đây chớ can chi phải xuống biển lên rừng…

Nếu cô gái An Giang xưa biết được bây giờ những cánh rừng đại ngàn ở đầu nguồn các con sông bị tàn phá ra sao, hẳn là cô không dám ghẹo chàng trai xa xứ ấy bằng tâm hồn minh mông nước nổi của người con gái xứ đồng bằng như vậy”.


Bài đã đăng in sách “Chuyện nghề & chuyện người” NXB Trẻ nhân kỉ niệm 40 năm thành lập báo Tuổi Trẻ (2-9-1975 – 2-9-2015)

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2015

Khởi công dự án đưa điện ra xã đảo Lại Sơn



(TBKTSG Online)- Dự án cấp điện lưới quốc gia cho xã đảo Lại Sơn đã khởi công tại ấp Xẻo Nhàu, xã Tân Thạnh, huyện An Minh (Kiên Giang) vào chiều nay, 4-9.

Bến tàu tại đảo Lại Sơn. Ảnh: Đình Hoàng


Chủ đầu tư của dự án này là Tổng Công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC).

Đây là công trình có đoạn đường dây 110kV trên không vượt biển dài nhất Việt Nam, 24,5 km, lần đầu tiên được xây dựng trên vùng biển Kiên Giang, do Công ty cổ phần Thái Bình Dương thi công.

Theo ông Nguyễn Văn Hợp, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc EVN SPC, đây là dự án nằm trong chuỗi dự án cấp điện cho 6.800 hộ dân bảy xã đảo của tỉnh Kiên Giang là Hòn Heo, Hòn Nghệ (huyện Kiên Lương), Hòn Đốc (thị xã Hà Tiên), Lại Sơn, An Sơn và Nam Du (huyện Kiên Hải), Hòn Thơm (huyện Phú Quốc) với tổng mức đầu tư trên 1.500 tỉ đồng. Chuỗi dự án này được đầu tư theo ba giai đoạn.

Giai đoạn 1 (2015-2016), EVN SPC sẽ xây dựng đường dây 110 kV An Biên - Lại Sơn 43,9 km, lưới điện và trạm biến áp trên đảo Lại Sơn để cấp điện cho 1.956 hộ dân, vốn đầu tư 468 tỉ đồng. 

Giai đoạn 2 (2016-2018), với kinh phí 514 tỉ đồng, chủ đầu tư sẽ xây dựng các tuyến đường dây 22 kV vượt biển, lưới điện trung hạ áp, trạm biến thế, lắp đặt công tơ cho người dân trên các xã Hòn Nghệ, Sơn Hải (huyện Kiên Lương), xã Tiên Hải (Hà Tiên) và xã Hòn Thơm (huyện Phú Quốc).

Giai đoạn cuối từ 2018-2020 là xây dựng các tuyến đường dây 22 kV vượt biển và lưới điện trung hạ thế, trạm biến thế trên các xã đảo An Sơn và Nam Du thuộc quần đảo Nam Du với kinh phí 623 tỉ đồng

Phát biểu tại lễ khởi công, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, dự án này nhằm thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển; đồng thời xây dựng hệ thống đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia các vùng biển, đảo của Tổ quốc trong Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020.

Thủ tướng cho rằng việc cung cấp điện ổn định cho các xã đảo từ hệ thống điện quốc gia thông qua cấp điện áp 110 kV, 22 kV là phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực quốc gia, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, kích thích đầu tư, tăng trưởng kinh tế, giảm bớt và tiến tới ngừng sản xuất điện bằng máy phát điện diesel nhỏ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển đảo Kiên Giang.

Dự kiến, dự án sẽ được hoàn thành vào dịp 30-4-2016,.

Kiên Giang là một trong 28 tỉnh, thành phố của cả nước có biển, với bờ biển dài 200 km; có 143 đảo nổi, trong đó 43 đảo có cư dân sinh sống, tạo nên 5 quần đảo giàu tiềm năng kinh tế. Ngoài huyện đảo Phú Quốc được cấp điện lưới quốc gia từ tháng 2-2014 bằng tuyến cáp ngầm 110 kV vượt biển Hà Tiên - Phú Quốc dài 56 km; xã đảo Hòn Tre (Trung tâm hành chính của huyện đảo Kiên Hải) được cấp điện lưới quốc gia từ ngày 1-2-2015 bằng đường dây 22 kV trên không vượt biển Thổ Sơn - Hòn Tre dài 13 km; các xã đảo còn lại đang sử dụng nguồn phát điện diesel tại chỗ, hạn chế về năng lực cung cấp điện, chi phí phát điện rất cao và không thân thiện với môi trường.

Theo ông Lê Văn Thi, Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, Lại Sơn là xã đảo lớn nhất, đông dân cư nhất của huyện Kiên Hải, cách thành phố Rạch Giá khoảng 65 km về phía Tây; khoảng cách gần nhất với đất liền là đến khu vực Xẻo Nhàu, huyện An Minh (khoảng 25 km). Hoạt động kinh tế chính của Lại Sơn là khai thác, chế biến và nuôi trồng hải sản. Đảo Lại Sơn bắt đầu sử dụng điện nguồn diesel từ năm 2001.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/135278

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Một cựu chiến binh Mỹ muốn trao lại kỷ vật chiến trường: Đã tìm thấy người thân của liệt sĩ

Hữu Nhân 
(Báo Văn nghệ Đồng Tháp)

Báo Thanh Niên số ra ngày 20.8 có bài viết Một cựu chiến binh Mỹ muốn trao lại kỷ vật chiến trường, nói về cựu chiến binh Denver Shannon muốn tìm gặp lại thân nhân y tá quân giải phóng miền Nam VN là Lê Văn Tánh để trao lại những kỷ vật chiến trường.

Lê Văn Cứng (tự Tánh - người ngồi thứ tư từ phải qua)
Lê Văn Cứng (tự Tánh - người ngồi thứ tư từ phải qua) - Ảnh chụp năm 1968 trước khi lớp học bị tấn công


Kỷ vật là cuốn sổ tay trong đó có “Giấy chứng nhận y tá” mà Ban Quân dân y tỉnh Kiến Phong cấp cho y tá Lê Văn Tánh vào tháng 3.1966.

Từ lời kể của những đồng đội ông Lê Văn Tánh từng công tác tại Ban Quân dân y Tỉnh đội Kiến Phong những năm 1965 và qua hồ sơ lưu trữ của Sở LĐ-TB-XH tỉnh Đồng Tháp, chúng tôi đã có được thông tin rõ ràng về ông Tánh.

Lê Văn Tánh tên thật là Lê Văn Cứng, sinh năm 1940, nhập ngũ năm 1959. Sau khi học xong lớp huấn luyện y tá do Ban Quân dân y Tỉnh đội Kiến Phong (nay là Đồng Tháp) đào tạo, ông cùng một số anh em được đưa sang căn cứ B3 ở Vạt Lài (An Phú, An Giang) học tiếp lớp đào tạo y sĩ do Ban Quân dân y khu mở. Theo y sĩ Phạm Xuân Thu (hiện là Chủ tịch Hội Y học tỉnh Đồng Tháp), lúc đó khoảng tháng 5 - 6.1968. Đoàn y tá Kiến Phong tham gia lớp học có 14 người do ông Thu làm trưởng đoàn. Lớp vừa tập trung học viên được vài ngày thì bị phía Mỹ và quân đội Sài Gòn tấn công.

Hầu hết các tài liệu, giấy tờ cá nhân của học viên bị thất lạc trong trận càn này. Trong đó có những kỷ vật của ông Lê Văn Tánh bị Denver Shannon thu giữ.

Đến năm 1970, thượng sĩ Lê Văn Cứng (tức Tánh) hy sinh ở kinh I thuộc địa bàn H.Cao Lãnh, Đồng Tháp ngày nay. Hiện ông được người em trai là Lê Văn Út thờ cúng tại ấp Bình Mỹ A, xã Bình Thạnh, H.Cao Lãnh, Đồng Tháp. Được biết, em trai của ông Lê Văn Cứng là Lê Văn Cõi cũng là liệt sĩ. Các ngành chức năng Đồng Tháp đang hoàn tất hồ sơ đề nghị truy phong bà Nguyễn Thị Nối là mẹ hai liệt sĩ Cứng và Cõi danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng.


Bài đã đăng tại: 
http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/mot-cuu-chien-binh-my-muon-trao-lai-ky-vat-chien-truong-da-tim-thay-nguoi-than-cua-liet-si-600012.html

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2015

ĐBSCL: Phải xây dựng lại quy hoạch phát triển



(TBKTSG Online) - ĐBSCL sẽ phải xây dựng lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL tầm nhìn đến năm 2030 để giải quyết các điểm nghẽn trong phát triển.

Quang cảnh hội thảo “Phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030” tổ chức tại Cần Thơ sáng 21-8-2015.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nêu ý kiến trên tại hội thảo “Phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030” được tổ chức tại Cần Thơ sáng nay, 21-8.

Lý do theo ông Dũng là phải xử lý các điểm nghẽn đang tồn tại để đưa ra chiến lược tổng thể phù hợp hơn cho sự phát triển trong các năm sau.

Điểm nghẽn đầu tiên theo ông Dũng chính là việc không có sự liên kết giữa các tỉnh trong ĐBSCL: “Sẽ là sai lầm lớn nếu từng địa phương phát triển riêng lẻ, không gắn kết với nhau vì nó sẽ tác động rất lớn trong tương lai dài hạn. Thí dụ như do yếu kém về hạ tầng giao thông liên vùng, nên 70% hàng hóa ĐBSCL vẫn phải qua TPHCM, làm tăng chi phí vận tải.”, ông Dũng nói.

Ông Dũng còn cho biết: “ĐBSCL đóng góp gần 16% GDP cả nước, thứ 3 sau vùng Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Hồng song tỷ lệ đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước chỉ chiếm 10% tổng chi đầu tư cả nước, thấp nhất trong các vùng, thể hiện việc tái đầu tư cho ĐBSCL chưa được quan tâm đúng mức”. 

Về nguồn nhân lực, theo ông Dũng, tỷ lệ lao động được đào tạo ở ĐBSCL là 45,72%, thấp hơn mức trung bình của cả nước là 54,52% trong khi lực lượng lao động rất dồi dào, hơn 10,1 triệu người, chiếm 20% tổng lao động đang làm việc.

Về thu hút đầu tư nước ngoài, theo ông Dũng, tới nay ĐBSCL mới có 1.013 dự án còn hiệu lực với vốn đăng ký trên 12 tỉ đô la Mỹ, chiếm khoảng 5% so với cả nước.

Để gỡ “điểm nghẽn phát triển tại ĐBSCL” về kết cấu hạ tầng giao thông, ông Dũng cho biết sẽ phải tập trung đầu tư hoàn thành nhiều dự án lớn như đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận – Cần Thơ, cầu Cao Lãnh, cầu Vàm Cống, kênh Chợ Gạo, kênh Quan Chánh Bố, cảng biển Hòn Khoai, cảng hành khách quốc tế Phú Quốc, cảng dịch vụ tổng hợp Mũi Đất Đỏ (Phú Quốc)…

Ngoài ra, ĐBSCL cần phát triển các tiểu vùng như tiểu vùng trung tâm (thành phố Cần Thơ), tiều vùng thượng nguồn (An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang), tiểu vùng cửa sông (Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre), tiểu vùng bán đảo Cà Mau (Cà Mau, Bạc Liêu và khu vực phía Nam tỉnh Kiên Giang).

Còn ông Lê Vĩnh Tân, Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương, cho rằng phải sớm có thể chế, cơ chế phù hợp để phát triển kinh tế toàn vùng ĐBSCL. “Phải phối hợp hành động, không làm ăn riêng lẻ nữa vì cơ chế xin – cho đã không còn hiệu quả”, ông Tân nhấn mạnh.

GS.TS Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại học Quốc gia TPHCM, cũng cho rằng muốn phối hợp hiệu quả thì không thể kéo dài thực trạng “mỗi bộ ngành, địa phương đều có chương trình, quy hoạch riêng về ĐBSCL nhưng ráp lại thì không ra kết quả, thí dụ như vấn đề biến đổi khí hậu”.

Với lĩnh vực giáo dục đào tạo, ông đề nghị lấy trường đại học Cần Thơ làm hạt nhân gắn kết các viện, trường vì hiện nay tỉnh nào cũng muốn có trường đại học nhưng chất lượng không đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Trong tổng thể phát triển ĐBSCL, GS.TS Phan Thanh Bình đề nghị: “Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải thường trực điều phối, nếu không chúng ta mất sức mà không đạt được kết quả”.

Có mặt tại hội thảo, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cũng cho rằng “hạ tầng ĐBSCL chưa đáp ứng yêu cầu, sản xuất nhỏ lẻ, liên kết rời rạc, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất thấp, nguồn lực yếu, biến đổi khí hậu tác động mạnh, cải cách hành chính chậm”. Do vậy mà đời sống của đa phần người nông dân trong vùng chưa được cải thiện tương xứng.

Kết luận hội thảo, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh cho rằng: “Lợi thế của vùng ĐBSCL cần được phát huy nhằm mục tiêu cuối cùng là nâng cao từng bước đời sống người nông dân trong cả nước. Do vậy các tỉnh, thành trong vùng phải đưa những nội dung này vào nghị quyết của Đại hội Đảng bộ địa phương mình nhiệm kỳ tới”.

BIDV đầu tư mạnh vào ĐBSCL


Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), nói tại hội thảo: “Trong giai đoạn 2016-2020, BIDV cam kết tăng tổng dư nợ tín dụng tại ĐBSCL từ 35.000 tỉ đồng hiện nay lên 115.000 tỉ đồng vào năm 2018 và 160.000 tỉ đồng vào năm 2020, chiếm 16,5% tổng dư nợ của toàn hệ thống các tổ chức tín dựng khu vực ĐBSCL.


Đối với các dự án trọng điểm của vùng, BIDV cam kết dành từ 10.000-15.000 tỉ đồng để triển khai dự án kênh Quan Chánh Bố và kênh Chợ Gạo; dành 12.000 – 15.000 tỉ đồng triển khai các dự án cơ sở hạ tầng, phát triển huyện đảo Phú Quốc”.


Trong khuôn khổ hội thảo, đại diện BIDV đã ký kết 5 hợp đồng tài trợ tín dụng cho vùng ĐBSCL giai đoạn đầu, trị giá 2.133 tỉ đồng, gồm: dự án kênh Quan Chánh Bố (cửa sông Hậu); dự án nâng cấp kênh Chợ Gạo (Tiền Giang); hợp đồng tín dụng với Công ty TNHH Bệnh viện Đa khoa Thanh Vũ Medic trong lĩnh vực y tế (Bạc Liêu); Hợp đồng tín dụng với Công ty TNHH Trung An trong lĩnh vực lương thực và cánh đồng mẫu lớn (Cần Thơ); hợp đồng tín dụng với ba công ty Nam Hải, Thanh Thế, Cổ Chiên trong lĩnh vực thủy sản (Cần Thơ).


Bài đã đăng tại:

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

Một cựu binh Mỹ muốn trao lại kỷ vật chiến trường



Một cựu binh Mỹ muốn trao lại kỷ vật chiến trường - ảnh 1
Denver Shannon (ngoài cùng, bên phải) trong một cuộc giao lưu văn học ở Boston (6.2015) - Ảnh: Lê Chí

Một cựu binh Mỹ muốn trao lại kỷ vật chiến trường - ảnh 2
Giấy chứng nhận y tá của ông Lê Văn Tánh

Nhà thơ Lê Chí (Cần Thơ) cho biết: Tại cuộc giao lưu văn học ở Boston (Mỹ) hồi giữa tháng 6 vừa qua, theo lời mời của Viện William Joinner, ông có gặp Denver Shannon, một cựu chiến binh Mỹ hiện sống tại California.

Denver Shannon kể mình từng làm lính y tá ở VN, rồi làm cố vấn cho một đơn vị quân đội Sài Gòn, tham gia đánh trận ở tỉnh Kiến Phong, gần núi Cô Tô, An Giang vào năm 1969. Trong trận đánh đó, Denver Shannon giữ lại cuốn sổ tay của một y tá quân giải phóng tên là Lê Văn Tánh.

“Cuốn sổ này dày chừng 100 trang, ghi chép việc học về cơ thể, băng bó vết thương... Chữ viết đẹp bằng hai loại mực xanh và đỏ, tôi có xem qua” - nhà thơ Lê Chí cho biết và kể tiếp: “Denver Shannon nói: “Mình giữ cuốn sổ này như giữ linh hồn của ông Tánh, coi như ông Tánh chung sống với mình từ đó tới giờ”. Denver Shannon dự định tháng 12.2015 sẽ qua VN để tìm gia đình anh Tánh trao lại kỷ vật này.
Nhà thơ Lê Chí có chụp tấm ảnh “Giấy chứng nhận y tá” mà Ban Quân dân y tỉnh Kiến Phong cấp cho y tá Lê Văn Tánh vào tháng 3.1966 để trong cuốn sổ tay này và cho biết: “Denver Shannon nhờ mình về liên hệ tìm xem có ra manh mối thân nhân gia đình anh Tánh hay không”.

Đoán anh Tánh là bộ đội thuộc Quân khu 8 hồi đó (tỉnh Kiến Phong, nay là Đồng Tháp), sau khi về tới Cần Thơ, nhà thơ Lê Chí đã nhờ nhà thơ Hữu Nhân ở Hội Văn nghệ tỉnh Đồng Tháp tìm giúp. “Hữu Nhân nói đã tìm được đơn vị rồi, đang chờ đơn vị liên lạc tìm xem có ra gia đình hay không”, nhà thơ Lê Chí nói.

Cũng theo nhà thơ Lê Chí, hiện Thư viện Đại học Harvard đã mượn cuốn sổ đó để scan và lưu trữ tất cả tại thư viện trường này.

Bài đã đăng tại:
http://www.thanhnien.com.vn/chinh-tri-xa-hoi/mot-cuu-binh-my-muon-trao-lai-ky-vat-chien-truong-598843.html

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2015

100 bài vọng cổ của Viễn Châu


Lần đầu tiên, 100 bài vọng cổ đặc sắc của soạn giả Viễn Châu, được TS Huỳnh Công Tín tuyển chọn, chú giải và NXB Chính trị Quốc gia vừa ấn hành (tháng 8.2015). Công trình này được Trường ĐH Quốc gia TP.HCM tài trợ, in 1.200 bản, sách dày gần 400 trang, giá bìa 95.000 đồng.

100 bài vọng cổ của Viễn Châu
100 bài vọng cổ của Viễn Châu

NSND Viễn Châu năm nay 91 tuổi, tên thật là Huỳnh Trí Bá, quê Đôn Châu, Trà Cú, Trà Vinh. Là danh cầm đàn tranh và là soạn giả cải lương danh tiếng của Việt Nam, soạn giả Viễn Châu cho biết ý kiến về cuốn sách này: “Tôi rất vui mừng vì Ban biên tập đã chuẩn bị bản thảo hết sức công phu và chính xác, đúng với nội dung gốc của người sáng tác”.

Phần mình, NXB hy vọng “cuốn sách đáp ứng được yêu cầu của đông đảo giới đam mê ca cổ, tránh hiện tượng “tam sao thất bản” làm mất đi vẻ đẹp trong sáng của ca từ”. NXB cho rằng phần chú giải của người tuyển chọn “sẽ giúp độc giả hiểu chính xác hơn nội dung bài ca và khả năng dùng từ hết sức tài hoa mang đặc trưng Nam bộ của tác giả”. NXB kỳ vọng cuốn sách này “còn là một công trình giúp cho giới nghiên cứu và sinh viên làm cơ sở nghiên cứu về bộ môn nghệ thuật cải lương và soạn giả Viễn Châu”.

100 bài vọng cổ trong sách được chia thành 4 phần: ca cổ lịch sử, ca cổ tâm lý xã hội, tân cổ giao duyên, ca cổ hài. Xin kể tên một số bài mà nhiều người mê vọng cổ xưa nay đã thuộc lòng: Bạch Thu Hà, Chúc Anh Đài, Chút tình Dạ cổ hoài lang, Hạng Võ biệt Ngu Cơ, Hận Kinh Kha, Lòng dạ đàn bà, Phạm Lãi biệt Tây Thi, Tâm sự Mộng Cầm, Tình Lan và Điệp, Tôn Tẩn giả điên, Võ Đông Sơ, Bông ô môi, Lá trầu xanh, Gánh nước đêm trăng, Sầu vương ý nhạc, Tiếng độc huyền cầm trên bắc Cần Thơ, Tình anh bán chiếu, Tu là cội phúc, Ai cho tôi tình yêu, Ai xuôi vạn lý, Áo em chưa mặc một lần, Đêm tàn bến Ngự, Lối về xóm nhỏ, Tâm sự Văn Hường, Sợ vợ, Tứ đổ tường, Vợ tui đẹp ác…

Là người chuyên nghiên cứu văn hóa Nam bộ, TS Huỳnh Công Tín đã dụng công chú giải nhiều ca từ có gốc phương ngôn Nam bộ trong những bài vọng cổ này. Thí dụ với bài Bức thư Tư Ếch, ông giải nghĩa “Tía: cách xưng gọi người cha theo thói quen khá phổ biến của người Nam bộ xưa”; “Cao bồi: mượn từ chữ “cowboy” (coi bò), ý chỉ người nam ăn mặc, sinh hoạt “bụi đời, giang hồ” theo phong cách của người cowboy miền Tây nước Mỹ”. Hoặc với bài Bạch Thu Hà, ông giải nghĩa nhiều ca từ có điển tích và đã từ phương Bắc theo chân tiền nhân ta đi mở đất phương Nam; tỉ như: “Uyên ương: là đôi chim (vịt) phổ biến vùng châu Á, mà con trống (còn gọi là uyên) có bộ lông sặc sỡ khó nhầm lẫn và con mái (còn gọi là ương) với vành khuyên màu trắng quanh mắt, lúc nào chúng cũng đi đôi bên nhau. Nghĩa khái quát của từ là “vợ chồng”, được xem như biểu tượng của hạnh phúc và lòng thủy chung trong hôn nhân”.

Chỉ tiếc, tròn 100 bài vọng cổ đặc sắc của soạn giả Viễn Châu chủ yếu được viết trước năm 1975 trong sách này, không thấy có bài nào được chú thích về thời gian và địa điểm sáng tác.

Bài đã đăng tại
http://www.thanhnien.com.vn/doi-song/nhip-song-dia-phuong/100-bai-vong-co-cua-vien-chau-597181.html