Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

Nông nghiệp không thể không chuyển đổi


Huỳnh Kim - Trung Chánh


(TBKTSG) - LTS: Nông nghiệp sáu tháng đầu năm tăng trưởng âm (đến cuối quí 3 có tăng trưởng trở lại); trụ đỡ cho nền kinh tế không còn vững. Gần đây chúng ta hay nói tái cơ cấu nông nghiệp, nhưng cụ thể ta muốn cái gì, làm sao để đạt được... thì chưa rõ. Trong khi đó, báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 27-9-2016, cho rằng nông nghiệp Việt Nam cần chuyển đổi để cạnh tranh và thích ứng với những biến đổi của xã hội, của thị trường... với tiêu đề: “Chuyển đổi nông nghiệp: tăng giá trị, giảm đầu vào”. Nông nghiệp Việt Nam đang và sẽ thực hiện tái cơ cấu như thế nào? TBKTSG trao đổi với các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nhân…


TBKTSG: Đến giờ, nói đến tái cơ cấu nông nghiệp, hình dung của ông là gì?




Ông Trần Hữu Hiệp.

- Ông Trần Hữu Hiệp - Ủy viên chuyên trách kinh tế Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ:

Tái cơ cấu nông nghiệp chắc chắn không phải là việc phải đeo bám mục tiêu cường quốc xuất khẩu gạo hay lấy sản lượng lương thực làm thành tích, nhưng cũng không phải là việc bỏ bao nhiêu diện tích cây lúa theo cách “vẽ lại bản đồ cây trồng” để chọn con tôm, con cá theo suy nghĩ kiểu cũ - dựa vào “nguồn cung”, quên đi “hướng cầu”, mà phải bắt đầu từ đổi mới tư duy làm nông nghiệp.

Khó có thể có cuộc chuyển đổi lớn mang tính cải cách mạnh mẽ, trong khi vẫn còn đó những cản trở về chính sách đất đai, thiếu khoa học kỹ thuật cho sản xuất hàng hóa lớn, mô hình tổ chức sản xuất - kinh doanh nông nghiệp. Không thể lắt nhắt một ít chính sách trợ giúp tạm trữ lúa, muối, một ít chính sách hỗ trợ vốn, một vài dự án hỗ trợ khoa học kỹ thuật có tính đối phó ngắn hạn.

Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, trước tiên cần chuyển đổi tư duy làm chính sách mới thúc đẩy các mô hình làm ăn mới. Nông dân của ta đang miệt mài giải bài toán chi phí - lợi ích, kinh tế - môi trường, sinh kế - đời sống, kết nối hài hòa được các mắt xích của “hợp tác - liên kết - thị trường”.




GS.TS. Võ Tòng Xuân.

- GS.TS. Võ Tòng Xuân - Hiệu trưởng trường Đại học Nam Cần Thơ:

Trước tiên cần xác định mục tiêu rõ ràng về tái cơ cấu nông nghiệp. Theo tôi, đến năm 2020, sản xuất lúa, cây ăn trái, rau màu theo chuỗi giá trị trên cánh đồng lớn; quy mô diện tích sẽ tùy thuộc vào quy mô thị trường đầu ra của doanh nghiệp liên kết; nông dân trong hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới sẽ làm chuỗi giá trị cung ứng, trong lĩnh vực thủy sản sẽ là “cộng đồng nuôi cá, tôm xuất khẩu”. Mục tiêu đến năm 2030 cũng như vậy nhưng là với nền nông - công nghiệp xanh.


Ông Lê Minh Hoan.

- Ông Lê Minh Hoan - Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Tháp:

“Linh hồn” của đề án tái cơ cấu nông nghiệp của Đồng Tháp là “hợp tác - liên kết - thị trường”, trong đó mọi hoạt động sản xuất của nông dân, kinh doanh của doanh nghiệp phải hướng đến thị trường, lấy thị trường làm mục tiêu, làm chuẩn mực. Mà nói đến thị trường là nói đến cạnh tranh, mà nói đến cạnh tranh là nói đến chi phí và lợi nhuận.

Do đó, Đồng Tháp đã và đang tập trung cho việc xây dựng những mô hình giảm chi phí, như mô hình giảm lượng vật tư đầu vào bằng cách thay đổi quy trình canh tác của GS. Võ Tòng Xuân; sử dụng phân bón thông minh tan chậm của TS. Nguyễn Thanh Mỹ. Bên cạnh đó, Đồng Tháp đẩy mạnh kinh tế hợp tác để thông qua mua chung sẽ giảm về giá vật tư đầu vào.

Như vậy, tái cơ cấu nông nghiệp Đồng Tháp cũng hướng tới ba mục tiêu là “giảm chi phí sản xuất - tăng chất lượng nông sản - đa dạng hóa các dòng sản phẩm chế biến”.



Ông Phạm Thái Bình.

- Ông Phạm Thái Bình - Giám đốc Công ty TNHH Trung An (xuất khẩu gạo, ở Cần Thơ):

Vấn đề của nông nghiệp hiện nay không phải do chúng ta chỉ chú trọng vào cây lúa, không tập trung vào thủy sản, cây ăn trái. Mấy mươi năm nay ta vẫn hướng vào cả ba lĩnh vực đó. Nhưng chúng ta đã đầu tư không bài bản, cứ chạy theo phong trào, sản phẩm nào bán được thì chạy theo, kể cả các nhà khoa học và nhà quản lý, chứ không chỉ riêng người nông dân và doanh nghiệp.

Theo tôi, nông nghiệp Việt Nam phải có sự đầu tư bài bản, cây lúa vẫn phải phát triển, chứ không thể nói là lúa thừa rồi mà coi nhẹ lúa gạo được. Ví dụ với cây lúa, chúng ta phát triển mấy chục năm, xuất khẩu lúa gạo đứng nhì thế giới trong nhiều năm, nhưng đã có thương hiệu gạo nào ra trò chưa? Đến giờ, khi ký một loạt hiệp định thương mại tự do thì chúng ta không có mặt hàng nông sản nào cạnh tranh được với người ta!


TBKTSG: Vậy theo ông, để có thể tái cơ cấu nông nghiệp một cách thực sự, đúng trọng tâm và đạt mục tiêu, cần gỡ bỏ rào cản/nút thắt gì và cần bắt đầu từ đâu?



- Ông Trần Hữu Hiệp:

Lối mòn tư duy làm nông nghiệp truyền thống, chạy theo số lượng, quên giá trị như đang bị nhân lên, trở thành những tác động tiêu cực tích lũy trước sức ép cạnh tranh - hội nhập - biến đổi khí hậu.

Sức ì trong thể chế và nội tại của sản xuất nông nghiệp cần được phá băng. Quan hệ sản xuất, cơ chế chính sách được ca tụng một thời nhờ thành tựu của Đổi mới đã phát huy hết tác dụng mà chưa được thay đổi, bổ sung kịp thời. “Quán tính” của kinh tế nông hộ một thời được ca tụng nhờ có bước phát vượt bậc khi được cởi trói trước đây, nay đã mất “sức rướn”, bị lực cản bởi tính manh mún, nhỏ lẻ của nó.


- GS.TS. Võ Tòng Xuân:

Theo tôi, tái cơ cấu nông nghiệp nên được tiếp cận theo hướng phát huy tiềm năng lợi thế của từng địa phương trong điều kiện biến đổi khí hậu. Thực sự, đó là chuyển đổi một phần diện tích lúa sang sản phẩm nông nghiệp khác có giá trị cao hơn.


- Ông Lê Minh Hoan:

Tư duy thị trường phải được định hình ngay trong tư duy quy hoạch và định hình cơ chế chính sách. Chính thị trường mới quyết định nuôi trồng, sản xuất cái gì, như thế nào và bán cho ai? Không thể duy ý chí, áp đặt chủ quan từ bên trên để đặt chỉ tiêu phải sản xuất bao nhiêu, kim ngạch xuất khẩu đạt bao nhiêu. Nói cách khác, không thể áp đặt trồng cây gì, nuôi con gì trong một thị trường luôn thay đổi, “trăm người bán, vạn người mua” mà chỉ có thể định hướng và phải luôn linh hoạt theo độ co giãn của thị trường.

Các chính sách của Nhà nước cũng phải hướng tới giúp người sản xuất nhận diện và thẩm thấu tư duy thị trường như đào tạo kiến thức thị trường, cung cấp thông tin, hỗ trợ giảm chi phí vận chuyển, bảo quản, phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã (đào tạo nhân lực, đầu tư kho bãi, nhà kho, nhà xưởng...).


TBKTSG: Ông hãy thử xác định lộ trình và sự “phân vai” trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp (Nhà nước làm gì, doanh nghiệp làm sao và nông dân làm thế nào).



- Ông Trần Hữu Hiệp:

Tái cơ cấu nông nghiệp phải được tiến hành bằng tư duy, chính sách dài hạn hơn là những đối phó ngắn hạn. Cần tập trung ba vấn đề mang tính xương sống. Một là, quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo vùng, theo quy mô liên kết vùng trên cơ sở gắn với cung - cầu thị trường. Hai là, tái cấu trúc nông nghiệp phải theo hướng sản xuất hàng hóa lớn. Quá trình tái cơ cấu phải chú trọng đến việc đổi mới cơ chế, chính sách nhằm đảm bảo tính hài hòa trong việc phân chia lợi ích giữa các khâu trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Ba là, tập trung cải tạo giống cây trồng, vật nuôi, tạo các giống có năng suất, chất lượng và giá trị cao. Đưa nhanh các công nghệ mới vào tất cả các khâu: sản xuất, thu hoạch, bảo quản, chế biến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, gắn với đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, khuyến khích nông dân khởi nghiệp cùng với nâng cao tri thức kinh doanh nông nghiệp cho nông dân.


- Ông Lê Minh Hoan:

Với Nhà nước, phải thay đổi triệt để tư duy thị trường, từ đó định hình lại bộ máy tổ chức từ trung ương xuống tận cơ sở. Hệ thống hóa các chuẩn mực thị trường cho từng loại nông sản, xây dựng chiến lược quảng bá nông sản ra thị trường thế giới, khơi thông thị trường nội địa, tăng cường kiểm tra các vật tư đầu vào, có chính sách giảm chi phí lưu thông đối với các sản phẩm quốc gia chủ lực, chính sách hỗ trợ đủ mạnh cho hợp tác xã như đã đề cập ở trên. Kiến tạo môi trường chính sách và pháp lý để tạo sự liên kết ổn định giữa doanh nghiệp và nông dân thông qua các mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã.

Với doanh nghiệp, thực hiện vai trò dẫn dắt định hướng thị trường mang tính chiến lược và dài hạn thay cho tư duy kinh doanh theo từng thương vụ, mùa vụ. Doanh nghiệp là xương sống, là mắt xích quan trọng nhất trong xây dựng chuỗi ngành hàng, từ đó xây dựng thương hiệu nông sản quốc gia hay địa phương. Doanh nghiệp, thông qua thị trường, tham vấn cho Nhà nước và nông dân xây dựng các bộ tiêu chuẩn quy định kỹ thuật, xây dựng quy trình canh tác theo mô hình nông nghiệp thông minh, định hình quy mô sản xuất cho từng loại nông sản, xây dựng hệ thống logistics phối hợp với Nhà nước quảng bá hình ảnh doanh nghiệp qua đó quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp.

Với nhà nông, phải xác định tăng cường hợp tác với nhau là giải pháp duy nhất để nâng cao năng lực, để tận dụng thế mạnh của “mua chung, bán chung”. Phải biết liên kết với doanh nghiệp một cách dài hạn, cùng chia sẻ lợi nhuận, rủi ro, từ đó góp phần xây dựng truy xuất nguồn gốc, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu nông sản. Nâng cao năng lực, kiến thức thị trường, tiếp cận các công nghệ bảo quản, chế biến đơn giản để giảm dần bán nông sản tươi, tăng dần nông sản bảo quản, nông sản chế biến. Hướng dần đến hình thành nông dân chuyên nghiệp, doanh nghiệp hóa nông dân.


- GS.TS. Võ Tòng Xuân:

Từ mục tiêu đã nêu, tôi đề nghị chúng ta tiến hành từng bước, một cách chắc chắn, theo chuỗi giá trị của quy trình nông nghiệp công nghệ tiên tiến. Đầu tiên là cải tiến bản đồ quy hoạch, cần chỉ ra các đơn vị đất đai gắn liền cây trồng, vật nuôi thích hợp, sẵn sàng đem ra sử dụng khi có tín hiệu thị trường.

Kế tiếp, tiến hành ba bước đến tái cơ cấu: Thứ nhất là tìm và mở thị trường. Thứ hai, khi đã xác định được thị trường, tiến hành quy hoạch vùng thích hợp để tổ chức hạ tầng cho nông dân tham gia sản xuất nguyên liệu, không để nông dân làm tự phát như bấy lâu nay. Thứ ba, tìm cho được doanh nghiệp biết tổ chức chế biến sản phẩm có thương hiệu từ nguyên liệu trên đây, biết quản lý kinh doanh sản phẩm của dự án. Biện pháp thực hiện, theo tôi, cần xã hội hóa.

- Ông Phạm Thái Bình: Về chính sách, bắt đầu từ việc trả lời câu hỏi cần làm gì để có sản phẩm nhằm nâng cao giá trị, giảm chi phí để cạnh tranh với thị trường thế giới. Ví dụ nhiều hàng nông sản Việt Nam chưa có thương hiệu, cụ thể là gạo. Hiện trong nước nói không dùng gạo bẩn nữa, tức gạo mà trong quá trình sản xuất bị bón phân, phun xịt thuốc vô tội vạ. Thế thì làm sao, ai làm để có gạo sạch?

Rõ ràng doanh nghiệp và nông dân phải làm việc này, nhưng để doanh nghiệp và nông dân liên kết trồng được gạo sạch thì phải có cơ chế, chính sách của Nhà nước để thay đổi quy trình canh tác. Rồi phải có vùng nguyên liệu. Cái này tốn nhiều vốn, cũng phải có Nhà nước hỗ trợ. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là Nhà nước bỏ tiền ra cho doanh nghiệp, mà Nhà nước tạo ra cơ chế, chính sách để doanh nghiệp làm ra được vùng nguyên liệu.


Bài đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/152278/

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

Tân Cảng-Cái Cui (Cần Thơ) sắp đón được tàu container



  
Bốc hàng gạo xuất khẩu tại Tân Cảng – Cái Cui vào sáng nay, ngày 5-10-2016, để chuẩn bị xuống tàu container đi Hải Phòng vào ngày 25-10 tới.
 

(TBKTSG Online) - Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn (SNP) đã hoàn thành đầu tư nâng cấp cảng Cái Cui (thuộc Tổng Công ty phân bón và hóa chất dầu khí – PVFCo) thành cảng Tân Cảng - Cái Cui từ ngày 29-9 và dự kiến bắt đầu đón chuyến tàu biển container đầu tiên vào ngày 25-10-2016.

Phát biểu tại tọa đàm về hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu về dịch vụ logistics tại cảng Cái Cui ở Cần Thơ hôm nay, 5-10, ông Phùng Ngọc Minh, Phó Tổng giám đốc SNP, cho biết: “Chúng tôi đã hoàn thành đầu tư nâng cấp Tân Cảng - Cái Cui vào ngày 29-9 để có thể ngày 25-10 tới, nơi này sẽ đón chuyến tàu hàng container đầu tiên nhằm kết nối hàng hóa ĐBSCL với hệ thống cảng nội địa và ra thế giới”.

Ông Đặng Thanh Sơn, Phó giám đốc Marketing SNP đã giới thiệu với hơn 60 doanh nghiệp ĐBSCL dự tọa đàm về năng lực của SNP, với 49 đầu mối trong nước, trong đó có ba cảng cung ứng nội địa (feeder) gồm Cát Lái, Phú Hữu, Hiệp Phước, ba cảng nước sâu ở Cái Mép (TCCT, TCIT, TCTT), 8 cảng sà lan tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và 4 tàu biển tuyến Bắc – Nam; dự kiến sẽ triển khai trực tiếp tuyến dịch vụ đi quốc tế tại cảng Tân cảng - Cái Cui.

Ở ĐBSCL, ngoài cảng Tân cảng - Cái Cui, theo ông Sơn, SNP còn có các cảng khác tại Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang, Kiên Giang và Bến Tre. “Chúng tôi sẵn sàng cung cấp dịch vụ từ cảng Cái Cui đi các tỉnh khác ở ĐBSCL, lên TPHCM, ra miền Trung, miền Bắc và ngược lại để các doanh nghiệp ở ĐBSCL tiết kiệm được thời gian, chi phí so với đi xe tải”, ông Sơn nói.

Riêng Tân cảng - Cái Cui nay có thể tiếp nhận tàu 20.000 DWT với các dịch vụ logistics như bốc xếp tàu container, sà lan; hàng rời, đóng – rút hàng hóa; dịch vụ depot rỗng và kho hàng.

Dự kiến ngày 25-10 tới, tàu feeder tên là Tân Cảng Foundation sẽ đưa ít nhất 70 container tiêu chuẩn (TEU) hàng từ Cảng Hải Phòng đến Tân Cảng - Cái Cui và xuất ít nhất 70 TEU hàng nông sản từ đây đi TPHCM - Hải Phòng.  “Đây là tàu container chạy đường biển đầu tiên vào cảng Cái Cui qua đường kênh Quan Chánh Bố ngoài cửa sông Hậu”, đại diện SNP cho biết.

Bài đăng tại:
http://www.thesaigontimes.vn/152319/Tan-Cang-Cai-Cui-Can-Tho-sap-don-duoc-tau-container.html

Mai sau, Mêkông sẽ còn gì



Lê Phát Quới

Trên 90% nguồn nước của vùng ĐBSCL nhận được từ sông Mêkông. Dưới những tác động của các đập thủy điện và nhu cầu dùng nước ngày càng lớn ở các quốc gia thượng nguồn, vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất.


(TBKTSG) - Các chính sách can thiệp còn chưa đồng bộ, mới chỉ hướng đến tác động của biến đổi khí hậu mà chưa đánh giá đúng mức tác động của các hoạt động can thiệp của con người trên dòng Mêkông, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL.

Sông Mêkông là một trong những con sông lớn nhất trên thế giới, với chiều dài gần 5.000 ki lô mét và một lưu vực rộng lớn khoảng 795.000 ki lô mét vuông. Lưu lượng nước của sông Mêkông khá lớn, đứng thứ 10 trên thế giới, hàng năm đạt trung bình khoảng 475 triệu mét khối. Tài nguyên nước sông Mêkông đã và đang giúp phát triển sinh kế cho nhiều cộng đồng trong lưu vực.

Việc gia tăng sử dụng nguồn nước để sản xuất nông nghiệp và xây dựng các đập thủy điện phía thượng nguồn trong thời qua đã làm suy giảm nguồn nước và biến động dòng chảy, đồng thời với ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đây là tác động kép gây ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL.
Một số giải pháp đã được đưa ra, tuy nhiên chưa đồng bộ và mới hướng theo tác động do biến đổi khí hậu mà chưa đánh giá đầy đủ những tác động ảnh hưởng từ các hoạt động phía thượng nguồn.
Những tác nhân

Tài nguyên nước sông Mêkông đã và đang có những thay đổi về lưu lượng cũng như động thái của dòng chảy theo mùa. Sự thay đổi này do từ các yếu tố tự nhiên và do tác động từ hoạt động của con người trong lưu vực.

Mở rộng diện tích nông nghiệp.


Diện tích sản xuất nông nghiệp đã và đang được mở rộng ở các quốc gia trong lưu vực sông Mêkông như Myanmar, Lào, Campuchia, do đó nhu cầu sử dụng nước ở phía thượng nguồn ngày càng nhiều. Vì vậy, lượng nước từ thượng nguồn sông Mêkông chuyển về hạ lưu càng lúc càng giảm đi và chắc chắn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế vùng ĐBSCL.

Trên 90% nguồn nước của vùng ĐBSCL nhận được từ sông Mêkông. Dưới những tác động của các đập thủy điện và nhu cầu dùng nước ngày càng lớn ở các quốc gia thượng nguồn, vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất.
Các đập thủy điện.

Phía thượng nguồn sông Mêkông thuộc tiểu lưu vực phía Trung Quốc với tám đập thủy điện, tiểu lưu vực của Thái Lan, Lào và Campuchia với 17 đập thủy điện đang được quy hoạch và hai thủy điện đang trong quá trình xây dựng là Xayabury và Don Sahong (Lào).

Quá trình xây dựng và vận hành các đập thủy diện đã gây ra thiếu hụt nguồn nước và làm thay đổi dòng chảy của sông, gây ra những khó khăn về sản xuất và thời vụ canh tác nông nghiệp ở vùng ĐBSCL.

Thiếu hụt phù sa.


Nguồn phù sa đóng góp vào quá trình bồi đắp vùng đồng bằng và vùng duyên hải của ĐBSCL. Đây là nguồn chất dinh dưỡng thiên nhiên cho sinh vật và tạo sự phì nhiêu cho đất nông nghiệp vùng hạ lưu. Tuy nhiên, những đập thủy điện trên sông Mêkông đã ngăn chặn và làm giảm lượng phù sa từ thượng nguồn đổ về phía hạ lưu. Sự thiếu hụt lượng phù sa làm mất cân bằng sông tạo ra hiện tượng sông đói (hungry river) và gây ra xói lở ven bờ để bù đắp lượng phù sa thiếu hụt. Những hiện tượng sạt lở bờ sông Tiền và sông Hậu trong những năm qua đã gây tác hại đến đời sống cư dân ven sông.

Giảm lượng phù sa sông cũng sẽ làm cho đất ngày càng kém màu mỡ, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây suy thoái đất. Để có thể giữ ổn định năng suất lúa thì phải gia tăng lượng phân bón hàng năm khiến cho thu nhập của nông dân bị giảm.

Xói lở đất.


Khai thác cát trên sông là một trong những vấn đề đã được các nhà khoa học cảnh báo vì làm giảm lượng phù sa, ảnh hưởng đến sự vận chuyển chất dinh dưỡng, tính ổn định của ĐBSCL và làm thay đổi dòng chảy tự nhiên dẫn đến gia tăng phạm vi xói lở bờ sông và khu vực ven biển.

Hạn hán và xâm nhập mặn.


Đã có sự thay đổi khá rõ rệt về khí hậu trong vùng ĐBSCL. Nhiệt độ tăng cao cùng với mùa khô kéo dài, thiếu hụt nguồn nước đổ từ sông Mêkông đã gây ra tình trạng hạn hán khá khắc nghiệt và mặn xâm nhập sâu vào đồng bằng đã gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp trong những năm qua.

Suy giảm nguồn thủy sản.


Ngoài ngành nuôi thủy sản nước ngọt, tài nguyên thủy sản tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định sinh kế cho cộng đồng vùng ĐBSCL. Các đập thủy điện sẽ ngăn chặn và làm giảm nguồn cá di chuyển từ thượng nguồn xuống hạ lưu và việc thiếu nước ngọt sẽ ảnh hưởng ngành nuôi và chế biến thủy sản vùng ĐBSCL.

Những tác động đến các hệ sinh thái. Sự thiếu hụt nguồn nước, phù sa từ dòng chính sông Mêkông và xâm nhập mặn sẽ gây nên tình trạng suy thoái đất, và đưa đến sự thay đổi và suy giảm các hệ sinh thái nông nghiệp, đa dạng sinh học ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL.
Tóm lại, với những tác động nêu trên, một viễn cảnh không sáng sủa có thể sẽ xảy ra nếu không có các giải pháp kỹ thuật và những chính sách hợp lý cho vùng ĐBSCL.

Tài nguyên đất sẽ bị suy giảm nghiêm trọng từ những tác động thiếu nguồn nước, phù sa và xâm nhập mặn. Các hệ sinh thái nông nghiệp sẽ bị thay đổi và suy giảm cùng với sự suy giảm đa dạng sinh học, và việc sản xuất lúa, hoa màu và cây ăn trái sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Nghề thủy sản đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sản xuất của vùng đồng bằng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do thiếu hụt cũng như ô nhiễm nguồn nước. Sẽ phải tăng vốn đầu tư để duy trì năng suất, nhưng hiệu quả kinh tế sẽ là vấn đề cần xem lại, và sẽ là bài toán khó cho người dân nghèo ở vùng ĐBSCL.

Yêu cầu khẩn thiết về chính sách


Những vấn đề nêu trên đã được các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế đề cập khá nhiều, Chính phủ đã có những chương trình và các ngành liên quan đã đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện điều kiện sản xuất của vùng ĐBSCL.

Các kịch bản về mực nước biển dâng đã được mô hình hóa và chỉ mang tính trình bày diễn thế trong tương lai. Một số giải pháp cho vùng ĐBSCL đưa ra chỉ mang tính cục bộ cho từng ngành mà chưa mang tính tổng hợp để giải quyết vấn đề chung về phát triển kinh tế - xã hội cho cả vùng đồng bằng dưới tác động kép: thiếu hụt nước từ sông Mêkông và xâm nhập mặn, mực nước biển dâng.

Sự cần thiết của việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đã được đề cập, nhưng mô hình sản xuất phù hợp trong điều kiện khó khăn về nguồn nước vẫn chưa cụ thể và điều quan trọng là các chính sách cũng như chuỗi giá trị của nông sản, đặc biệt là nông sản từ chuyển đổi cơ cấu sản xuất vẫn chưa được đề cập.

Trên 90% nguồn nước của vùng ĐBSCL nhận được từ sông Mêkông. Dưới những tác động của các đập thủy điện và nhu cầu dùng nước ngày càng lớn ở các quốc gia thượng nguồn, vùng ĐBSCL của Việt Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất do nằm cuối nguồn sông Mêkông. Tuy nhiên, vấn đề nguồn nước và những tác động có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL mới chỉ đặt thành vấn đề mà chưa có kế hoạch hành động cụ thể với những chính sách hỗ trợ cho các địa phương trong việc ứng phó với những tác động khắc nghiệt trong tương lai.


Tăng trưởng kinh tế bền vững phải song song với việc duy trì các hệ sinh thái khỏe mạnh và nguồn nước. Do đó cần phải có ngay những can thiệp hiệu quả để tránh những suy thoái môi trường vĩnh viễn, trong đó, sự can thiệp bằng chính sách phải được xem là ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, các chính sách phù hợp cho sản xuất nông nghiệp và các ngành có liên quan trong tình hình hiện nay và viễn cảnh tương lai cho vùng ĐBSCL vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và đề xuất thực hiện.

Bài đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/133341

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2016

Để biển đảo và biên giới Tây Nam hòa bình, phát triển


(TBKTSG Online)- Hôm nay, 29-9, tại Cần Thơ, lần đầu tiên Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ phối hợp với Hội Nhà báo Việt Nam tổ chức hội thảo “Tuyên truyền về biên đảo và biên giới vùng Tây Nam bộ”.
Quang cảnh hội thảo tại Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ hôm nay, 29-9-2016.

Theo Đại tá Nguyễn Duy Tỷ, Phó Tư lệnh - Tham mưu trưởng (Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 5 Hải quân), vùng biển Tây Nam giáp ranh với 4 nước là Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia. Đây là khu vực nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế, có nhiều tàu thuyền thường xuyên qua lại và cũng là nơi làm ăn sinh sống của hàng chục vạn ngư dân Việt Nam với nghề đánh bắt, khai thác, chế biến hải sản. Đây cũng là khu vực phát triển mạnh về du lịch, vận tải biển và các hoạt động kinh tế khác. 

“Về pháp lý, trên vùng biển Tây Nam hiện nay, Việt Nam mới phân định được biên giới biển với Thái Lan; còn lại đang tồn tại nhiều vấn đề chưa giải quyết, như vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia (trên 8.797 kilô mét vuông); vùng chồng lấn Việt Nam – Malaysia (khoảng 2.800 kilô mét vuông); vùng chồng lấn giữa 3 nước Việt Nam - Thái Lan - Malaysia (650 kilô mét vuông)”, ông Tỷ nói.


Đại tá Nguyễn Duy Tỷ phát biểu tại hội thảo “Tuyên truyền về biên đảo và biên giới vùng Tây Nam bộ” ngày 29-9-2016.

Thời gian qua, theo Đại tá Nguyễn Duy Tỷ, tình hình quốc phòng, an ninh trên vùng biển Tây Nam cơ bản ổn định, kinh tế xã hội phát triển khá; tuy nhiên vẫn còn nổi lên bốn vấn đề:

Thứ nhất, những diễn biến chính trị phức tạp của các nước trong khu vực đã làm cho tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên vùng biển Tây Nam ngày càng nóng lên. Rõ nhất là các hoạt động kích động, bài xích người Việt Nam tại Campuchia (hiện chỉ riêng các tỉnh ven biển Campuchia giáp Việt Nam, bà con Việt Kiều tại Campuchia đã có hơn 211.000 người với hơn 2.800 tàu cá các loại).

Thứ hai, hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại trên biển vẫn còn diễn ra. Việc khai thác thủy sản bằng xung điện, thuốc nổ và các phương pháp đánh bắt khác gây hủy hoại môi trường biển, tranh chấp ngư trường rất phức tạp, tập trung nhiều ở vùng biển ven bờ, ven các đảo của ta và vùng biển giáp ranh với Campuchia, vùng nước lịch sử giáp bờ biển tỉnh Campốt, gần các đảo của Campuchia và vùng biển giáp ranh giữa Campuchia - Thái Lan. Trong năm 2015 và 9 tháng đầu năm 2016, có 5 vụ tàu cá Việt Nam bị tàu nước ngoài bắn do tranh chấp ngư trường, làm chết một người, bị thương bảy người.

Thứ ba, tăng tình trạng tàu cá ngư dân các nước vi phạm vùng biển của nhau để đánh bắt hải sản trái phép, nhất là tàu đánh cá Việt Nam. Trong năm 2015 và 9 tháng đầu năm 2016, đã có 162 vụ tàu cá của nước ta sang vùng biển nước ngoài khai thác hải sản trái phép bị các lực lượng quản lý biển của nước ngoài bắt giữ với 329 phương tiện, bị phạt tiền trên hai tỷ đồng. Ngoài ra, đã có hơn 32.000 lần tàu, thuyền ngư dân ta sang vùng biển Campuchia đánh bắt hải sản, trong đó một số lượng không nhỏ có hiệp đồng đánh bắt bất hợp pháp với một số lực lượng chức năng Campuchia. 

Thứ tư, tình hình an ninh chính trị trên đảo Phú Quốc, có thời điểm diễn biến tương đối phức tạp sau khi có sự đầu tư mạnh của các công ty trong, ngoài nước vào Phú Quốc phát triển các dự án du lịch như gia tăng lao động tự do đến đảo làm ăn, sinh sống; tăng tội phạm về trật tự xã hội; tăng đầu cơ, mua bán, sang nhượng đất trái phép, chặt phá rừng... 

“Thời gian tới, dự báo tình hình còn nhiều diễn diến hết sức phức tạp, nhất là khi Trung Quốc tiếp tục gây căng thẳng trên biển Đông và Camuchia bầu cử HĐND năm 2017 và bầu cử Quốc hội vào năm 2018”, Đại tá Nguyễn Duy Tỷ nhấn mạnh và đề xuất một loạt giải pháp phối hợp giữa trong và ngoài nước để bảo đảm vùng biên giới và biển đảo Tây Nam bộ hòa bình, phát triển.

Riêng với Chính phủ, ông nói: “Đề nghị Chính phủ đàm phán sớm ký kết phân định vùng biển với các nước trong khu vực để có cơ sở pháp lý trong quản lý vùng biển Tây Nam và đàm phán, ký kết hiệp định nghề cá với chính phủ các nước có chung biên giới trên biển khu vực biển Tây Nam, tạo hành lang pháp lý cho tàu cá Việt Nam hoạt động hợp pháp, hạn chế đến mức thấp nhất tàu cá Việt Nam vi phạm vùng biển nước ngoài. Tăng cường phương tiện cho các lực lượng chức năng quản lý biển các loại tàu thuyền có công suất lớn, tốc độ cao, khả năng chịu đựng sóng gió tốt để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động vi phạm của nước ngoài, khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển, đối phó có hiệu quả với âm mưu lấn chiến chủ quyền biển, đảo của ta”.

Giải pháp kinh tế và truyền thông


@ Tăng cường hợp tác kinh tế - thương mại trực tiếp với các địa phương Campuchia giáp biên với ta, coi trọng hình thức các khu kinh tế cửa khẩu, chợ biên giới; có các cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút các dự án đầu tư bằng hình thức FDI, ODA và viện trợ phi chính phủ vào khu vực biên giới; khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư sang các tỉnh giáp biên của Campuchia; ưu tiên nâng cấp các tuyến đường giao thông nội địa tới các cặp cửa khẩu đã được hai nước hoạch định.


(Lê Tuấn Khanh – Vụ trưởng Vụ Campuchia & Lào - Bộ Ngoại giao)


@ Để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biển đảo, biên giới, lãnh thổ, các cơ quan báo chí cần đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền về kết quả công tác quản lý biên giới; thông tin chính xác, có tính thuyết phục về hệ thống cột mốc phân giới đất liền Việt Nam – Campuchia giúp các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước cũng như bạn bè quốc tế hiểu đúng chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.


(PGS. TS Nguyễn Thành Lợi - Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập tạp chí Người Làm Báo).

Hàn Quốc xây nhà máy giày thể thao Taekwang Cần Thơ


Lễ khởi công xây dựng nhà máy giày thể thao Taekwang Cần Thơ vào sáng ngày 29-9. 


(TBKTSG Online) - Nhà máy sản xuất bán thành phẩm giày thể thao Taekwang Cần Thơ 100% vốn của Hàn Quốc được khởi công xây dựng bên bờ sông Hậu, TP. Cần Thơ sáng nay, 29-9.

Nhà máy này được xây dựng trên khu đất rộng 62 hecta, thuộc Khu công nghiệp Hưng Phú 2B, Quận Cái Răng, TP. Cần Thơ, bên bờ ngã ba sông Hậu - sông Cần Thơ, đối diện bến Ninh Kiều. Tổng vốn đầu tư của dự án  là hơn 171 triệu đô la Mỹ, là 100% vốn của Tập đoàn Taekwang (Hàn Quốc).

Nhà máy bao gồm xưởng sản xuất giày thể thao thương hiệu Nike, xưởng chế tạo, kho hàng, nhà giữ xe và văn  phòng. Dự kiến nhà máy bắt đầu hoạt động vào cuối quí 1-2017. Công nghệ sản xuất giày của nhà máy Taekwang Cần Thơ theo tiểu chuẩn của Tập đoàn thể thao Nike (Mỹ). Sản phẩm được phân phối theo đơn đặt hàng của Nike để xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới.

Theo ông Nam Jung Dae, Tổng giám đốc Công ty TNHH Taekwang Cần Thơ (thuộc Tập đoàn Taewang Việt Nam), dây chuyền sản xuất của nhà máy được thiết kế với công nghệ hiện đại, bảo đảm vệ sinh công nghiệp, xả thải theo đúng quy định của Việt Nam và quốc tế.

Không nói rõ công suất nhưng ông Nam Jung Dae cho biết sau khi hoạt động ổn định, nhà máy sẽ tạo việc làm cho khoảng 35.000 lao động; doanh thu sẽ đạt 455 triệu đô la Mỹ/năm.

Bài đã đăng tại:
http://www.thesaigontimes.vn/152031/Han-Quoc-xay-nha-may-giay-the-thao-Taekwang-Can-Tho.html

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Cần Thơ: Năm 2017 có thể đóng cửa các điểm chôn rác thải




 
Cảnh thu gom rác thải ở phường Trà Nóc, quận Ninh Kiều, TP. Cần Thơ. Ảnh: Lê Hoàng Vũ

(TBKTSG Online) - Hiện có ba công ty đang đầu tư công nghệ đốt chất thải rắn tại Cần Thơ và nhà chức trách địa phương hy vọng đến năm 2017 sẽ đóng cửa các điểm chôn rác thải tại huyện Cờ Đỏ, nơi người dân đang phải chịu nhiều ô nhiễm.

Trả lời báo chí về giải pháp xử lý rác thải tại buổi họp báo quý 3 của UBND TP. Cần Thơ hôm nay, 28-9, ông Nguyễn Tấn Dược, Giám đốc Sở Xây dựng TP. Cần Thơ, nhấn mạnh: “Cố gắng đến năm 2017 sẽ đóng cửa ba khu chôn rác thải tại huyện Cờ Đỏ”. Ông Dược nói tiếp: “Phải hiểu sức chịu đựng của người dân Cờ Đỏ; bao nhiêu rác thải từ nơi khác đem về chôn lấp tại đó, làm sao người ta chịu nổi”.

Về giải pháp, theo ông Dược, hiện ba doanh nghiệp tư nhân có nhà máy đốt rác tại Cần Thơ đang làm thủ tục mua lại các khu xử lý chôn rác ở huyện Cờ Đỏ để xây tiếp nhà máy đốt rác. Ngoài ra, Cần Thơ cũng đang chờ UBND tỉnh Vĩnh Long cho phép nhà máy xử lý rác Phương Thảo nằm bên kia cầu Cần Thơ được đốt rác thải đưa từ Cần Thơ qua. “Được vậy thì có thể chấm dứt các điểm chôn rác thải ở Cờ Đỏ sớm hơn”, ông Dược nói.

Ba doanh nghiệp đang mua các khu chôn lấp rác ở Cần Thơ là Công ty Cổ phần Thương mại và đầu tư công nghệ Ecotech Việt Nam (đầu tư nhà máy xử lý chất thải rắn bằng công nghệ đốt tại Khu xử lý chất thải rắn quận Ô Môn từ tháng 11-2014, công suất 250 tấn/ngày); Công ty TNHH Dịch vụ thương mại Minh Thông (đầu tư nhà máy xử lý chất thải rắn công nghệ đốt tại huyện Cở Đỏ từ tháng 10-2015, công suất 65 tấn/ngày) và Công ty TNHH Môi trường xanh Phương Việt, đầu tư các lò đốt chất thải rắn tại quận Thốt Nốt từ tháng 8-2016, công suất 35 tấn/ngày.

Ông Dược cho biết hiện nay mỗi ngày TP. Cần Thơ đốt được khoảng 320 tấn rác thải, còn lại chôn ở huyện Cờ Đỏ khoảng 330 tấn. Cụ thể, tại 9 quận, huyện của TP. Cần Thơ, hiện mỗi ngày thu gom được khoảng 650 tấn chất thải rắn (tỷ lệ thu gom từ 85-90%). Trong đó, nhiều nhất từ quận Ninh Kiều, mỗi ngày có khoảng 150/340 tấn rác được đưa tới đốt ở Khu xử lý chất thải rắn quận Ô Môn, số còn lại đem chôn lấp ở Khu xử lý chất thải rắn huyện Cờ Đỏ.

Tại hai khu xử lý chất thải rắn này, mỗi ngày còn đốt và chôn lấp khoảng 310 tấn rác thải đến từ Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Cờ Đỏ, Thới Lai, Phong Điền, Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh.

Bài đã đăng tại:
http://www.thesaigontimes.vn/151986/Can-Tho-Nam-2017-co-the-dong-cua-cac-diem-chon-rac-thai.html