Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Nỗi buồn có ích


Theo chủ trương “duyệt phim con heo” của Ban tuyên giáo tỉnh nọ, để có góp ý về “sự tác hại” của loại phim này, ba người nữ (có hai còn là con gái) buộc phải ngồi xem một phim sex bên cạnh nhiều người nam nữ khác, phần nhiều là cán bộ viên chức nhà nước. Từ đầu tới cuối buổi phim, thế giới nội tâm của họ gần như là một cuộc phản kháng cái chủ trương kinh dị ấy.

Cuối câu chuyện, thái độ của Thùy, một trong ba nhân vật nữ, như sôi cháy lên: “Chị giận dỗi lên xe, không biết giận gì, chỉ thấy lòng tràn ngập giận dữ và đau buồn. Buồn không biết nói sao cho hết. Cái lũ đóng phim, cái lũ làm phim, cái lũ bán phim và cái lũ đã bắt những người như chị ngồi xen với đàn ông để xem chúng bằng màn ảnh rộng giữa thanh thiên và bạch nhật. Thực sự chị muốn tru lên, như một con chó hoang - có những lúc không phải thét hay rú hay khóc nấc lên mà là tru lên thì mới đáng và mới thỏa”.

Trước đó, giữa hội trường phim đang chiếu: “Cô bạn nhà báo non rú khẽ lên rồi lấy nón vải úp lên mặt. Cô gái già ở Phụ nữ tỉnh trố mắt, không chớp, không cử động, như vừa bị phang một cú trúng ngực, không cả thở. Thực sự Thùy không dám quan sát những người ngồi rải rác chung quanh, chị thấy mình như bị lột trần, dưới bao nhiêu đôi mắt cử tọa đàn ông kia. Sao chúng tôi có thể bị đối xử như vậy? Sao họ nỡ cho chúng tôi ngồi xem phim sex với bao nhiêu người đàn ông quen biết giữa ban ngày ban mặt như vậy? Họ định tra tấn chúng tôi bao lâu nữa, cái thứ phim tham khảo này? Mỗi phút là bao nhiêu cử động và âm thanh, ai dám chạy ù ra, để có thể bị coi là thần kinh yếu hay là đạo đức giả? Chị nghĩ, nghĩ mãi với đôi mắt mở trừng trừng, vừa căm hờn vừa choáng váng. Rồi còn “sứ mệnh” tọa đàm vào buổi chiều nữa chứ”.



Đó là truyện Chưa phải ngày buồn nhất mà nhà văn Dạ Ngân chọn làm tên cho tập truyện ngắn mới nhất của mình, do NXB Phụ Nữ ấn hành vào quý 2.2012. Đề tài của truyện sinh thành từ chuyện có thật ở một tỉnh nọ từ 20 năm trước. Cùng với 10 truyện ngắn kia, những chuyện thế thái nhân tình trong xã hội này, qua bút pháp Dạ Ngân - vốn là một cô gái theo cách mạng từ năm 15 tuổi ở quê nhà Long Mỹ (Hậu Giang) - đã được soi rọi đến tận cùng thân phận. Mà ở đó, cái nỗi buồn của kiếp người, dù có ẩn tàng đằm thắm hay phát tiết xung thiên, vẫn cứ ám ảnh không nguôi.

Đây là tập truyện ngắn thứ 7 của Dạ Ngân, dấu ấn của những năm tháng rời Hà Nội sau khi nghỉ hưu (2009) từ Tuần báo Văn nghệ về làm “cư dân mới của Sài Gòn”, như chị nói. Trước đó, tháng 8.2007, là tập truyện Nước nguồn xuôi mãi, ghi dấu “những năm tháng buồn vui với Hà Nội” của chị. Trước đó nữa, là những cuốn tiểu thuyết và truyện dài đã làm nên tên tuổi nữ sĩ Dạ Ngân: Ngày của một đời (1989), Mẹ mèo (1992), Miệt vườn xa lắm (2002) và nhất là Gia đình bé mọn (2004) đã được dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Mỹ.

Tâm sự về tập truyện Chưa phải ngày buồn nhất, chị kể: “Bốn năm cùng với ốc đảo Thanh Đa, tôi thấy mình tự do hơn khi không phải sống đời viên chức nữa. Viết báo để nuôi văn, trong khi chờ đợi cuộc sống đô thị ngấm vào, tôi nghe thấy ký ức mỗi ngày, như tiếng thở của sông dài, như tiếng gió của vườn khuya. Truyện nào trong tập này cũng dậy lên mùi hương của thời xa xưa buồn, chắc chắn các bạn sẽ bảo là buồn. Nhưng đây chưa phải là những gì buồn nhất, tôi cam đoan như vậy, khi bạn liên tưởng đến những trải nghiệm của chính bạn. Văn chương không nói chuyện vui, vì nỗi buồn bao giờ cũng hiện hữu và có ích với những ai muốn những điều tốt đẹp hơn cho con người”.

Vâng, nỗi buồn có ích, xin chia sẻ với chị Dạ Ngân, ngay cả ở đoạn này, trong truyện ngắn Vợ lính của tập truyện Chưa phải ngày buồn nhất: “Chòi cứ chung đụng, nam và nữ cách nhau một tấm liếp mỏng. Chị em tôi nằm trở đầu trong chiếc mùng đơn nhỏ xíu của tôi trên nền chòi. Cây đèn dầu trên vách, gối cao trên chiếc thùng tài liệu, tôi nhìn rõ vẻ mặt nhiều tâm trạng của em tôi sau khi nó tạm biệt chồng. Mười chín tuổi, mấy ngày trăng mật trong bom pháo, lần này nữa là lần thứ ba người vợ lính được tắm hơi chồng…”. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130716/noi-buon-co-ich.aspx

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

Bông điên điển


Gởi tặng Long & Trinh câu chuyện có thật bên dưới, trong mùa lũ lụt năm 2000.




Một ổ rơm loi thoi nối với cái chái nhà lá bằng một chiếc xuồng, giữa bộn bề sóng nước Tịnh Biên, An Giang. Một đám điên điển còi cọc lơ thơ bông vàng cách ổ rơm cũng độ một chiếc xuồng. Cái gò cao nhất, cái “giang sơn tránh lũ” của ba chị em, lúc ba mẹ đi giăng câu ngoài đồng. Con chị chừng mười ba tuổi, mặc cái áo cổ lá sen, cái quần đen sủng nước, ánh mắt sáng mà buồn; hai đứa em trai nhỏ hơn chị độ bốn, năm tuổi, tóc vàng hoe, thằng anh ở trần, thằng em cười cái miệng có duyên giống chị.



Bữa nay trời êm gió, từ sáng tới giờ ba chị em phát hiện trong ổ rơm có hai chú chuột chạy lũ, ba đứa chơi trò mèo bắt chuột. Mỗi đứa một góc ổ rơm, cứ rình chờ con chuột nào trốn bên kia hổng xong chạy ra bên này là túm đuôi. Chuột cứ chui ra chui vào ổ rơm. Ba chị em cứ làm mèo vờn chuột. Ổ rơm muốn sụm xuống luôn. Hết thảy mệt đừ, hai con chuột bò hết nổi mà hai thằng em không tha. Tự nhiên con chị sợ hai chú chuột chết, không cho em chơi nữa. Bèn rủ em đẩy xuồng ra hái bông điên điển.





Cụm điên điển giờ chỉ còn mươi nhánh bông vàng vừa nở. Bữa nào cũng hái, làm sao bông kịp trổ cho đầy. Hai đứa em trai, đứa móc xuồng, đứa níu bông cho chị hái. Chẳng bao lâu mà cũng lưng rổ. Tự nhiên con chị thấy tiếc mấy nhánh non, rung rinh những cánh bông vàng trong nắng như đàn bướm nhỏ đang bay. Nó nhớ cô giáo thích mặc áo vàng lên lớp. Mà nó cũng thích màu vàng như cô giáo lớp năm. Nó nheo mắt nhìn xa xăm qua bên kia cánh đồng trắng nước, chỗ cái xóm đó, trường của nó cũng đang ngâm mình trong lũ cả tháng nay rồi. Anh mắt nó bỗng sáng lên rồi lại buồn hiu hắt.
“Thôi đừng hái nữa bé Tư! Để đó mai nó trổ tiếp. Ba má sắp về rồi!”. Con chị can thằng em út chực bẻ nốt cái nhánh bông điên điển vàng tươi như cánh bướm vàng. ■




Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Quê nhà và bạn bè


Ngoại trừ số phận nghiệt ngã, ai cũng có quê nhà và bạn bè ở trong lòng, có khi suốt cả đời. Đôi khi một mình, cô đơn, cũng có hình hài bè bạn, quê hương trong những cơn độc thoại. Người bình thường đã vậy, nhà văn, qua thanh lọc tâm hồn, như kiểu kể chuyện của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, chuyện đó đôi khi trở thành độc đáo.



Năm 1976, nhà văn Nguyễn Quang Sáng đưa đoàn làm phim về làng Mỹ Luông (Chợ Mới, An Giang), quê ông, để quay bộ phim “Mùa gió chướng” do ông chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của chính mình. Ông kể: “Có lẽ vui nhứt và ấn tượng mạnh nhứt là đoàn phim “Mùa gió chướng” trở về làng. Trước khi bộ phim ra mắt khán giả thành phố, phim chiếu cho dân làng xem, gọi là đền ơn đáp nghĩa. Người xếp lớp lớp trên cánh đồng vừa gặt, nưng nức mùi rơm. Cảnh làng, con sông đó, lục bình trôi lên trôi xuống, nhà sàn có cả trăm năm bên nhà thờ, con đường, rặng cây, ai mà chẳng thấy, chẳng đi, chẳng biết nhưng khi hiện lên màn ảnh thì đẹp lạ lùng, vừa quen vừa lạ, dù là phim đen trắng, nhưng lại rực rỡ sắc màu. Mỗi cảnh, mỗi vỗ tay, tiếng vỗ tay vừa dứt lại rộ lên. Không ai đè nổi cảm xúc khi thấy dân làng trong vai quần chúng, dù chỉ thoáng qua. Có người không được quay trước mặt, chỉ quay từ phía sau, người đóng vẫn nhận ra mình. “Đó, đó. Tao đó”. “Đâu, đâu, sao không thấy”. “Cái lưng, cái đít của tao đó”... Đêm ấy, có nhà tắt đèn, nhưng chủ nhà vẫn ngồi lai rai với đoàn phim, vui tới sáng”.

Và đây là đoạn chót của câu chuyện “Nhà văn về làng”; cái tình quê, tình người qua cốt cách của một người già (khi kể lại chuyện này, năm 2002, ông đã 70 tuổi): “Người bạn hàng xóm cùng lứa tuổi hỏi: “Sáng, mày tuổi gì?”. “Tân Mùi”. “Con dê”. “Ừ”. Hai tay nó đánh chát một cái: “Đúng rồi!”. Tôi hỏi: “Đúng cái gì?”. Mắt nó bỗng sáng lên: “Mày không phải tá, không phải tướng là phải rồi. Tuổi con dê của mày chỉ làm nghệ sĩ thôi”.

“Nghe, tôi chợt nghĩ đến một số văn nghệ sĩ cùng có tuổi Mùi, nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhà thơ Phùng Quán cùng Tân Mùi với tôi. Nhạc sĩ Trần Long Ẩn cũng tuổi Mùi, nhưng là Kỷ Mùi, nhỏ hơn tôi. Nhưng tôi có một người bạn, thiếu tướng Phạm Chuyên tuổi Kỷ Mùi và còn nhiều nữa, nói chung không hẳn là vậy, nhưng tôi không tranh luận, coi như suy đoán của bạn là đúng, cho nó sướng.

“Năm nay, nước rút, tôi về làng, gió chướng cũng về. Gió không chỉ lao xao trong lá mà còn thổi là đà dài theo mặt đất, ngọn gió thổi khô những sình lầy khi con nước trở về sông. Người bạn tôi nói: “Mày về đúng lúc quá!”. Tôi chưa hiểu đúng lúc là lúc gì, dịp gì thì nó nói: “Con dê thì ăn lá so đũa, người thì phải ăn bông so đũa. Ở thành phố có ăn bông so đũa không?”. “Làm gì có mà ăn”. “Có nhớ có thèm không?”. “Thèm chớ sao không thèm”. “Nhìn ra coi”. Tôi nhìn ra, hàng so đũa bên đường đang mùa bông, bông so đũa trắng ngần đong đưa theo gió”.

Quê nhà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng mộc mạc, tự nhiên như vậy đó mà sao nó như đang chạm tới đáy lòng. Là nhà văn, ông có nhiều người bạn văn nghệ mà ông chơi thân và quý trọng. Và khi viết về họ, với đầy ắp những chi tiết sống động, cả về phẩm cách, tài năng và thói tật cùng lối kể chuyện hóm hỉnh rặt phong cách nông dân Nam bộ, ông đã vẽ chân dung bạn bè gần gũi từ những con người nổi tiếng như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, nhà thơ Bùi Giáng, nhà thơ Nguyễn Duy, nhà văn Nguyễn Tuân, nhà thơ Lê Giang, nhà thơ Thu Bồn, đạo diễn Nguyễn Ngọc Bạch, đạo diễn Hồng Sến, nhạc sĩ Hoàng Hiệp, nhạc sĩ Hoàng Việt, nhạc sĩ Xuân Hồng, nhà văn Sơn Nam, nhà văn Lê Vĩnh Hòa, nhà văn Nguyễn Đình Thi…

Như chuyện Nguyễn Quang Sáng viết “Mùa gió chướng” khi còn ở Hà Nội và đã chọn bài hát phản chiến “Đại bác ru đêm” của Trịnh Công Sơn khi ấy đang ở Sài Gòn, đưa vào tiểu thuyết này: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe… Suốt một năm trời ở chiến trường đồng nước của Tháp Mười, đêm nào tôi cũng nghe tiếng đạn đại bác. Đạn đại bác mà nổ ngay mình, mình phải lặn xuống nước, không thể gọi là ru được. Nhưng đại bác nổ ở một nơi xa thì đúng là như ru, ru đêm. Một năm - 6.1966 - 9.1967, trên đồng nước, đêm nào tôi cũng nghe đại bác ru đêm”. Thế rồi hai người đã thành bạn thân chỉ vài tháng sau ngày 30.4.1975: “Tôi mang quyển “Mùa gió chướng” lật ngay trang có ca khúc “Đại bác ru đêm” trang 281, ký tặng Sơn. Trịnh Công Sơn, đưa tay sửa kính, ngước nhìn tôi, lặng đi một hồi lâu rồi bất thần đứng dậy, đưa tay bắt tay tôi rất trịnh trọng. Sau này “Mùa gió chướng” chuyển thành phim. Đoàn làm phim đã công phu tìm được cái băng có bài “Đại bác ru đêm” qua giọng hát của Khánh Ly trong tiếng đàn guitar của Trịnh Công Sơn”…

Tình bạn ấy, không chỉ là chuyện của hai người, nó còn là tình tự quê hương. Và NXB Văn nghệ, vào năm 2008, đã tập hợp những câu chuyện này, in thành tập bút ký của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, mang tên “Nhà văn về làng”. ■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130709/que-nha-va-ban-be.aspx

Thứ Ba, 2 tháng 7, 2013

“Mẹ vắng nhà” và người Nhật


Mẹ vắng nhà là tác phẩm văn học của nhà văn Nguyễn Thi, được viết vào tháng 6.1966, từ chuyện có thật của mẹ con chị Út Tịch ở Trà Vinh. 




Đó là thế giới tuổi thơ của 5 chị em con Bé tự chăm sóc nhau ở nhà trong khi mẹ Út Tịch, một du kích nổi tiếng, phải thường xuyên xa nhà đi đánh giặc. Hình ảnh con Bé hay leo lên ngọn dừa ngóng tin mẹ rồi giả bộ làm cô giáo dạy học cho các em, dù mình chưa biết chữ, để dỗ dành các em… đọng lại trong lòng người đọc.
“Con Bé chờ nghe tiếng súng nổ. Từ sáng tới giờ nó đã leo lên đó mấy lần. Bốn đứa em đứng dưới nhóng tin chị. Thằng Hiển vẫn cởi truồng, đứng giạng chân, nghiêng cổ dòm. Con Anh lớn hơn một chút, bắt chước chị, leo lên cây bình bát mé rạch, ngửa cái cổ rám nắng và cái cằm như núm cau nhóng lên. Con Thanh cao hơn con Anh một cái đầu, nhúm tóc chóp đuôi bò của nó kẹp nhóng sau gáy, nó đang ráng sức bồng thằng em út và chỉ tay lên cái bóng chị cao tít tắp trên ngọn dừa như một con chim, để dỗ em”. Những lúc đó, đàn em thường nhóng cổ lên hỏi: “Thấy má chưa chị Hai?”. Còn với lớp học thì: “Con Bé hiểu ý đàn em, nó gom tất cả lại, nói: - Bây giờ chơi đi học, nghen! Đứa nào học giỏi mai mốt má cho đi học thiệt. Thằng Hiển nhảy tưng tưng, nhúm tóc vàng hoe tròn ủm của nó phập phồng như đang thở: - Em học giỏi nghen chị, má cho em bắn chóc đùng! Con Anh giơ cái cằm núm cau ra: - Em học giỏi hơn nó, em được đi học trước - Ừ, cho đi hết. - Con Bé gật đầu với cả ba đứa”.

Sau khi viết xong câu chuyện này, năm 1968, trong đợt tổng tấn công Tết Mậu Thân, nhà văn Nguyễn Thi đã hy sinh, không kịp biết rằng Mẹ vắng nhà sau đó đã được người Nhật đón nhận như thế nào.
Ông Takeshi Matsumoto, Giám đốc Bảo tàng mỹ thuật Chihiro, viết vào tháng 8.2004 khi cuốn sách này được tái bản ở Nhật: “Mẹ vắng nhà được xuất bản năm 1972, giữa lúc cuộc chiến tranh Việt Nam diễn ra hết sức ác liệt, không quân Mỹ tiến hành các cuộc ném bom bừa bãi xuống miền Bắc Việt Nam… Dịch giả cuốn sách này là ông Isao Takano, phóng viên Báo Ahahata, một người Nhật Bản rất thông thạo tình hình Việt Nam khi đó. Ông Isao Takano đã mang bản dịch tiếng Nhật cuốn truyện Mẹ vắng nhà đến NXB Shin-Nihon, đề nghị họa sĩ Chihiro Iwasaki vẽ tranh minh họa cho cuốn truyện. Tất cả các nhân vật trong truyện Mẹ vắng nhà đều có thật; trong thời gian chiến tranh Việt Nam, họ sống ở giồng Tam Ngãi, một cơ sở của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam thuộc tỉnh Trà Vinh ở ĐBSCL, phía Nam Sài Gòn. Chị Nguyễn Thị Út, người mẹ thường xuyên ra mặt trận chiến đấu, vắng nhà là người anh hùng của Mặt trận Dân tộc giải phóng”.
Bà Chihiro Iwasaki, họa sĩ, đã nói tại một cuộc tọa đàm hồi tháng 9.1972: “Tôi rất vui là hôm qua đã vẽ xong tranh minh họa cho tác phẩm Mẹ vắng nhà của nhà văn trẻ Nguyễn Thi ở miền Nam Việt Nam, viết về trẻ em Việt Nam. Người mẹ thường xuyên đi đánh giặc, khi trở về với cây súng có treo chùm bánh ú. Còn ở nhà, mấy đứa trẻ cũng chơi trò đánh giặc một cách thích thú đợi mẹ về. Con chị leo lên ngọn dừa, nào có nhìn thấy mẹ đâu, nhưng nó vẫn nói với các em là “nhìn thấy mẹ”. Bọn trẻ có năm chị em, đứa lớn mới khoảng 10 tuổi. Bố của bọn trẻ cũng đi đánh giặc, vắng nhà. Câu chuyện rất hay, bọn trẻ rất hồn nhiên và dễ thương, hay cãi lộn. Đọc truyện và hình dung về những đứa trẻ, tôi cố gắng thể hiện nét mặt ngây thơ và rất dễ thương của bọn trẻ. Tôi đã xem những bức ảnh chụp trẻ em Việt Nam nấp trong các hầm trú ẩn phòng không, trong những năm tháng chiến tranh, các em trông rất dễ thương. Tôi thầm nghĩ phải cố gắng thể hiện một cách sinh động nhất những khuôn mặt ngây thơ và đáng yêu đó”.

Còn ở lời giới thiệu với bạn đọc Nhật Bản trong lần in đầu tiên, Fuki Kushida, Tổng thư ký Hội đồng Liên lạc xây dựng Trung tâm Bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em Việt Nam, viết: “Nhân dân Việt Nam nổi tiếng lạc quan, yêu đời ngoài sự tưởng tượng của mọi người ngay cả những lúc khó khăn nhất. Đương nhiên, nhân dân Việt Nam luôn vững tin vào thắng lợi cuối cùng. Tôi tin rằng đọc cuốn truyện này, các bạn sẽ hiểu thêm nguyên nhân vì sao nhân dân Việt Nam thắng lợi. Sự dịu dàng và sức mạnh của người mẹ đã in sâu trong trái tim và truyền cho các con sức mạnh ngay cả khi “mẹ vắng nhà”. Chính tình yêu của người mẹ đã thắp sáng ngọn lửa hy vọng trong lòng mọi người dân Việt Nam”.

Vào tháng 10.2008, NXB Phụ Nữ đã in lại tác phẩm Mẹ vắng nhà của nhà văn Nguyễn Thi cùng với 30 tranh vẽ minh họa của họa sĩ Chihiro Iwasaki kèm những câu chuyện vừa được trích dẫn. Cuốn sách ghi giá 35.000 đồng (nay không còn thấy ở nhiều nhà sách) được in tới 5.000 bản bìa cứng, khổ 21 x 30 cm, với ảnh bìa trước (3 chị em gái lớn) và bìa sau (2 em trai nhỏ) đều theo nguyên bản in ở Nhật. 


Mời đọc thêm tại Báo Thanh Niên 2.7.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130702/me-vang-nha-va-nguoi-nhat.aspx

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013

Đọc lại Đoàn Giỏi



Xin được trích tình cờ ở trang 129 trong bộ sách dày gần 900 trang này:



“Tía nuôi tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây ngái, nhồi thuốc lá vào tẩu. Con chó săn trung thành bao giờ cũng nằm bảo vệ bên chân chủ. Thằng Cò bưng vò nước ra, ngửa cổ kề miệng vào vò uống ừng ực. Bỗng nó đặt vò xuống, thúc vào lưng tôi:

- Đố mày biết con ong mật là con nào?

Hỏi xong, nó đưa tay trỏ lên phía trước mắt. Tôi đảo mắt nhìn khắp nơi vẫn không thấy gì. Rừng cây im lặng quá. Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình. Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu. Hay vẫn có tiếng chim ở một nơi xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe chăng?

Cao quá đầu tôi một với tay, có những chấm đen không nhúc nhích. Đó là những con ruồi xanh đang bay đứng. Óng ánh lướt những lá bông súng dưới vũng kia là con chuồn chuồn bay ngang với những cánh mỏng và dài. Bé như hạt khế, cứ lắc lư lắc lư từ đất nhoi lên, đáp vào một cành ngải khô trên đầu tía nuôi tôi là điệu bay của con mối cánh.

- Chịu thua mày đó! Tao không thấy con ong mật đâu cả”.

Bàng bạc trong cuốn tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi là những cảnh tình như vậy đó. Của miền Tây Nam bộ, những năm 1945 sau khi thực dân Pháp quay lại chiếm Nam bộ. Chuyện về cuộc đời phiêu bạt của thằng An mà tới dòng cuối ở trang 259 là hình ảnh này: “Tôi cúi đầu chào tía nuôi tôi, chào má nuôi tôi, gởi lời chúc thằng Cò mau mạnh, rồi xốc lại con dao găm và quả lựu đạn đeo bên thắt lưng, rướn người nhảy phóc xuống thuyền”. Nghĩa là tuy viết về bối cảnh chiến tranh nhưng những câu chuyện nghĩa tình với cốt cách riêng của con người phương Nam, vùng đất phương Nam đã được nhà văn Đoàn Giỏi mô tả hết sức chân phương, tài hoa và ấn tượng.

Đất rừng phương Nam đã được nhiều bạn đọc ở miền Trung, miền Bắc say mê như cùng khám phá hành trình tiền nhân đi khai phá và giữ gìn mảnh đất trời Nam. Truyện này được tái bản nhiều lần từ sau năm 1957, được dịch ra một số tiếng nước ngoài, được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh và được chuyển thể thành phim Đất phương Nam (do Hãng phim Truyền hình TP.HCM sản xuất năm 1997).

Ngoài Đất rừng phương Nam nổi tiếng nhất, nhà văn Đoàn Giỏi còn những tác phẩm có tiếng vang về phương Nam như: Rừng đêm xào xạc, Cá bống mú, Tê giác trong ngàn xanh, Tiếng gọi ngàn. Vào năm 2005, NXB Văn hóa - Thông tin đã đưa những tác phẩm này vào bộ Đoàn Giỏi tuyển tập, bên cạnh 17 truyện ngắn, ký sự và biên khảo - mà chỉ cần đọc tựa, ta đã thấy tò mò muốn đọc tiếp: Cái chết của con rùa và người thợ săn kiêu mạn, Thiện Dần đánh cọp, Sự tích núi Trái Vải, Chuyến xe thổ mộ ngày giáp tết, Chú bé Hà Nội và con ó lửa trên Đồng Tháp Mười, Vài nét về cá sấu, Vài nét về cá mập, Con bạch tuộc khổng lồ, Ngựa thần, Chuyện về con voi, Tổ tông nhà hổ, Rồng hay là rắn biển?, Người và đất Cà Mau, Bước đường khai phá, Người và đất Đồng Tháp, Cuộc truy tầm kho vũ khí.

Nhà văn Đoàn Giỏi (1925 - 1989) quê ở Tiền Giang. Ông sáng tác từ năm 17 tuổi với tác phẩm đầu tiên Nhớ cố hương đăng ở Tạp chí Nam kỳ. Làm bộ tuyển tập này, NXB Văn hóa - Thông tin đã trân trọng viết trong lời giới thiệu: “Các tác phẩm của ông không chỉ thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa số phận của người dân với vận mệnh của đất nước, mà trong cái rộng lớn là Tổ quốc, ông còn thể hiện một cách tinh tế, nhuần nhuyễn, hòa quyện trong đó cảnh sinh hoạt, phong tục, tập quán, cảnh sắc thiên nhiên và nhất là tính cách và tâm hồn của người Nam bộ… Với vốn sống phong phú về vùng đất phương Nam, với niềm say mê, tìm tòi, khám phá, những tác phẩm của ông luôn sống cùng thời gian, để lại cho người đọc sự trong trẻo, hồn nhiên và cái cao cả trong tình người. Phải nói rằng Đoàn Giỏi là cây viết về thiên nhiên Nam bộ hay nhất từ trước tới nay”. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130625/doc-lai-doan-gioi.aspx

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Gần xa thơ đồng bằng


Lục lọi tủ sách, gặp lại một số tập thơ tuyển của các tỉnh ĐBSCL. Nhiều nhất được làm vào dịp kỷ niệm 30 năm ngày đất nước thống nhất (30.4.2005) và hầu hết sách được mang tựa có con số 30 như 30 năm thơ An Giang, Long An thơ 30 năm…, riêng Cà Mau thì tựa sách là Cà Mau thơ.



Tất cả, do hội văn học nghệ thuật tỉnh tuyển chọn rồi xin giấy phép ở một NXB để ấn hành, số lượng từ 500 - 1.000 cuốn, sách dày 300 - 400 trang, in bìa cứng và đa phần không đề giá bán.

Do được làm kỹ từ những ban biên soạn riêng với thời gian tuyển chọn dài, thường trong vòng 1 năm, nên các tuyển tập thơ này tập hợp được nhiều bài thơ tâm huyết viết về quê hương đất nước của các tác giả không chỉ ở trong tỉnh mà ở khắp cả nước. Đọc lại những tuyển tập này, có thể hình dung diện mạo thơ riêng của mỗi tỉnh trong suốt mấy mươi năm chiến tranh và hòa bình. Và cũng dễ gặp một chữ Tình của những người con đất Việt từ mọi phương trời đến với những vùng đất riêng ở phương Nam tổ quốc. Trong đó, có những bài thơ được nhiều người nhớ, như Phương Nam khúc ca trôi dạt của khóm lục bình (Đynh Trầm Ca), Mũi Cà Mau (Xuân Diệu), Đất Viên An (Nguyễn Bá), Lời ru con cò biển (Nguyễn Duy), Tiễn bạn (Trịnh Bửu Hoài), Con tem quân đội (Đinh Thị Thu Vân), Bên cửa sổ (Song Hảo), Hát về con mương nhỏ (Thu Nguyệt)…

Như ở tuyển tập thơ Long An, gồm 142 bài thơ của 81 tác giả - nói như lời người làm sách: “81 tác giả thơ trong 30 năm, mỗi người một giọng điệu, một góc thể hiện, có thể có những phong cách riêng và có thể có những dòng chảy cảm xúc trùng lắp, nhưng trên hết, đó là những cảm xúc đẹp. Cảm xúc đẹp, đó chính là tiêu chí của chúng tôi khi tuyển chọn tập thơ này”. Và tuy là “có những những ước mơ thực tế và có những ước vọng mơ hồ”, nhưng người tuyển thơ kỳ vọng “tập thơ sẽ khiến ta yêu thêm tháng ngày ta đang sống, tha thiết hơn với từng nhân dáng quanh đời, rồi từ đó, ta sẽ nhận ra mình, rõ hơn và sâu hơn”.

Với An Giang, hội văn nghệ tỉnh cho biết lý do 51 tác giả được tuyển vào tập thơ này: “Những cuộc thi, trại sáng tác được liên tục tổ chức và phát hiện nhiều tài năng, bổ sung mỗi ngày một đông đảo, phong phú, đa dạng cho lực lượng sáng tác ở An Giang. Trong đó, thơ An Giang là một thế mạnh với những cây bút nối tiếp nhau trưởng thành, khẳng định vị trí của mình trong nền văn học cả nước… Thơ An Giang đã giới thiệu được tình cảm, đời sống, quê hương, con người An Giang đến với các vùng đất nước”. Cuối tập sách, còn có chân dung in màu của 51 tác giả, trong đó có những cái tên quen thuộc trong làng thơ như Võ Thành An, Đynh Trầm Ca, Nguyễn Đình Chiến, Hồ Thanh Điền, Nguyễn Lập Em, Nguyễn Thị Trà Giang, Trịnh Bửu Hoài, Lam Hồ, Lê Thanh My, Ngô Nguyên Nghiễm, Anh Sắc, Phạm Nguyên Thạch, Trương Công Thuốt, Trần Thế Vinh…

Riêng Cà Mau, ngoài 294 trang thơ của 89 tác giả, sách còn dành 20 trang, in phụ lục tóm tắt tiểu sử tác giả. Đây cũng là tuyển tập thơ tỉnh góp mặt khá đông nhà thơ có tên tuổi trong nước từng đến với Cà Mau hoặc quê ở Cà Mau: Hoài Anh, Nguyễn Bá, Ngô Cang, Lê Đình Cánh, Phạm Ngọc Cảnh, Huy Cận, Cao Thoại Châu, Hoàng Minh Châu, Trúc Chi, Lê Chí, Dương Trọng Dật, Xuân Diệu, Nguyễn Duy, Nguyễn Bạch Dương, Hồ Thanh Điền, Trinh Đường, Phạm Thường Gia, Trần Vạn Giã, Bảo Định Giang, Lê Giang, Nguyễn Quang Hà, Nguyễn Hưng Hải, Thanh Hải, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Chí Hiếu, Nguyễn Hoa, Trịnh Bửu Hoài, Xuân Hoàng, Vũ Hồng, Văn Công Hùng, Lê Thị Kim, Vũ Đình Liên, Phù Sa Lộc, Nguyễn Đức Mậu, Trần Nhuận Minh, Trần Hữu Nghiễm, Trần Hội Nhân, Lê Minh Nhựt, Lưu Xông Pha, Phạm Hữu Quang, Xuân Quỳnh, Xuân Sách, Tạ Văn Sỹ, Phạm Nguyên Thạch, Trúc Thông, Anh Thơ, Đàm Thị Ngọc Thơ, Trần Nhật Thu, Nguyễn Trọng Tín, Hưởng Triều, Vương Trọng, Diệp Minh Tuyền, Nguyễn Hải Tùng, Việt Chung Tử, Bằng Việt, Trần Thế Vinh, Hoài Vũ…

Sao Cà Mau lại “hấp  dẫn” thiên hạ đến như vậy? Nhà thơ Xuân Diệu đã “trả lời” cho câu hỏi này từ tháng 10.1960; trong bài Mũi Cà Mau, có 2 câu mà nay gần như đã thành ca dao: Tổ quốc tôi như một con tàu / Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau.

Hay nói như trong lời mở của người làm sách: “Cà Mau rất xa. Nhưng Cà Mau cũng rất gần. Thật gần. Bởi khó vùng đất nào có được cái may mắn thành nơi hội tụ tình cảm của cả nước đậm đặc đến như vậy. Là người Việt Nam, ai cũng mong một lần được đặt chân đến Cà Mau, chạm tới bãi phù sa sóng sánh của chót mũi tận cùng đất nước. Lớp lớp phù sa có hồn ấy đã làm cho biết bao người xúc động… Bạn bè về với Cà Mau cũng chính là về với lòng mình. Lạ lùng thay, để giãi bày tình cảm sâu xa, chừng như không còn cách nào khác, người ta phải trông cậy vào thơ”. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130618/gan-xa-tho-dong-bang.aspx