Thứ Tư, 25 tháng 9, 2013

Ký của Nguyễn Thanh


Đau đáu sông quê là tập ký mới nhất của nhà văn Nguyễn Thanh, do NXB Hội Nhà văn ấn hành vào tháng 7.2013 sau hơn 20 tập truyện, ký và tiểu thuyết ra đời từ năm 1976 đến nay, trong đó có không ít tác phẩm đã đi vào lòng người: Trên đồng Phong Thạnh (ký - 1976), Xóm lở (truyện ngắn - 1982), Thị trấn cuối cùng (truyện vừa - 1987), Chấm lửa đêm chiến tranh (truyện ngắn - 1992), Bóng chiều hôm (truyện ngắn - 2001), Đồng sâu một thuở (tiểu thuyết - 2008), Những lát cắt sau chiến tranh (truyện vừa - 2010)…





Đã lên tuổi 71 (Nguyễn Thanh sinh năm 1942 tại xã Khánh Bình, H.Trần Văn Thời, Cà Mau), nhà văn vốn thích “sống lặng lẽ, đi và viết” ấy dường như đã muốn “nhìn lại mình” qua tập ký này. Đau đáu sông quê phân rõ làm hai phần: phần một có tiêu đề là “Đất và người vùng đất cực Nam Tổ quốc - thời bình”; phần hai là “Viết trong chiến tranh”. Thời chiến, Nguyễn Thanh chọn ra 24 câu chuyện mà chỉ cần nghe tên tác giả đặt cho mỗi chuyện, có thể hình dung không khí chiến tranh thời đó: Đi về phía có tiếng súng; Người đàn bà cản xe bọc thép; Ông già Bá đỏ; Bến tập kết Sông Đốc - xuân 74; Nhớ thương nơi chót cùng đất nước; Nhật ký về những con đường mòn; Chuyện xóm Đìa; Trên đồng Phong Thạnh… Thời bình có: Đất cũ, người xưa và cây me già; Đau đáu sông quê; Vùng biển ấy; Cầu Tắc thủ - một mảnh hồn quê; Rừng cháy và những người đi qua rừng; Tản mạn về ngôi trường cũ; Viết trên nền đất cũ…

Bao nhiêu là “vốn sống” đã tràn ra trong Đau đáu sông quê, như lời nhà văn Lê Văn Thảo: “Hơn năm mươi năm lăn lộn với vùng đất Mũi Cà Mau, trong đó có mười lăm năm trong chiến tranh chống Mỹ. Từng ấy năm sống và chiến đấu, cũng từng ấy năm cầm viết, không thể nói gì hơn về những hiểu biết, gian khổ hiểm nguy anh đã trải qua, đã chịu đựng, tích lũy vốn sống cho ngòi viết của mình”.

Nhà văn Anh Đức cụ thể hơn: “Khi bắt đầu cầm tập bản thảo lên đọc, trong tôi chớm dậy một nỗi ước ao, hy vọng rằng những trang viết của Nguyễn Thanh sẽ đưa tôi trở về vùng đất xưa kia tôi đã từng sống với biết bao kỷ niệm thấm đẫm về những con người nơi miền tận cùng của Tổ quốc, chốn thiên nhiên phóng khoáng còn nhiều vẻ hoang sơ với những cánh rừng đước xanh rì, với các vườn chim và những dòng kinh biển. Đó là Cà Mau của tôi một thời trai trẻ tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ. Quả nhiên nỗi ước ao của tôi đã được nhà văn Nguyễn Thanh đáp ứng”.

Nhà văn trẻ Nguyễn Ngọc Tư nhận xét: “Với nhà văn Nguyễn Thanh, đất và người Cà Mau, Bạc Liêu… hiện ra như được đắp bằng xương thịt…Nếu ngày xưa ông say mê xây dựng hình tượng người lính thì sau này, nhân vật chủ yếu của ông là nông dân. Họ hào sảng, tốt bụng, nhân nghĩa nhưng phải trăn trở, day dứt nhiều trong cuộc mưu sinh”.

Còn Ths Trần Bé Ba nhìn Đau đáu sông quê ở một góc độ khác: “Văn Nguyễn Thanh toát lên những bài học nhân sinh, dù nhẹ nhàng nhưng có sức lay động lòng người. Những gì nhà văn khai thác, xây dựng, đúc kết thành văn đều xuất phát từ tấm lòng yêu thương, trăn trở của nhà văn đối với vùng đất này”.                              
Xin được trích một đoạn văn của Nguyễn Thanh trong bút ký Đau đáu sông quê với chú thích là “Viết ngắn về má tôi”: “Sông Cái nước ròng không bỏ bãi. Vực sông sâu hoắm được dựng lên hai bờ lá dừa nước bịt khù, sừng sững. Mùa sa mưa, nước đầy tràn từ rừng U Minh Hạ đổ ra thay màu sông xanh biếc thành màu đỏ bầm, ngầu đục. Sông bổ nhào ngàn con sóng lưỡi búa, trắng dã. Ngược lại, mùa khô hạn, sông nhẩn nha, vướng vất làn sương mỏng tanh, thơ mộng lúc chiều tàn”.

Thế mà dòng sông ấy đã cuốn trôi vĩnh viễn người mẹ của mình, người đã một đời nuôi nấng dạy dỗ mình nên người mà cho tới hết chiến tranh mình vẫn chưa một lần về quê thăm lại! Để rồi: “Tôi quá giang đủ loại xe, tàu về nước; tôi đi một mạch tới quê, mọi việc đã an bài! Thì ra, Má chèo xuống ba lá đi sông Cái một mình, chở theo rổ ổi cho mấy đứa cháu ngoại ở xóm Cái Giữa ẩn sau biền lá ven sông. Trên đường về nhà, một cơn giông mưa lớn đột nhiên ập tới… Má vùng ra trong chiếc áo mưa và chống đỡ từ trên mặt sông với lớp lớp sóng dữ cho tới xuống tận đáy sông sâu để rồi khi được mấy trăm con người ở ven sông, trong các kinh rạch kéo đi vớt xác Má, hai bàn tay của Má hãy còn nắm chặt hai vốc bùn!...”.

Nhà văn Lê Văn Thảo đã viết về câu chuyện này: “Thật xúc động biết chừng nào, và cũng đau đớn biết chừng nào, cảnh người mẹ ở quê ra thăm con, sau bao nhiêu năm đi kháng chiến, trở về thành phố vẫn bận bịu với bao việc ở cơ quan, mà chúng ta tưởng là lớn lắm, người mẹ chỉ nhìn con từ xa rồi lên đường trở về, người con lại tiếp tục ra đi, và từ chiến trường xa hay tin mẹ mình đã mất, cũng trên dòng sông trong cuộc sống tảo tần. Mỗi chúng ta đều có lỗi với mẹ mình!”. ■


Mời đọc thêm tại báo Thanh Niên 24.9.2013:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130924/ky-cua-nguyen-thanh.aspx

Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Festival đầu tiên về đua ghe ngo ở Sóc Trăng


Họp báo tại Cần Thơ sáng ngày 19-9, đại diện Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Sóc Trăng cho biết “Festival đua ghe ngo đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long lần thứ nhất” sẽ được tổ chức tại Sóc Trăng từ ngày 14 đến 17-9-2013.


Quang cảnh họp báo sáng ngày 19-9 tại Cần Thơ (ảnh H.Kim)

Ông Võ Thanh Quang, Giám đốc Sở Thông tin và truyền thông tỉnh Sóc Trăng, nói: “Festival này là sự tổng kết một giai đoạn hoạt động và trưởng thành của sự nghiệp bảo tồn văn hóa của đồng bào Khmer tại ĐBSCL nói chung và Sóc Trăng nói riêng”. Ông Quang cũng cho biết festival này nhằm tạo ra sản phẩm văn hóa đặc trưng phục vụ phát triển du lịch theo hướng liên kết vùng ĐBSCL với cả nước.

Đua ghe ngo là hoạt động chính tại festival này. Trong hai ngày 16 và 17-9, có gần 50 đội ghe ngo nam và nữ của các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Hậu Giang, Vĩnh Long thi đấu vòng loại và vòng chung kết ngay trên sông giữa lòng thành phố Sóc Trăng. Kinh phí cho hoạt động này khoảng từ 2,4-2,6 tỉ đồng, trong đó 1 tỉ đồng dành cho giải thưởng các hạng từ 1 đến 4.

Tại festival còn có nhiều hoạt động khác như hội chợ thương mại và triển lãm về thành tựu kinh tế - văn hóa - xã hội Sóc Trăng; liên hoan ẩm thực ba dân tộc Kinh - Khmer - Hoa; trò chơi gian dân gian – hội thao dân tộc; triển lãm ảnh “ký ức Sóc Trăng”; ca múa nhạc tổng hợp; liên hoan nghệ thuật sân khấu Dù kê Nam bộ; lễ Cúng Trăng – Oóc Om Bóc; lễ Thả đèn nước; hội thi trang phục Kinh – Khmer – Hoa. 

Tối 14-9, tại lễ khai mạc với chủ đề “trăng và lúa”, sẽ có 15 phút bắn pháo hoa tầm thấp.

Sóc Trăng là tỉnh có bà con dân tộc Khmer đông nhất vùng ĐBSCL, gần 370.000 người. Festival này diễn ra vào dịp rằm tháng 10 âm lịch, nhằm mùa lễ cúng trăng – Oóc Om Bóc, lễ thả đèn nước – Loyprotip của bà con dân tộc Khmer để tạ ơn mặt trăng nhân mùa thu hoạch hoa màu, nhất là lúa nếp.

Ban tổ chức đã mở website: Festival.soctrang.gov.vn , cho biết đã có hàng trăm doanh nghiệp, cơ quan ở trung ương, địa phương đăng ký tham gia festival và kỳ vọng festival này sẽ thu hút hàng trăm nghìn du khách trong và ngoài nước.


Đua ghe ngo ở Sóc Trăng (ảnh Lê Hoàng Vũ).


Ghe ngo



Ghe ngo là một dạng ghe đặc biệt, được xem là vật thiêng chỉ được dùng để đua. Ghe ngo là thuyền độc mộc làm bằng thân nguyên vẹn của cây gỗ sao, được khoét phần ruột, do nghệ nhân và các sư chùa Khmer cùng làm. Ghe ngo dài từ 25m – 30m, rộng từ 1m – 1,4m, có từ 20-40 khoang, chứa được 22-25 cặp tay bơi.

Sau khi đóng xong, ghe được chà cho thật trơn bóng và sơn phết, trang trí thật đẹp. Thân ghe sơn màu đen, trên be sơn các vệt màu trắng, vàng, đỏ dài khoảng 5cm; hai bên be, chạm trỗ hoặc vẽ hình vẩy rồng, vẩy rắn theo mô típ Naga. Đầu ghe vẽ hình các con thú như rồng, chim công, sư tử, cọp, voi… vừa tượng trưng cho vẻ đẹp vừa biểu hiện sức mạnh.

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

Thơ Nguyễn Ngọc Tư


Không có bài thơ nào mang tên Chấm trong số 40 bài của Chấm - tập thơ đầu tiên của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Chấm được in 2.000 bản, giá 70.000đ/bản, do Nhã Nam và NXB Hội Nhà văn ấn hành vào giữa tháng 8.2013. Chỉ có 40 bài thơ với 4.928 chữ nhưng Chấm dày tới 180 trang khổ 15 cm x 23 cm; có những trang được in chỉ một câu thơ với sự trình bày chăm chút và phá cách của Đam Ca, người vẽ bìa.



Về nội dung, mới đây Nguyễn Ngọc Tư trả lời báo Pháp luật TPHCM: “Có những chuyện văn xuôi không nói được, có những cảm giác khó rạch ròi duy lý, tôi lấy thơ ra trút đỡ. Cùng là chữ cả nhưng mỗi bề mỗi khác. Viết tản văn, tôi buộc thể hiện ít nhiều quan điểm, cách nhìn cuộc đời của mình. Thơ thì gần người nhất, đôi khi cảm xúc lộ ra”. 

40 bài thơ này như những dấu chân “đi bụi” của Nguyễn Ngọc Tư trên khắp đất nước từ mười năm nay; đi trong trời đất và đi vào lòng người; chạm vào nội tâm mình, hóa thành tự sự. Tất cả, không hề ghi thời gian và nơi chốn, chỉ đề trân trọng nơi đầu sách, “kính tặng ba”.

Trong Chốn về, bài mở đầu: mình có ngôi nhà khép cửa /…máu chảy tự khô / vết đau tự liếm láp / cúc tự cài / hát mình nghe / chưa bao giờ mình mời ai tới đó. Trong Ở trọ, có ba câu cuối: lục bình vừa trôi vừa tàn / lá đa vừa rã vừa rơi / vừa đến họ vừa rời cõi tạm. Khi vượt biên giới chỗ một ngọn thác: có một con thác bị chẻ làm đôi ngọn / sông lò cò một bờ / …buộc lời ước vào bức tường trong suốt / cầu lòng ta vết thẹo thác lại lành (Ở biên giới). Ra với Côn Đảo: đi tìm mớ răng gãy trong những bông sứ trắng / tìm tay trên những rạn san hô / làn da lấy lại của rêu / họ neo đảo vào trời nước mơ hồ (Viết ở Côn Đảo).

Một lần chị đã viết trong bài Nhật ký mang thai - tháng thứ năm: con bỏ lỗi cho / mẹ vừa làm lễ trước vua xứ khác / gối chạm đất người thiên hạ / chỉ mẹ thôi / con chớ có quỳ /… hãy cựa quẫy / hãy trở mình / nhắc nhớ mẹ thở cho hai người / mẹ nuôi men ủ nụ cười / và đứng thẳng.

Trong những cuộc rong ruổi ấy, có đôi khi chờ nghe tiếng người: không chớp nhói lên nghĩa là đã ngủ rồi / đã rã / đã rơi / ta không chờ đợi nữa / …điện thoại câm / như nhân gian âm thầm cài đặt cửa (Chờ điện thoại). Có lần say: máu ngập ngừng đâu đó / tim như cá mắc cạn / từng ngụm thời gian hớp khan khô rát / tay nắm khói cũng mỏi / đất rối níu chân dấp dúi (Say trà). Có đêm mất ngủ: chim khuya kêu tiếng thứ sáu / đêm chao sáu tiếng thở dài / đếm được bao nhiêu bóng tối / đếm xem từng nào gió thổi / …mình đi vào trong rừng thẳm / sớm kia còn về với mình? (Mất ngủ). Và có khi độc thoại với lau sậy: bông sậy níu thành chùm thành bầy / dìu dắt xuôi mùa luân lạc / nhẹ hơn nỗi đau / quét không đi / giẫm không nát / an nhiên thanh thản / như chưa từng tan tác cuộc lưu vong (Mùa sậy chín). 

Thú vị trong Chấm, người trình bày đã lồng bản dịch (của Jason Gibbs) bài thơ Hỏi đường vào từng câu song ngữ Việt - Anh. Đoạn chót như vầy:

những ngày rong ruổi trên đất lạ,
Days of rambling in an unfamiliar land,
tôi một lần đứng lại hỏi con đường,
I once asked for directions
lối nào sẽ dẫn đến con người
Which way will take me to someone
đường im lặng đi lên đồi mải miết,
The silent road preoccupied itself with ascending the hill,
nông nổi ơi chỉ cần dừng chân lại,
Hey you fool, you only need to stop in your tracks
sẽ thấy người
To see somome ■

Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130917/tho-nguyen-ngoc-tu.aspx

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

STF: đã có 1.053 sinh viên được vay tiền học không tính lãi



(TBKTSG Online) - Ngày 9-9-2009, Quỹ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigon Times Foundation – STF) phối hợp với Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng (TP.HCM) và trường Đại học Cần Thơ ra mắt dự án Mekong thuộc “Chương trình Cho vay tiền học không tính lãi”, cho sinh viên ĐBSCL. Đến nay chương trình này đang có thêm hai dự án hoạt động tại miền Trung và TP.HCM


Tiếp bước Mekong



Sinh viên ĐBSCL với chương trình Mekong
Dự án Mekong do Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng tài trợ 4 tỉ đồng, cho sinh viên 3 trường đại học Cần Thơ, An Giang, Cửu Long và Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau vay theo mức học phí của mỗi trường.

Giao lưu với sinh viên tại Đại học Cần Thơ hôm 17-2-2012, ông Võ Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Vạn Phát Hưng nói rằng, đồng hành cùng với STF làm chương trình này, ông chỉ mong hỗ trợ cho nhiều sinh viên quê ở ĐBSCL thành công trong việc học và có việc làm ổn định để góp phần xây dựng quê hương. Còn PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ vào thời điểm đó thì tin là “Chương trình này sẽ được mở rộng hơn vì nó đã và đang giúp cho hằng trăm sinh viên ĐBSCL có tiền để đóng học phí học tới ngày tốt nghiệp”.  


Chương trình Cho vay học phí không tính lãi của STF bắt đầu với Chương trình Mekong tháng 9-2009.

Chương trình Cho vay học phí không tính lãi của STF bắt đầu với Chương trình Mekong tháng 9-2009.
Tiếp bước dự án Mekong, ngày 23-3-2012, dự án miền Trung của chương trình “Cho vay tiền học không tính lãi” được STF triển khai tại Đại học Bách Khoa Đà Nẵng. Kinh phí đầu tiên 300 triệu đồng, trong đó 200 triệu đồng do TBKTSG gây quỹ từ chương trình hòa nhạc Saigon Times Concert năm 2011 và 100 triệu đồng do Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam tài trợ. 30 sinh viên đầu tiên, mỗi sinh viên được vay 5 triệu đồng, tương đương mức học phí một năm học.

Đến ngày 27-12-2012, tại trường Đại học Bách Khoa TP.HCM, Công ty Bảo hiểm nhân thọ Manulife Việt Nam và STF giới thiệu tiếp chương trình “Manulife – điểm tựa tương lai”. Chương trình trị giá 500 triệu đồng, do Manulife tài trợ, cho 100 sinh viên năm 3 và 4 thuộc 3 trường, Đại học Bách Khoa TP.HCM, Đại học Sư phạm TP.HCM và Đại học Cần Thơ vay học phí không tính lãi, mỗi suất 5 triệu đồng. Tổng giám đốc Công ty TNHH Manulife Việt Nam, ông Chung Bá Phương, nhận xét: “Đây là một chương trình mang nhiều ý nghĩa xã hội và rất thiết thực, nhằm giúp các bạn sinh viên khắc phục những khó khăn tài chính trước mắt, an tâm học hành để chuẩn bị cho việc tốt nghiệp đại học. Năm 2012 cũng là năm đầu tiên Manulife triển khai chương trình này và nhận được nhiều phản hồi rất tích cực”.

Đến nay, dự án Mekong đã có 994 sinh viên ĐBSCL vay hơn 4,1 tỉ đồng và đã có 198 sinh viên ra trường hoàn trả món vay gần 1 tỉ đồng cho lớp sau vay tiếp. 8 tháng đầu năm 2013, có thêm 23 sinh viên Đại học Bách khoa Đà Nẵng vay tiếp từ dự án miền Trung. Ở  TP.HCM, trong 8 tháng qua, STF có 35 sinh viên Đại học Bách Khoa vay từ chương trình. Như vậy sau 4 năm, tổng số sinh viên vay tiền từ “Chương trình Cho vay tiền học không tính lãi” đã lên đến 1.053 sinh viên với tổng số tiền vay là 4,318 tỷ đồng.


"Tôi đã đạt được ước mơ"


Bạn Cao Thị Hồng Nhung, cựu sinh viên Đại học An Giang, đã trả món vay 8,4 triệu đồng khi ra trường vào tháng 9-2012. Hiện đang làm việc ở Công ty TNHH MTV Bao bì Vemedim (Cần Thơ), Hồng Nhung tâm sự: “Nguồn tiền vay từ chương trình đã giúp tôi rất nhiều, ở thời điểm gia đình tôi đang gặp khó khăn, chi phí học tập là một gánh nặng lớn đối với ba mẹ. Nhờ có nguồn vốn vay từ chương trình, tôi đã theo đuổi đến đích ước mơ của mình là một chuyên viên kinh doanh. Đã có lúc khó khăn, tưởng chừng ước mơ đó phải dừng lại, nhưng dự án Mekong đã tiếp cho tôi thêm sức mạnh vật chất lẫn tinh thần. Điểm đáng quí của dự án là hỗ trợ không lãi suất, sinh viên tự vay bằng tín chấp và giúp sinh viên có trách nhiệm hơn”. Hồng Nhung kỳ vọng: “Tôi rất mong chương trình được tiếp tục để truyền sức mạnh, hỗ trợ cho các bạn sinh viên khóa sau. Quê hương An Giang còn nhiều sinh viên khó khăn, rất cần nguồn vốn vay này để học tập”.

Cựu sinh viên Đại học Cần Thơ, Ngô Văn Xuân Phong, đang làm việc tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Xây dựng Thuận Thành Phú (Long Xuyên, An Giang), đã trả món vay 7,4 triệu đồng khi tốt nghiệp vào năm 2011. Xuân Phong cho biết: “Dự án Mekong có ý nghĩa thiết thực. Nếu như không có số tiền vay này thì cuộc sống của tôi sẽ gặp thêm nhiều khó khăn do hoàn cảnh gia đình tôi không được như những bạn khác. Nếu có thể, thì chương trình nên bỏ qua điều kiện sinh viên đã vay tiền của ngân hàng chính sách thì không được vay từ chương trình. Khi đó, chương trình chỉ xét cho vay đối với những sinh viên có chứng nhận hộ nghèo, cận nghèo và những trường hợp đặc biệt”.

Chia sẻ với các bạn sinh viên lớp sau đang vay từ các dự án Mekong, miền Trung và TP.HCM của STF, cả hai bạn Hồng Nhung và Xuân Phong đều mong muốn, tới ngày tốt nghiệp, người vay nên “hoàn trả vốn vay cho dự án, để dự án có thể quay nguồn vốn kịp thời đến các bạn sinh viên khó khăn khác”.



Năm nay, Manulife tài trợ tiếp 500 triệu đồng

Manulife trao giấy chứng nhận cấp vay cho sinh viên Đại học Bách Khoa TPHCM
Trao đổi với TBKTSG, ông Chung Bá Phương, Tổng giám đốc Công ty TNHH Manulile Việt Nam, cho biết: “Năm nay, với mong muốn biến chương trình này thành một hoạt động thường niên, Manulife sẽ tiếp tục tài trợ số tiền 500 triệu đồng cho 100 sinh viên có hoàn khó khăn tại một số trường đại học khác”.


Với các bạn sinh viên, ông chia sẻ: “Đây cũng là cơ hội để các bạn dần có ý thức quản lý chi tiêu cũng như hoạch định tài chính cho tương lai sau này của mình. Tôi mong các bạn sinh viên luôn giữ vững niềm tin, nhiệt huyết và sức mạnh của tuổi trẻ để vượt qua những khó khăn trước mắt, sớm gặt hái những thành công sau này”. 

Bài đã đăng trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/doisong/101864/STF-da-co-1053-sinh-vien-duoc-vay-tien-hoc-khong-tinh-lai.html

Nhớ…


Tác giả cuốn sách này, nhà báo Trần Thanh Phương, tâm sự: 'Tôi cầm bút đã 45 năm. Nhưng chưa có trang viết nào tôi thấy ngòi bút mình khó khăn như soạn cuốn sách này. Tôi tự dặn lòng, phải thật cẩn thận từng câu từng dòng, vì chữ nghĩa ở đây đã chạm đến những giây phút cuối cùng của một đời văn. Cho nên, trước khi ngồi vào bàn viết, tôi có sửa soạn mâm cơm, thắp nén nhang xin hương hồn các nhà văn, nhà thơ quá cố cho phép tôi được làm cái việc ghi chép lại giờ phút lâm chung và việc hậu sự của họ'. Và ông đã chọn nửa câu Kiều, Còn là tinh anh, để đặt tên cho cuốn sách này; sách được NXB Văn hóa - Văn nghệ in 2.000 cuốn bìa cứng, giá 120.000 đồng/cuốn, vào quý 2.2013.




Trần Thanh Phương đã sắp xếp theo thời gian qua đời của 50 nhà văn, nhà thơ hiện đại mà tác giả có đủ tư liệu, để soạn cuốn sách này. Đó là Vũ Trọng Phụng (mất năm 1939), Hàn Mặc Tử (1940), Trần Đăng (1949), Thâm Tâm (1950), Thôi Hữu (1950), Nam Cao (1951), Nguyễn Huy Tưởng (1960), Lê Văn Trương (1964), Nguyễn Bính (1966), Nguyễn Thi (1968), Lê Anh Xuân (1968), Dương Thị Xuân Quý (1969), Chu Cẩm Phong (1971), Nguyên Hồng (1982), Đặng Thai Mai (1984), Xuân Diệu (1985), Vũ Ngọc Phan (1987), Nguyễn Tuân (1987), Thanh Tịnh (1988), Xuân Quỳnh (1988), Lưu Quang Vũ (1988), Quang Dũng (1988), Nguyễn Minh Châu (1989), Đoàn Giỏi (1989), Thế Lữ (1989), Chế Lan Viên (1989), Lưu Trọng Lư (1991), Hoàng Trung Thông (1993), Phùng Quán (1995), Yến Lan (1998), Nguyễn Văn Bổng (2001), Trinh Đường (2001), Ngân Giang (2002), Tố Hữu (2002), Nguyễn Đình Thi (2003), Thu Bồn (2003), Bảo Định Giang (2005), Huy Cận (2005), Anh Thơ (2005), Trần Bạch Đằng (2007), Bàn Tài Đoàn (2007), Phạm Tiến Duật (2007), Nguyễn Khải (2008), Sơn Nam (2008), Thảo Phương (2008), Tế Hanh (2009), Hữu Loan (2010), Hoàng Cầm (2010), Hoài Anh (2011) và Chim Trắng (2011).

Với mỗi tác giả, trước khi kể chuyện về “phút lâm chung” và “việc hậu sự”, nhà báo Trần Thanh Phương đều chọn in ảnh chân dung, tóm tắt thân thế, sự nghiệp, các tác phẩm chính và đặc biệt là chọn đăng một đoạn văn, câu thơ hay một đoạn phê bình văn học để đời của họ làm đề từ. Thí dụ về nhà văn Vũ Trọng Phụng, ông chọn câu nói nổi tiếng của nhân vật chính trong tiểu thuyết Số đỏ, đó là câu “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Kể chuyện chữa bệnh lao phổi thời đó, Vũ Trọng Phụng đã phải nghe lời bác sĩ, hút thuốc phiện để kéo dài sự sống, rồi nói với bạn văn: “Nghiện thuốc phiện thì đê hèn thật, nhưng còn hơn chết chứ. Tôi, trên còn bà, dưới còn vợ, và con. Bằng ấy người trông vào tôi”. Nhưng rồi nhà văn đã ra đi khi mới 27 tuổi, vào ngày 13.10.1939, tại Hà Nội. Sách kể tiếp: “Hố huyệt của nhà văn được đào từ hôm trước, cách mộ Tản Đà vài bước chân. Linh cửu vừa từ từ hạ xuống thì bà Vũ Trọng Phụng vì quá thương chồng đã lăn xuống huyệt”. Sau khi nhà thơ Lưu Trọng Lư đọc điếu văn, nhà văn Bùi Huy Phồn đọc hai câu đối có lồng tên 6 tác phẩm nổi tiếng của Vũ Trọng Phụng: Cạm bẫy người tạo hóa khéo căng chi, qua Giông tố tưởng nên Số đỏ/ Số độc đắc văn chương vừa túng thế, nỡ Dứt tình, Không một tiếng vang.

Chuyện về nhà văn Nam Cao, ông hy sinh năm 1951 trong vùng địch hậu ở Ninh Bình, được người dân địa phương chôn cất chung với đồng đội trong cùng một nấm mồ. Vì vậy, mãi tới năm 1998, gia đình mới tìm được hài cốt nhà văn đưa về quê Hà Nam cải táng. Và đây là một câu chuyện ly kỳ, phải nhờ đến nhà ngoại cảm phối hợp với Viện Khoa học hình sự Bộ Công an công phu tìm kiếm và xét nghiệm mới có kết quả.

Nhà văn Sơn Nam mất ngày 13.8.2008 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, thọ 82 tuổi. Lễ viếng nhà văn vào sáng hôm sau tại nhà tang lễ TP.HCM. Sách kể: “Nhiều nhà văn và bạn đọc yêu mến ông, sau khi thắp nén nhang trước quan tài ông, lại kéo nhau ra quán rượu gần nhà tang lễ nhắm ly rượu tiễn biệt người quá cố. Buồn thương, nhưng không bi lụy”. Trước đó 2 trang, sách viết: “Tự dưng thấy sức khỏe của mình không được như trước, năm 2003, ông đã đến phòng công chứng làm tờ di chúc. Biết tôi thích lưu giữ tài liệu về ông, ông tặng tôi bản sao tờ di chúc đó, nội dung có đoạn: “Hôm nay, ngày 20.11.2003, tại phòng công chứng số 5 thành phố Hồ Chí Minh, tôi tự nguyện tuyên bố nội dung di chúc của tôi và do công chứng viên ghi chép chính xác, đánh máy lại như sau: Tôi tên là Phạm Minh Tày, sinh năm 1926, chứng minh nhân dân số 021144502 cấp ngày 26.6.1978 tại công an thành phố Hồ Chí Minh…”.

Kể chuyện nhà thơ Chim Trắng (mất ngày 28.9.2011 tại nhà riêng ở Bình Dương), có đoạn: “Khi chứng ung thư gan bộc phát, ông vẫn kiên quyết không vào bệnh viện. Cô con dâu út phải năn nỉ ông”. Và: “Khi cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy, ông đã bứt hết dây truyền dịch thuốc, hét lên: “Tôi là người tự do…”. Rồi lịm dần”. Ở trang cuối, 472, tác giả cuốn sách này trích thơ của nhà thơ Lê Chí ở Cần Thơ, tiễn biệt Chim Trắng: Ông là con chim của vườn dừa thăm thẳm/ Lượn thong dong trên sóng Hàm Luông/ Vỗ cánh miệt mài đất nước. ■



Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130910/nho%E2%80%A6.aspx

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2013

Thơ của một nhà giáo



Tác giả tập thơ Vết thời gian (NXB Hội Nhà văn, tháng 6.2013) là Ths Nguyễn Thanh Toàn, giảng viên Khoa Thủy sản Trường ĐH Cần Thơ, sinh năm 1960, quê Thái Bình, hội viện Hội Nhà văn TP.Cần Thơ. Lâu nay làm thơ anh ký bút danh Nắng Xuân, lần này chọn 58 bài thơ in thành tập, anh giữ tên thật.



Quê phương Bắc, định cư ở vùng đồng bằng sông nước phương Nam, lại làm nghề giảng dạy ở ngành thủy sản, thơ Nguyễn Thanh Toàn như những trang giáo án của cảm xúc. Trong bài Chuyện tình sông Hậu, anh mượn dòng sông để nói chuyện đời. Khúc đầu: Hậu Giang ơi!/Thương nhớ bồi hồi!/Dòng chảy xuôi có bao giờ hiểu được/… Mỗi cuộc đời sinh ra như đã biết yêu/ Yêu quê hương, yêu bến bờ, nguồn cội/ Yêu câu ca dao, yêu giọng hò diệu vợi / Yêu cái nhìn như đốt lửa… khát lòng nhau. Hai khúc cuối, chuyện của đời mình: Từ chối sông Đà, sông Đuống, sông La/ Hương Giang, La Ngà, Đồng Nai, Vàm Cỏ…/ Gái đoan trang, hàng trăm đám ngỏ/ Vẫn chung thủy đợi chờ dù biết rất xa anh/ Hậu Giang đôi bờ cây lá lên xanh/ Đi nhớ mãi, chân tình lưu luyến mãi/ Hẹn hò em mùa thu hoạch trái/ Chín ngọt tình yêu như thuở mới ban đầu/ Em đón anh về, ta say đắm bên nhau…

Là nhà giáo mang tâm hồn thơ ca, Nguyễn Thanh Toàn thường ghi lại cảm xúc của mình trước những sự kiện kinh tế xã hội trong đời sống. Thí dụ trước sự kiện khánh thành cầu Cần Thơ bắc qua sông Hậu, anh viết bài Chiếc cầu mở lối tương lai có những hình ảnh bình dân và chất phác như vầy: Cầu Cần Thơ, mang dáng vóc kỷ nguyên/ Cõng sức trẻ xứ Chín Rồng nhập cuộc/ Đánh thức tiềm năng của miền sông nước/ Dang vòng tay chào đón bạn muôn phương…

Trong bài Về Ba Tri nhớ cụ Đồ Chiểu, nhà giáo Nguyễn Thanh Toàn đã Đốt nhang thầm nguyện trước đền/ Nương làn gió thuận/ xuôi thuyền thơ ca để tự nhắc nhở mình, kẻ hậu sinh của bậc tiền hiền “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm”: Ở đời phải ráng giữ mình/ Đức như gốc rễ, còn tình tay chân…

Tình yêu ở tuổi trung niên trong tâm hồn nhà giáo này khổ đau và lãng mạn đến dường nào mà anh lại chọn bài thơ Vết thời gian làm tựa đề cho cả tập thơ? Có phải nó ở đây: Như con sóng/ khi triều dâng để lại/ Trên cát hằn/ đầy những vết thời gian… Hay là đây: Dòng thời gian/ vẫn cuộn chảy không ngừng/ Đừng ngã gục/ và cũng đừng bỏ cuộc.

Dù sao, tình yêu vẫn còn đó. Giờ thì tôi đã hiểu vì sao anh từng ký bút danh Nắng Xuân. Trong bài Nắng xuân, thầy giáo Nguyễn Thanh Toàn đằm thắm viết: Uống từng giọt nắng xuân/ Càng uống càng thấy khát/ Hương mùa hoa ngào ngạt/ Lắng sâu tận đáy lòng. ■


Bài đã đăng trên báo Thanh Niên:
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130903/tho-cua-mot-nha-giao.aspx