Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Khi chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp

            Kết luận buổi tọa đàm “Đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp năm 2017” vào trưa ngày 9-3, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ, ông Võ Thành Thống, đã nhấn mạnh rằng Chính quyền Cần Thơ luôn đồng hành cùng doanh nghiệp để thực hiện hai nghị quyết số 19 và 35 của Chính phủ. Đây như một cam kết của lãnh đạo thành phố sau gần 4 tiếng đồng hồ cùng đại diện các sở, ngành nghe và giải đáp được nhiều thắc mắc của đại diện gần 100 doanh nghiệp dự tọa đàm.


Buổi đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp tại Cần Thơ sáng ngày 9-3-2017

            Ông Võ Thành Thống nói: “Cơ chế đồng hành này không chỉ thể hiện qua cuộc đối thoại hôm nay mà còn được thực hiện hàng tuần, hàng tháng vì phục vụ doanh nghiệp và người dân là nhiệm vụ của chính quyền Cần Thơ”.  

           Ông Thống cho biết từ hơn một năm nay, thành phố không họp vào thứ hai hàng tuần để các giám đốc sở, ngành gặp và xử lý các khó khăn của doanh nghiệp. Ngoài ra, trực tiếp chủ tịch TP. Cần Thơ, mỗi tháng có ít nhất hai cuộc làm việc với các doanh nghiệp để kịp tháo gỡ nhiều bức xúc của họ trong sản xuất kinh doanh tại Cần Thơ.

            Lúc này đã quá trưa, dù đã giải đáp tại chỗ nhiều thắc mắc của các doanh nghiệp liên quan tới qui hoạch, môi trường, đất đai, thuế, cải cách hành chính, chủ tịch Võ Thành Thống vẫn yêu cầu các ngành chức năng phải giải quyết tiếp cho dứt điểm các vấn đề “còn nợ” mà doanh nghiệp vừa đặt ra. 


Ông Võ Thành Thống trả lời báo chí sau cuộc đối thoại.

           Về đề nghị của Công ty cổ phần nông sản Vinacam muốn tiếp cận nguồn vốn vay của Chính phủ về nông nghiệp công nghệ cao, ông Thống đã giao cho Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Cần Thơ, sáng thứ Sáu tuần tới phải làm việc với Vinacam và các doanh nghiệp có cùng nhu cầu, sau đó báo kết quả cho ủy ban thành phố.

            Cũng với đề nghị của Vinacam muốn thuê 16 hecta đất bãi bồi để mở rộng sản xuất nhằm đạt được 100 triệu đô la Mỹ xuất gạo vào cuối năm nay, ông Thống yêu cầu giám đốc Sở Tài nguyên và môi trường thành phố sớm làm việc với quận Thốt Nốt để đề xuất cho được giải pháp với phó chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Đào Anh Dũng.

            Với hai vướng mắc của Công ty TNHH Vinataba Philip Morris liên quan tới đòi nợ tiền thuế và thủ tục xuất xứ hàng hóa, ông Thống yêu cầu Cục Hải quan Cần Thơ tiếp tục đề nghị Tổng cục Hải quan và Bộ Tài chính xử lý. Ông cũng yêu cầu Văn phòng UBND TP. Cần Thơ soạn văn bản để lãnh đạo ủy ban đề xuất trực tiếp hai cơ quan trung ương này giải quyết, vì mọi việc đang ách tắc ở đây.

            Về nhu cầu cần thuê 200 hecta đất để mở rộng vùng nguyên liệu sản xuất hàng nông sản xuất khẩu của Công ty Nông sản xuất khẩu miền Tây, ông Thống nói: “Đây là nhu cầu chính đáng nhưng giữa công ty và sở nông nghiệp chưa rõ yêu cầu của nhau nên hai bên cần gặp nhau sớm nhất để xây dựng đề án cụ thể”.

           Về chuyện “lật kèo” giữa nhiều doanh nghiệp và nông dân trong thu mua nông sản, ông Thống giao giám đốc Sở Công Thương Cần Thơ sớm đề xuất giải pháp xử lý để tránh chuyện “cá ăn kiến, kiến ăn cá” làm hại nhau.

            Ông Thống cũng yêu cầu Sở Công Thương Cần Thơ làm đầu mối cùng với siêu thị Lotte Mart giải quyết nhu cầu của siêu thị này cần có nhiều hơn đặc sản của Cần Thơ và ĐBSCL bán trong siêu thị. “Không chỉ Lotte mà các siêu thị khác trong thành phố cũng có nhu cầu này, Sở Công Thương cần xúc tiến nhanh để hàng hóa tốt của địa phương có mặt trên kệ siêu thị, để người sản xuất và doanh nghiệp đều có lợi”, ông Thống nói.

            Trong hoạt động du lịch, một số doanh nghiệp phản ánh gần đây du khách than phiền tệ nạn xả rác thải trên chợ nổi Cái Răng và “cò tàu” ở bến đò du lịch Ninh Kiều tăng. Chủ tịch Võ Thành Thống đã giao giám đốc Sở Văn hóa, thể thao, du lịch Cần Thơ sớm cùng với UBND hai quận Cái Răng và Ninh Kiều để xuất biện pháp giải quyết cho được việc này.

            Riêng với việc đại diện Công ty Tân Cảng - Cái Cui đề nghị Cần Thơ giảm các loại phí hàng hải để giúp công ty phát triển dịch vụ logistic - tàu container và đề nghị lãnh đạo TP. Cần Thơ hỗ trợ để các doanh nghiệp ở Cần Thơ kết nối làm ăn với công ty, ông Võ Thành Thống nói: “Về phí, chính quyền Cần Thơ ghi nhận để tìm cách xử lý vì tuần rồi, TP. Hải Phòng mới đề nghị 4 thành phố trực thuộc trung ương có cảng biển phải tăng phí sử dụng cảng chớ không phải giảm. Còn về kết nối doanh nghiệp thì chính quyền Cần Thơ không ra chủ trương yêu cầu doanh nghiệp Cần Thơ làm mà thống nhất khuyến khích hoạt động theo cơ chế thị trường, cùng có lợi”.

            Liên quan tới hoạt động này, Chủ tịch UBND TP. Cần Thơ Võ Thành Thống cũng cho biết Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ vừa đề nghị Công ty Tân Cảng – Cái Cui nên phối hợp với Cảng Cái Cui ở cách đó 200 mét thành lập liên doanh về dịch vụ hàng hải, cảng biển và logistic.

            Với những ý kiến của các doanh nghiệp ghi trong phiếu do thiếu thời gian đối thoại, ông Thống yêu cầu các sở, ban, ngành của thành phố Cần Thơ phải trả lời cụ thể và sớm nhất theo đúng chức năng như cách làm tại cuộc đối thoại này. “Cái nào thuộc chủ tịch thành phố thì tôi giải quyết; cái nào thuộc các sở, ngành thì nơi đó giải quyết”, chủ tịch Võ Thành Thống chốt lại như vậy.

            So với không khí khá dè dặt lúc ban đầu và có lúc khá căng thẳng vào giữa buổi thì vào cuối giờ đối thoại ấy, thấy nhiều tiếng cười thoải mái từ hai bên, doanh nghiệp và chính quyền, đã vang lên.
           
Huỳnh Kim

@ Đã đăng báo Cần Thơ 13-3-2017:


@ Và tại báo Thanh Niên 10-3:

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2017

Mỹ tiếp tục hợp tác với Đại học Cần Thơ về ĐBSCL




Vừa trở về cùng nhóm chuyên gia Mekong sau nửa tháng công tác ở Mỹ theo lời mời của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu - Trường Đại học Cần Thơ, đã trao đổi với chúng tôi xoay quanh việc hợp tác tới đây giữa hai bên đối với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).


* Thưa ông, có phải chuyến công tác này là sự tiếp nối của sự hợp tác lâu nay giữa hai bên ngay sau khi Mỹ có chính quyền mới?


- Đúng vậy. Trung tuần tháng 2-2017, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã mời các nhà khoa học ở Trường Đại học Cần Thơ và nhóm chuyên gia hiểu biết về lưu vực sông Mekong đến Mỹ theo khuôn khổ Chương trình Trao đổi Quốc tế các Nhà Quản lý (International Visitor Leadership Program - IVLP), hoạt động theo Đạo Luật Fulbright-Hays. Mỗi năm, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chọn lựa một số các nhà quản lý hàng đầu, các nhà khoa học có chuyên môn và uy tín đến Hoa Kỳ để có cơ hội gặp gỡ các vị trong chính phủ, các nhà quản lý chuyên môn hoặc các giáo sư đại học ở các lĩnh vực khác nhau.


Nhóm chúng tôi được Tòa Đại sứ Hoa Kỳ lựa chọn tham dự theo Dự án Sáng kiến Hợp tác Nghiên cứu Hạ lưu sông Mekong (Lower Mekong Research Collaboration Initiative). Đây là cơ hội để các nhà khoa học hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ có cơ hội gặp gỡ và trao đổi chuyên môn, kinh nghiệm qua các chuyến viếng thăm đến các cơ quan chuyên môn, nghiên cứu khoa học và trường đại học lớn ở một số bang của Hoa Kỳ.


Nhóm các nhà khoa học Việt Nam đi thăm một vùng bảo tồn đất ngập nước thuộc đồng bằng hạ lưu sông Mississippi - Hoa Kỳ (tháng 2-2017). Ảnh: LAT cung cấp.


* Vậy nội dung có gì mới không, thưa ông?


- Đoàn các nhà khoa học Mekong đã đến Washington DC thăm và làm việc với Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tìm hiểu về thể chế và hệ thống chính quyền Hoa Kỳ, thăm và trao đổi với Văn phòng Hợp tác Khoa học và Công nghệ (STC), Văn phòng Quản trị Đại dương, Môi trường và Khoa học (OES), Trung tâm Quốc gia về Quản trị Đại dương và Khí quyển (NOAA), Trung tâm Dự báo Thời tiết và Khí hậu, dự Trao đổi Quốc gia về Các Gắn kết Toàn cầu.

Phía Hoa Kỳ đã hướng dẫn đoàn đi thăm vùng New Orleans, bang Louisiana thuộc hạ lưu của con sông Mississippi, nơi có cấu trúc đồng bằng tương tự như hạ lưu sông Mekong để nghe trình bày các hệ lụy do tác động của cơn bão Katrina, hiện tượng xâm nhập mặn và lún sụt đồng bằng do yếu tố cả về thiên tai lẫn nhân tai. Đoàn cũng được đến Vicksburg, Mississippi thăm Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Kỹ thuật của Liên đoàn Kỹ sư Quân đội Hoa Kỳ (USACE), xem các nghiên cứu kỹ thuật về tua-bin phát điện và khả năng di chuyển của cá qua công trình nhà máy thủy điện.

Chúng tôi cũng được dịp thăm và làm việc với Trung tâm Nghiên cứu và Phòng Thí nghiệm của các Trường Đại học Arkansas và Đại học California Riverside. Ở những nơi này, chúng tôi được lãnh đạo nhà trường tiếp và giới thiệu các hoạt động chuyên môn và đối ngoại, đồng thời phía Việt Nam cũng đã khái quát quy mô hoạt động của Trường Đại học Cần Thơ và thuyết trình các vấn đề quan tâm hiện nay ở ĐBSCL như canh tác nông ngư nghiệp, môi trường, biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn và các mối đe dọa xuyên biên giới từ lưu vực sông Mekong như các đập thủy điện, thủy sản, phù sa, chuyển nước…

Chuyến đi của chúng tôi thật sự có nhiều điều thú vị và ấn tượng, mặc dầu trước đó chúng tôi cũng đã có những trao đổi khoa học qua e-mail, tài liệu, hay hội thảo với các nhà khoa học Mỹ. Tuy nhiên, nhờ "tai nghe, mắt thấy" qua tham quan, trao đổi thực tế, chúng tôi được thấy vấn đề rộng hơn để có thể đối chiếu, so sánh lại điều kiện của Việt Nam. Điều thú vị là chúng tôi trao đổi kinh nghiệm các vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với các bất thường của thiên tai và các giải pháp kỹ thuật phụ trợ.


* Kết quả hợp tác tới đây, theo ông, có khả quan hơn lâu nay không?


- Phía Trường Đại học Cần Thơ và phía các cơ quan khoa học và trường đại học của Mỹ đã cam kết đẩy mạnh chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và mở rộng các khả năng hợp tác qua các dự án nghiên cứu cụ thể, tổ chức trao đổi học thuật cho các cán bộ nghiên cứu và sinh viên hai bên cho các năm tới.

Trong năm nay, cả phía Việt Nam và Hoa Kỳ phải chuẩn bị các đề cương hợp tác qua các dự án nghiên cứu, dự trù nguồn kinh phí và nhân lực. Chúng tôi cũng dự trù đón các đoàn khoa học Mỹ sang thăm và làm việc ở ĐBSCL. Tùy tiến trình phê duyệt dự án thì các năm kế tiếp sẽ thực hiện các hạng mục.

Phía Trường Đại học Cần Thơ cũng sẽ dự trù triển khai một Bảo tàng hoặc Khu trưng bày Lịch sử Tự nhiên vùng ĐBSCL với sự hỗ trợ và tư vấn của Chính phủ và các trường đại học Hoa Kỳ. Các dự kiến này có tính khả thi về mặt kỹ thuật thì tương đối cao, vấn đề còn lại các thủ tục mang tính hành chính của mỗi bên.


* Điều gì ông kỳ vọng nhất sau chuyến đi trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu đang ngày càng phức tạp ở ĐBSCL?


- Với cá nhân tôi, dù điều kiện kinh tế và xã hội giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ có khác biệt và đồng chịu những thay đổi mang tính vĩ mô về thiên nhiên, môi trường, kinh tế, chính sách. Chính phủ mới của Hoa Kỳ có những thay đổi cơ bản trong chính sách môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu mang tính toàn cầu nhưng với thiện chí hợp tác và chia sẻ giữa các cơ quan khoa học Hoa Kỳ và Việt Nam, kể cả các cá nhân các nhà khoa học Mỹ gốc Việt, chúng ta có thể nhận được các kết quả nghiên cứu từ thực tiễn mang vào áp dụng, có vận dụng thực tế, cho vùng ĐBSCL nói riêng và lưu vực sông Mekong nói chung trong bối cảnh có nhiều thay đổi về tự nhiên, biến đổi khí hậu và thị trường kinh tế.

Tôi hy vọng các nhà khoa học trẻ và sinh viên ở ĐBSCL sẽ có cơ hội sang Hoa Kỳ, cũng như sinh viên Mỹ sang Việt Nam để học tập và trao đổi, không chỉ riêng ở mảng khoa học và quản lý môi trường và tài nguyên thiên nhiên, kinh tế khí hậu, ứng phó với rủi ro thiên tai mà còn có dịp hiểu hơn về văn hóa, xã hội và cải tiến các kỹ năng Anh ngữ, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng làm việc nhóm.


* Xin cảm ơn ông!


HUỲNH KIM (thực hiện)

Bài đã đăng tại báo Cần Thơ 3-3-2017:http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=63&id=190440

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

Mới đó mà đã 9 năm


Trong chuyến đi công tác tại Phú Quốc (2008), khi ghé trại bảo tồn chó Cội Nguồn, nhà báo Huỳnh Kim đã được đón tiếp nồng hậu.

Tình cảm thắm thiết của chủ nhà đã làm Huỳnh Kim kêu lên: “Trời đất! giờ tui mới biết như thế nào là “sướng rên mé đìu hiu”












Bài đăng tại:
http://metinfo.blogspot.com/2008/01/sng-rn-m-u-hiu.html

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Bài thơ viết ở Vị Xuyên năm 1985



 Nhớ ngày 17-2-1979 ở biên giới phía Bắc












  

Nơi đây tràn trề thế đất
Bao năm rồi chẳng bình yên
Pháo giặc bắn sang từ hướng Bắc
Trụi trần đất đá Vị Xuyên

Tôi đã sống một thời cao nguyên
Đã qua đôi mùa khô biên giới
Mà hiểu núi mà xót xa yêu núi
Là nơi đây sau lưng tôi Hà Giang

Mây phủ trắng đỉnh cao Hai ngàn
Người bản Mèo rủ nhau về dưới thấp
Tựa vào đá tôi quay đầu nhìn khắp
Ruộng bậc thang mờ xanh cỏ tranh

Nơi đây nhiều tên đất nổi danh
Suối Cụt, Bốn Hầm, Cốc Nghè, Cửa Tử...
Pháo – phản pháo ngày đêm dồn ứ
Lồng ngực ta nung lửa chặn thù

Tôi chồm mình qua bờ chiến hào
Lấp loáng thượng nguồn sông Lô ánh đỏ
Ôi sông Lô tuổi học trò thuở nhỏ
Miền Nam xa tôi hát khúc sông Lô

Uống bát nước đường trong hầm điểm tựa
Đồng đội quây quần hỏi chuyện phương Nam
Bạn cầm tay tôi nhắn lời chia lửa
Khi nghe mùa khô Campuchia

Nơi đây tràn trề thế đất
Vẫn cứ rạch ròi giữa trái tim tôi
Như sông Hậu sóng duềnh xa hút mắt
Đường biên xanh cột mốc dựng bao đời

Vị Xuyên, tháng 7-1985
Huỳnh Kim

Chiến tranh biên giới 1979 Không sợ kẻ thù, chỉ sợ lãng quên




Một ngày cuối hè năm 1979, Long về nhà. U anh đang sàng gạo ngoài sân. Long dừng chân cạnh u: “U đang sàng gạo ạ?”. Người mẹ chẳng ngước mắt lên, chỉ nói “Ừ”. Rồi lại cặm cụi làm.

Long bước vào nhà. Lúc này u mới nhìn theo: bà tưởng cái bóng áo xanh lúc nãy là một anh bộ đội ở doanh trại gần nhà đi ngang qua hỏi thăm. Sao lại bước vào nhà? “Ô thằng Long đấy à?” - bà thốt lên. Rồi u chạy vào, ôm chặt Long khóc nức nở.

U đã đòi lập bàn thờ anh được mấy tháng - nhưng thầy anh cản không cho. Thằng Long chưa chết, thầy anh quả quyết, không biết vì sao. Đã mấy lần thầy lên biên giới, cố tìm xác con, nhưng không thấy.

Hôm ấy, cả làng kéo đến nhà Long, bỏ cả buổi xem vô tuyến ở doanh trại bộ đội. Mừng tủi. Đã nửa năm trôi qua, chẳng ai nghĩ Long còn sống.

Làng Trường Lâm ở ngoại ô Hà Nội này, 7 đứa đi chiến trường biên giới, thì đã có bốn người vĩnh viễn không trở về.


Âu Xuân Long nhập ngũ tháng 5/1978. Sau một đợt huấn luyện ngắn, Long được điều lên Văn Lãng, Lạng Sơn. Chàng trai vừa tròn 18 vẫn hồn nhiên như trẻ con. “Trên cột mốc hồi ấy có cây bưởi sai lắm, vẫn ở tuổi tranh nhau cái gậy để chọc bưởi mà, có biết gì đâu” - anh nhớ rất chi tiết những ngày tháng bình yên ấy. Từ quả đồi nơi đóng quân nhìn xuống là biên giới, bà con trong bản vẫn lại qua bình thường buôn bán.

Mọi chuyện chỉ bắt đầu thay đổi từ tháng 8. Buổi sáng 25/8/1978, cách chỗ Long đóng quân chỉ vài cây số, một người bạn đồng niên hy sinh.

Trên đồi Pù Tèo Hào hôm ấy, chiến sĩ Lê Đình Chinh ngã xuống sau một nhát dao của những kẻ thù mặc thường phục tràn từ bên kia biên giới sang. Anh vừa 18 tuổi. Sau này, người ta tìm thấy một lá thư anh Chinh viết ba ngày trước hôm đó.

Người ta gọi Lê Đình Chinh là chiến sĩ đầu tiên hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc. Ngày 25/8, trong trí nhớ Âu Xuân Long, trở thành dấu mốc của sự căng thẳng leo thang. Phía Trung Quốc bắt đầu tăng tuần suất bắc loa qua biên giới tuyên truyền kích động bằng tiếng Việt. Long không nhớ nội dung chúng nói: “Nói vớ vẩn, nghe làm gì”.

Giai đoạn đó, hai bên đều chưa có động thái quân sự chính thức. Nhưng phía Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng việc chống lại một cuộc tấn công: dân quân được huy động để cắm chông dọc biên giới. “Mình cứ cắm nó lại nhổ” - Âu Đức Thành, một trong 3 người lính của làng Trường Lâm may mắn trở về, nhớ lại.

Căng thẳng cứ thế tiếp diễn trong hơn nửa năm tiếp theo, cho đến khi kẻ thù đi bước đầu tiên của mình.
5 giờ sáng 17/2/1979, bầu trời biên giới bỗng sáng rực.

Âu Đức Thành đóng quân cách biên giới hơn 10km. Đêm ấy, nhìn về phía chân trời, anh thấy những luồng sáng như chớp trước cơn giông lớn. “Trung Quốc đánh mình rồi” - anh nói với đồng đội. Một cơn mưa đạn pháo trút sang từ phía Bắc. Cuộc chiến tranh biên giới 1979 chính thức bắt đầu.

Long và Thành là lính của Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 - những người trấn giữ Đồng Đăng, trận địa ác liệt nhất của cuộc chiến tranh biên giới.

Nhiều đồng đội của các anh, những người cùng tuổi mười tám đôi mươi, đã nằm lại trong cuộc giành giật từng tấc đất biên cương.

“Người chết trên đất thì không sao, nhưng chết dưới ruộng thì ám ảnh lắm” - Thành kể về những ngày đi khâm liệm cho đồng đội. Người chết dưới ruộng, xác sẽ trương lên. Anh không nhớ mình đã chôn bao nhiêu đồng đội. Không có gì để liệm, chỉ có chính võng và tăng (tấm che trên võng) của người chết, cuốn lại, rồi chôn. “Mùi tử khí ám vào người, có những ngày không ăn nổi cơm”.


Hai người bạn chăn trâu cùng làng của Long và Thành hy sinh ở Pháo Đài Đồng Đăng ngày 22/2. Pháo đài ấy đã đẩy lùi hàng chục cuộc tấn công cấp sư đoàn của Trung Quốc trong 5 ngày liên tục. Họ cương quyết không nghe những lời kêu gọi đầu hàng cho đến tận phút cuối. Quân Trung Quốc phá cửa, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, hóa chất vào các lỗ thông hơi, giết cả những người dân vùng xung quanh đang lánh nạn tại nơi này.


Âu Xuân Long bị địch bắt vào cuối tháng 2. Đời tù binh khởi đầu bằng những trận đòn thù. “Chúng nó bắt được mình thì phải đánh thôi. Anh em bạn bè nó vừa chết mà” - người đàn ông tóc đã bạc gần hết, kể bình thản. Ông bị địch đưa đi mấy ngày mấy đêm, rồi nhốt ở một ngôi trường bỏ hoang, cùng với vài chục bộ đội và hơn hai trăm người dân thường.

Cuộc tấn công dã man không chỉ hướng vào quân đội Việt Nam. Hơn 10.000 dân thường đã thiệt mạng trong cuộc chiến. Mục tiêu của Trung Quốc là một cuộc tấn công phá hoại.

Hàng nghìn công trình công cộng, từ ủy ban, trường học, bệnh viện và xí nghiệp; hàng vạn ngôi nhà và héc-ta hoa màu bị phá.

Long được thả trong đợt trao đổi tù binh ngày 20/6/1979. Anh đi bộ từ cửa khẩu xuống chợ Đồng Đăng, và nhận ra rằng thị xã đã biến mất. “Vắng lạnh lắm. Chúng nó phá từ cái cột điện đến cầu cống”.

Một nửa trong số 3,5 triệu đồng bào sống dọc biên giới phía Bắc, đã mất nhà cửa sau cuộc chiến ấy.
Năm 1975, khi nghe tin miền Nam đã được giải phóng, cậu bé Âu Xuân Thành khi ấy đã vô cùng háo hức. Cậu nghe kể rằng miền Nam rất giàu có, và nghĩ: thống nhất được miền Nam thì sướng rồi. “Thấy người ta bảo vùng Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay, ruộng lúa chẳng cần cầy cấy gì, cứ gieo hạt xuống là rung đùi chờ có gạo ăn thôi. Nghĩ thế là sắp sướng rồi” - ông nhớ lại - “Hồi ấy vẫn còn nghĩ ấu trĩ như thế”.

Sự háo hức qua đi rất nhanh. Năm 1977, căng thẳng Việt-Trung bắt đầu được đẩy lên cao. Năm 1978, chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra. Năm 1979, Âu Đức Thành cầm súng tham gia chiến tranh biên giới phía Bắc. Ra quân, đi học lái xe rồi trở thành quân nhân chuyên nghiệp, hơn 40 năm sau, cậu bé Thành ngày nào - bây giờ đã nghỉ hưu với hàm trung tá - nhận ra một thực tế.

Sau chiến tranh biên giới 1979, căng thẳng biên giới vẫn tiếp diễn. Năm 1984, Trung Quốc lại mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Hà Giang. Lại một lớp thanh niên nữa của ngôi làng nhỏ bé này ra đi, lại có người không trở về.

Và ngay cả những người trở về cũng chưa lành vết thương chiến tranh, dù hơn 30 năm đã trôi qua.


Ông Hường không còn bàn chân trái. Ông đã để lại nó ở Vị Xuyên, Hà Giang, và mang về rất nhiều mảnh đạn trong người - đến bây giờ vẫn chưa lấy hết ra. Nhưng trong trí nhớ của ông, ký ức về cuộc chiến bây giờ đã mờ: cái người cựu chiến binh đối mặt, là cơm áo.

Chiếc xe thương binh để ngoài cửa, chờ có ai vô tình biết số điện thoại gọi đến thì đi. “Người ta giả thương binh, nhưng có sức khỏe, chạy như trâu. Mình què quặt, chỉ ngồi chờ người ta gọi, không kiếm ra tiền”.

Cuộc nói chuyện với ông Hường, không phải là về ký ức huy hoàng của những ngày bảo vệ biên giới. Ông phàn nàn về chế độ với con cái, thỉnh thoảng bị chính quyền “quên”, về những ngày kỷ niệm qua loa, về chính sách.

Ông cũng chẳng hào hứng lắm khi kể về chiến tranh. “Nhà báo có viết thì viết về bọn giả danh thương binh ấy” - ông nhắc đi nhắc lại lời đề nghị. Đấy là nỗi ám ảnh lớn nhất của người đàn ông sắp bước sang tuổi lục tuần.

Sự vinh danh đáng kể nhất mà những cựu binh biên giới - như trong mắt ông Hường - nhận được đến hôm nay, lại là việc người ta giả danh họ, khoác những chiếc áo xanh lá mạ, để kiếm ăn.

“Có một cuộc kỷ niệm cấp tỉnh, cấp nhà nước nào về chiến tranh biên giới không nhỉ?” - ông Thành hỏi người viết. Ông không nhớ rằng có. “Con cái bây giờ, kể cho chúng nó nghe, như kể chuyện cổ tích. Trên TV đài báo có nhắc đến mấy đâu mà chúng nó biết” - người lính già than thở.

Ông không muốn những gì đã diễn ra bị lãng quên. “Phải nhớ chứ. Bây giờ hàn gắn rồi, thì mình không kích động, không hằn thù, nhưng không thể quên được. Phải nhớ là đất nước mình không một ngày bình yên”.

Không chỉ có những cựu binh sợ rằng cuộc chiến tranh ấy sẽ bị lãng quên.

Đó là ngày 17/2/2016, thầy Vũ Văn Khánh quyết định rằng mình sẽ tự tổ chức một cuộc tưởng niệm Chiến tranh biên giới.
Khánh là một thầy giáo dạy văn ở trường THPT An Thới, Phú Quốc, Kiên Giang. Anh thú nhận rằng tới tận năm ngoài 30 tuổi, anh mới lần đầu tiên hiểu kỹ về Chiến tranh biên giới 1979. “Ở ngoài đảo, mình không có điều kiện tiếp cận thông tin, vào Internet, sách giáo khoa thời mình thì không nhắc đến mấy” - anh kể. Khi biết đến, Khánh đã phải nhờ rất nhiều bạn bè ở các trường đại học gửi tài liệu cho đọc, để biết thêm về cuộc chiến ấy. Anh quyết định rằng mình sẽ không để các em học sinh phải chịu điều ấy - dù anh là một thầy giáo dạy văn, không phải dạy sử.

Tiết học Khánh chọn, là sau khi anh giảng xong cho học sinh về “Bình Ngô đại cáo” - tác phẩm tuyên bố chủ quyền dân tộc trước giặc xâm lăng phương Bắc.

Anh dành một tiết học ngồi kể cho học sinh về cuộc chiến, về diễn biến, và những đau thương mà nó mang lại. Rồi người thầy giáo khóc. Gia đình anh cũng có nhiều liệt sĩ. Anh nhớ bà ngoại, mất chồng từ năm 26 tuổi, nhớ người cậu ruột hy sinh ở chiến trường biên giới Tây Nam. Học sinh trong lớp cũng đồng loạt khóc theo. Rồi cả lớp đứng dậy, dành một phút tưởng niệm cho những người đã ngã xuống trong ngày 17/2/1979.
Tiết học ấy sau này trở nên nổi tiếng trên báo chí. Bởi vì nó đặc biệt: những cuộc tưởng niệm như thế không được tổ chức ở nhiều nơi trên đất nước, đặc biệt với những người ngoài quân ngũ.

Nhưng năm nay, gọi điện lại, thầy giáo Khánh tâm sự rằng có lẽ mình sẽ vẫn chỉ tổ chức kỷ niệm cho những lớp anh đứng - với tư cách cá nhân. Sách giáo khoa lịch sử, vẫn chỉ có 11 dòng về chiến tranh biên giới, và nhiều nơi thậm chí 11 dòng này còn được đưa vào chương trình giảm tải, nghĩa là học sinh tự đọc.

Ở trên khắp đất nước, còn có bao nhiêu thanh niên như Khánh, sinh ra ngay sau khi tiếng súng vừa im, đã ngoài 30 nhưng chưa một lần được nghe về “Chiến tranh biên giới”?

Thậm chí là chính những lính năm ấy cũng đang quên. Họ đều đã già. Bây giờ mỗi năm, đến ngày 15/5, ngày thanh niên trong làng nhập ngũ năm 1978 ấy, ông Thành lại đứng ra gọi anh em đồng ngũ gặp mặt. “Không phải để nhậu đâu, mà để nhắc nhau nhớ lại”. Những người lính già, sau bao nhiêu năm chiến đấu với cơm áo, có khi cũng chẳng còn nhớ được chính mình đã làm gì.

“Phải ngồi lại với nhau, để người này nhắc người kia, ngày ấy mày làm gì, làm gì. Không thì chẳng nhớ được đâu” - ông Thành kể.

Những người lính già ấy, nói về chiến tranh với một vẻ đầy bình thản. Nhưng họ chua chát khi nói về sự lãng quên. Chính bản thân họ, sau bao nhiêu năm, cũng không cưỡng lại được sự phai mờ của ký ức. Họ sợ sự quên ấy, chứ không sợ kẻ thù.