Thứ Tư, 5 tháng 9, 2012

Chuyện hai người


Hai cô gái trẻ đẹp và một người đàn ông trung niên ngồi chỗ lưng chừng núi nhìn ra biển bàn “chuyện hai người”.
Một cô đang yêu, một cô vừa có chồng và người đàn ông đã có vợ con. Họ quy ước với nhau là chỉ nói về trải nghiệm hoặc suy ngẫm của mình chứ không bình luận gì cả.

 



Câu hỏi họ đặt ra: “Có phải muốn có tình yêu và hôn nhân bền vững thì hai người phải nên hòa thành một?”.
Cô gái vừa có chồng kể:
- Ông xã em thích nhậu nên hay lai rai mỗi ngày sau khi tan sở. Em biết là ông ấy chỉ nhậu với bạn bè nhưng đôi khi nhậu về trễ thấy ổng hơi là lạ. Cho nên lúc đầu em chỉ nhắc là anh nhậu vừa thôi để giữ gìn sức khỏe và đừng có về trễ, vì mình vẫn nghĩ đó là niềm vui riêng của chồng, mình phải tôn trọng. Nhưng càng về sau, em hay nghĩ lung tung. Rủi mà ổng không chỉ lai rai với bạn bè mà còn đi “tăng hai, tăng ba” gì đó nữa thì sao? Thế là em “bắt buộc” ổng không được về nhà trễ như vậy nữa. Ổng cũng nghe nhưng đôi lúc cũng về trễ và thấy hổng có vui vì cái sự bắt buộc của mình. Như vậy, nếu chồng chịu “hy sinh” thú vui riêng để hòa mình với vợ thì chỉ có vợ vui, còn chồng miễn cưỡng và ngược lại. Vậy hai người nên “hòa thành một” làm sao đây? Còn nếu không “hòa thành một” thì mạnh ai nấy sống hay sao?
Cô gái đang yêu nói:
- Ai cũng có “cái tôi” to đùng. Theo em, có những cái chỉ là thế giới riêng của mỗi người, có những cái khác nên biết chia sẻ với nhau. Chuyện gì chia sẻ với nhau được thì coi như là đã “hòa thành một”. Nhưng khó nhất là có nhiều cái mình không biết được đâu là ranh giới và càng khó hơn là mình không làm được. Những lúc đó thường là cãi nhau hoặc giận nhau và ai cũng nói “em phải thế này” hoặc “anh phải thế kia”, vì ai cũng thấy mình đúng. Kéo dài hoặc lặp lại nhiều lần “cái tôi” ấy thì rất dễ chia tay nhau.
Rồi cô đúc kết:
- “Yêu nhau là không phải nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng” cần được sửa lại cho hợp với thời nay: “Yêu nhau là phải biết nhìn nhau và cùng nhìn về một hướng”.
Người đàn ông trung niên nhìn ra mặt biển êm đềm dưới chân núi, kể:
- Bà xã tôi thích xem phim bộ trên ti vi mà không thích xem thời sự, còn tôi thì ngược lại. Tôi hay nhắc bà xã nên xem thời sự cho biết tin tức mỗi ngày. Thường thì bà xã im lặng hoặc đôi khi có mở chương trình thời sự xem qua. Một hôm, khi nghe tôi nhắc, bà xã mới nhẹ nhàng hỏi lại: “Vậy chớ em có kêu anh phải xem phim bộ cho vui hông?”. Trời đất, câu hỏi nhẹ re vậy mà tôi không biết trả lời làm sao, vì ngẫm nghĩ thấy bà xã vừa có lý vừa có tình, còn mình chỉ có lý mà thiếu tình.
Nghe chuyện của người đàn ông, cả hai người con gái đẹp cùng “à” lên, chợt cô gái có chồng la lên: “Có lý quá hén!”. Nhưng chỉ một giây sau, cô ấy lại nói: “Nhưng mà em không để cho ông xã em tự do đi nhậu hoài như vậy đâu!”.


 

* Mời đọc thêm trên Báo Phụ nữ TPHCM:
http://phunuonline.com.vn/tinh-yeu-hon-nhan/goc-dan-ong/chuyen-hai-nguoi/a73335.html

Thứ Hai, 3 tháng 9, 2012

Vì sao lúa lai không có ở ĐBSCL?



ĐBSCL đã thử nghiệm lúa lai từ lâu nhưng không thành công. Vậy lúa lai khác với lúa thuần như thế nào và vì sao lâu nay lúa lai chỉ được trồng ở miền Bắc là chính và không cho gạo xuất khẩu được? Chúng tôi vừa ghi nhận ý kiến của một số nhà khoa học nông nghiệp...

 
* PGS.TS BÙI BÁ BỔNG - Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT): “Không nên tăng diện tích lúa lai”

 
Hiện nay diện tích trồng lúa lai cả nước khoảng 700.000 hecta, trong đó về lúa giống, ta tự sản xuất được 30%, nhập khẩu 70% từ Trung Quốc. Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu gạo không phải dựa vào lúa lai. Lúa xuất khẩu của Việt Nam là lúa thuần từ Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Lúa lai chỉ chiếm 9,6% diện tích lúa toàn quốc, nói chung là không đáng kể. Còn tỷ lệ giống lúa lai nhập khẩu từ Trung Quốc, chỉ chiếm 6,7% số lượng lúa giống cả nước; nói cách khác 93,3% lúa giống hoàn toàn được sản xuất trong nước.
Theo tôi, không nhất thiết tăng diện tích lúa lai, còn giống thì cần nỗ lực để tăng tỷ lệ sản xuất trong nước. Giống lúa lai của Trung Quốc phù hợp với điều kiện khí hậu phía Bắc.
 
* GS.TS VÕ - TÒNG XUÂN - Hiệu trưởng Trường Đại học Tân Tạo: “Miền Nam bỏ lúa lai”

 
Lúa lai hiện nay đại đa số chỉ có ở miền Bắc. Miền Nam đã thử nghiệm nhưng không thành công, vì lúa luôn bị sâu bệnh phá hại và không ngon cơm. Miền Nam bỏ lúa lai, phần lớn dùng lúa do các cơ quan khoa học phía Nam chọn tạo. Trong khi các cơ quan khoa học chọn tạo giống lúa phù hợp với sinh thái miền Bắc thì chưa có những giống lúa tốt như ở miền Nam, cho nên Bộ NN-PTNT chủ trương đưa giống lúa lai từ Trung Quốc về bán cho nông dân với giá bao cấp. Mấy cơ quan kinh doanh lúa lai Trung Quốc đều hưởng lời rất lớn nhờ cơ chế này.

* TS LÊ VĂN BẢNH - Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL: “Chất lượng kém hơn lúa IR 50404”

 
Các tỉnh Bắc Trung bộ và miền Bắc sử dụng rất nhiều lúa ưu thế lai (thường gọi tắt là lúa lai). Lúa lai cũng như bắp lai là loại giống chỉ sử dụng trong sản xuất đời F1, nghĩa là đơn vị sản xuất ra giống bán cho nông dân sản xuất chỉ dùng một lần, muốn sản xuất tiếp phải mua lại của công ty cung cấp giống, nếu tiếp tục dùng sản phẩm lúa lai đã sản xuất này làm giống lần hai thì sẽ rất dễ cho ra “lúa lép”. Chứ không phải như “lúa thuần” của mình; bà con đến Viện Lúa ĐBSCL chẳng hạn, mua vài chục ký giống rồi về trồng và liên tiếp nhân ra mà vẫn tốt. Do vậy lúa lai được sản xuất độc quyền. Các viện nghiên cứu nội địa phía Bắc không đáp ứng được nên phải nhập rất nhiều của Trung Quốc hàng vụ để nông dân sản xuất.


Lúa lai Trung Quốc có ưu điểm là năng suất khá cao, chịu điều kiện khắc nghiệt tốt như hạn, lạnh... nhưng chất lượng thấp (kém hơn giống IR 50404) nên gạo chủ yếu dùng để giải quyết lương thực xóa đói ở địa phương, không dùng cho xuất khẩu.


 
Lâu nay, các giống lúa thuần dòng OM chiếm lĩnh vùng ĐBSCL và cả các tỉnh phía Nam, đáp ứng 90% lượng gạo xuất khẩu và nay ta đang xuất giống lúa qua Campuchia, Lào, các nước Nam Á và châu Phi. Do vậy, không có lúa lai ở ĐBSCL.
 
HUỲNH KIM (ghi)
 
Mời đọc thêm trên báo Cần Thơ

Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012

Cảm ơn bà xã


PN - Không hiểu sao dạo này bà xã hay nhắc tôi “cắt bớt tóc đi”. Mấy chục năm nay dù tôi để tóc dài tới đâu cũng không nghe vợ can ngăn gì. Tuần rồi, vợ lại nhắc: “Tóc tai gì mà dài quá”. Tôi nhìn vô gương như mọi lần, và cũng như mọi lần, tôi nói vui: “Tóc dài quá vai như vầy mới càng bụi chớ em. Để hơn hai năm rồi mới được như vậy đó”. Bà xã đưa tay hứng một lọn tóc dài bên vai tôi rồi nói: “Bụi đâu không thấy, chỉ thấy cái hình hài hom hem của anh thôi”.



“Khiếp!”, tôi nghĩ thầm trong bụng. Sao bà xã mình lại có cái nhìn và nhận xét “lạ lùng” như vậy. Nó làm cho tôi hơi hoang mang một chút, nhưng khi soi gương, tôi lại nhìn thấy mình quá “quen thuộc bụi đời” và vẫn “đáng yêu”. Mà sống trên đời này, có gì dễ thương cho bằng sự… nhẹ dạ cả tin, ngay cả với chính mình. Vợ lại nói nhỏ trước khi tôi đi làm: “Hay là anh thử nhờ ai chụp hình đi, anh sẽ nhìn lại mình rõ hơn”.


“Chụp hình mình? Để nhìn lại mình?”, cái ý kiến này của vợ cũng thiệt lạ đời. Và tôi làm thử. Anh bạn nhà báo xách máy tới văn phòng chụp búa xua mấy chục tấm hình rồi chuyển qua máy vi tính, kêu tôi xem. Hết hồn! Trời đất, mình đây sao? Nhìn trước, nhìn quanh, nhìn sau rồi nhìn lại… chính mình. Bụi đời cái nỗi gì mà tóc tai lơ thơ rũ rượi! Hoàn toàn không hợp với cái tuổi trung niên nữa rồi. Ngày xưa trai trẻ thì khác. Thần thái này đúng là… hom hem thiệt. Mà có ông chồng nào lại thích mình… hom hem? Vậy mà lâu nay khi nghĩ về mình, tôi cứ thích tha thẩn với câu Kiều này:“Bắt phong trần phải phong trần” và một lời ca của Trịnh Công Sơn:“Nhìn lại mình đời đã xanh rêu”…

Giờ mới thấy người phụ nữ thiệt là tinh tế trong chuyện gia đình tuy nhỏ nhưng không nhỏ: đôi khi phải biết “nhìn lại mình” đúng với cái nghĩa đen của nó trước khi ngẫm nghĩ về cái nghĩa bóng. Chưa nói chuyện người vợ dường như muốn nhắc khéo ông chồng, rằng cái câu xưa của cha ông mình nay vẫn còn đáng nể:“Cái răng cái tóc là gốc con người”.


Thế là hôm sau tôi ghé chỗ cái quán hớt tóc ở đầu hẻm. Chỉ sau mười phút, chàng trai chủ quán đã xén bớt hơn nửa chiều dài cái mái tóc kia một cách điệu nghệ, rồi nói: “Như vầy thì hợp với tuổi của chú hơn”. Nhìn vô gương, trong giây lát, tôi đã... gặp lại chính mình. Rồi dường như có một thứ tình cảm buồn thương nhè nhẹ dâng lên trong lòng; con hẻm nhỏ vẫn đầy âm thanh như vậy mà sao tự dưng ta nghe thấy cuộc sống này nó êm ả quá, đáng yêu quá. 


Sáng nay đang ngồi họp thì nhận được tin nhắn của cô bạn đồng nghiệp ngồi đối diện: “Tóc anh đẹp gần bằng tóc em rồi đó”. Tôi nghịch ngợm nhắn lại: “Tóc ánh... thép đó”. Rồi nhủ thầm trong bụng: “Cảm ơn bà xã”.




Ảnh: Võ Thành Lân



============================
Mời đọc thêm trên Phụ Nữ Online:
http://phunuonline.com.vn/tinh-yeu-hon-nhan/goc-dan-ong/cam-on-ba-xa/a70627.html

Thứ Năm, 28 tháng 6, 2012

Khi người đồng bằng bỏ quê...

Vừa qua, Trường Đại học Cần Thơ phối hợp với Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) và Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) tổ chức hội thảo “Thích ứng với biến đổi khí hậu và vấn đề di cư ở ĐBSCL”. Đồng chủ trì hội thảo này, TS LÊ ANH TUẤN, thuộc Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu Đại học Cần Thơ, đã trả lời phỏng vấn TBKTSG. Ông nói:


TS Lê Anh Tuấn



- ĐBSCL hiện nay đã không còn là nơi mưa thuận gió hòa nữa rồi. Theo cảnh báo của nhiều nghiên cứu, một phần ba diện tích đồng bằng sẽ bị ngập khi nước biển dâng cao 1 mét. Tác động do biến đổi khí hậu và nước biển dâng là lớn vì đây là khu vực có mật độ dân cư cao, vùng đồng bằng này có địa hình thấp và phẳng, nằm ở hạ nguồn của một lưu vực sông lớn là sông Mê kông và có hai mặt tiếp giáp với biển. Mấy năm gần đây, xu thế nhiệt độ gia tăng, mưa bão bất thường, hận hán, xâm nhập mặn, sạt lở và các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với cường độ và tần số cao hơn đã đe dọa các hoạt động sản xuất nông thuỷ sản, gây nhiều hạn chế cho sinh kế của người dân, tài nguyên và môi trường suy thoái nhanh hơn. Khó khăn, bất ổn về sản xuất và xu thế thu hẹp diện tích canh tác làm hiện tượng di cư tăng lên.

* TBKTSG: Hiện trạng di cư này có gì khác thường không, thưa ông?

- TS LÊ ANH TUẤN: Số liệu điều tra cho thấy đang có nhiều dòng di cư của người dân nghèo đến các thành phố lớn và các khu công nghiệp. Các dòng di cư phổ biến ở Việt Nam là từ miền Bắc vào miền Nam, từ các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên xuống các vùng đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ và từ vùng nông thôn đồng bằng lên các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM. Theo kết quả phân tích thống kê của Viện Phát triển Bền vững Nam bộ (thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam), ĐBSCL có số lượt người dân dịch chuyển lao động và cư trú cao nhất nước, phân lớn họ ra đi từ nông thôn và ¾ số dân di cư này đến TP.HCM và các tỉnh miền Đông Nam bộ kiếm việc làm tại các khu công nghiệp.

* TBKTSG: Các chuyên gia IOM và UNDP đều cho rằng vấn đề này chưa được nhận thức đúng, cả ở người dân và chính quyền các cấp?



Nông dân nghèo ở Đồng Tháp mưu sinh trong mùa lũ 2011

- Người dân và chính quyền địa phương cũng đã có một số nhận thức chung về tình hình di cư tăng cao hiện nay nhưng chưa đầy đủ. Vài năm qua, một số nhà khoa học từ trường Đại học Cần Thơ, Đại học An Giang, Viện Phát triển bền vững Nam bộ và một số tổ chức phi chính phủ như OXFAM, CARE, IOM… đã tiến hành một số điều tra và nghiên cứu hiện trạng di cư và tái định cư của người dân ĐBSCL nhưng thực sự là chưa theo kịp thực tế.

* TBKTSG: Thưa ông, nếu tình trạng di dân ra ngoài ĐBSCL vẫn tiếp diễn mạnh do tác động của biến đổi khí hậu thì hệ quả ở nơi đến và cả nơi bỏ đi sẽ ra sao?


- TS LÊ ANH TUẤN: Biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể là một tác nhân đẩy mạnh them tình trạng di cư do sự thu hẹp diện tích cư trú và gây khó khăn cho canh tác cũng như làm gia tăng sự suy thoái môi trường. Cường độ di cư có thể gia tăng đột biến khi có thiên tai lớn hoặc gia tăng đều đặn tương ứng với các diễn biến lâu dài của biến đổi khí hậu và sự suy thoái môi trường. Người dân nông thôn bỏ quê lên thành thị, nếu không có kiểm soát sẽ gây ra một loạt vấn nạn cho các thành phố lớn như làm phá vỡ các quy hoạch hiện hữu, gia tăng sự quá tải ở các dịch vụ và hạ tầng công cộng như giao thông, bệnh viện, trường học, cơ sở việc làm,… khiến bộ mặt đô thị ngày càng nhếch nhách, ô nhiễm, bất ổn hơn nếu không có một biện pháp can thiệp lớn từ chính quyền.

Trong khi đó, tại nơi người dân bỏ đi sẽ rơi vào tình trạng thiếu lao động nông nghiệp và sản xuất đình trệ. Một số người dân nông thôn sau khi bán hết ruộng vườn lên thành thị nhưng không trụ lại được do thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm và vốn liếng, kể cả những xung đột do khác biệt thói quan và tập quán, có thể lại phải quay trở về quê cũ và sinh sống bằng cách khai thác và xâm chiếm các nguồn tài nguyên còn lại.

* TBKTSG: Riêng với các cụm, tuyến dân cư, khu tái định cư tránh lũ, sạt lở... đối với di cư tại chỗ, theo ông cần cải thiện điều gì?

- TS LÊ ANH TUẤN: Hơn một thập niên qua, tại các vùng ngập lũ và sạt lở ở ĐBSCL đã xây dựng nhiều cụm, tuyến dân cư và khu tái cư. Tuy nhiên, một số cụm và khu tái định cư đã không thành công do sự đầu tư và quan tâm không đúng mức trong việc tái định cư. Người dân vào các khu tái định cư có thể gặp khó khăn hơn trong cuộc sống và sinh kế trong khi chi phí cho gia đình nhiều hơn.

Nhưng cũng có nhiều chương trình định cư thành công như ở Hố Gùi (Cà Mau) do Hội Chữ thập đỏ Thuỵ Sỹ tài trợ và triển khai. Nhờ có sự nghiên cứu, khảo sát kỹ lưỡng và việc lập kế hoạch triển khai khoa học và hợp lý theo điều kiện thực tế, đến nay cuộc sống của người dân ở khu định cư khá ổn định và vệ sinh môi trường được bảo đảm tốt hơn. Các thiết kế nhà cửa và công trình phúc lợi cũng đã được thiết kế và chọn lựa vật liệu xây dựng phù hợp chống lại các bất lợi về tự nhiên như phèn, mặn, nhiệt độ cao và gió mạnh. Chương trình này tuy không phải là hoàn hảo, lý tưởng nhưng được đánh giá là mô hình tái định cư tốt nhất hiện nay ở vùng ven biển ĐBSCL.

 
* TBKTSG: Vậy thì cần làm sao để giảm bớt vấn nạn di cư này?


- TS LÊ ANH TUẤN: Tái định cư và ổn định sinh kế người dân phải là một trong các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho cộng đồng dân cư. Trước mắt, tất cả các vùng tái định cư đã được xây dựng cần đánh giá một cách khoa học, so sánh lại một cách tổng thể hơn nhằm rút ra các bài học và đề xuất biện pháp cải tiến. Về lâu dài hơn, chính quyền cần chủ động nghiêm túc lắng nghe ý kiến của người tái định cư và phải mạnh dạn tiếp tục đầu tư kinh phí hợp lý hơn một cách liên tục cho các chương trình kiên cố hoá nhà cửa, đầu tư nhiều hơn các công trình công cộng và phúc lợi xã hội, tạo công ăn việc làm tại chỗ, cải thiện điều kiện vệ sinh và môi trường…


Biến đổi khí hậu gây sạt lở ngày càng nhiều ở ĐBSCL



Điều quan trọng không kém là tìm các giải pháp hạn chế tình trạng di cư, có thể phần nào giúp người dân tiếp tục “sống chung với biến đổi khí hậu”. Việc ứng phó chung phải có cả biện pháp công trình và biện pháp phi công trình. Các chương trình của chính phủ, cộng đồng và các tổ chức quốc tế nên tập trung vào việc duy trì bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn, bảo vệ môi trường nước, sử dụng tài nguyên thiên nhiên khôn ngoan có ý nghĩa thực tế rất lớn để bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai, sinh cảnh, chuỗi thực phẩm và sinh kế của người dân. Trong quy hoạch phát triển kinh tế, không nên tập trung các khu công nghiệp cần nhiều lao động vào các thành phố lớn mà nên phân tán ra ở các vùng nông thôn ĐBSCL, dù có thể làm tăng một số chi phí đầu tư và nhân lực, nhưng xét một cách tổng thể và lâu dài vẫn có nhiều lợi ích hơn trong giảm thiểu sự suy thoái môi trường, rủi ro về xã hội và hạn chế được tình trạng di cư đông người.

* TBKTSG: Viện Ngiên cứu Biến đổi khí hậu Đại học Cần Thơ sẽ cùng các tổ chức quốc tế và các địa phương làm gì để cùng lo chuyện này?

- Bước đầu, Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu trường Đại học Cần Thơ phối hợp với IOM và UNDP tổ chức hội thảo này. Hội thảo đã quy tụ nhiều nhà khoa học và chuyên gia từ các viện trường và các tổ chức quốc tế, các ban ngành cùng nhiều tổ chức xã hội dân sự các tỉnh ĐBSCL để nhìn nhận và đánh giá các vấn đề khá cụ thể như số liệu và mô hình di cư, cách thức người dân ĐBSCL ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu và các vấn đề suy thoái môi trường như thế nào, các chiến lược về sinh kế và thích ứng chủ yếu để đối phó với những thách thức của biến đổi khí hậu ở mức độ cá nhân và cộng đồng ở khu vực. Hội thảo cũng xác định các thách thức và vấn đề cần nghiên cứu cho các năm sau.

Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu đang có kế hoạch hợp tác với IOM và UNDP để tiến hành các dự án lớn hơn để nghiên cứu và tiến hành cho các biện pháp hữu hiệu thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm nhẹ vấn đề di cư ở các tỉnh vùng ĐBSCL. Hy vọng qua các dư án với sự trợ giúp của nhiều chuyên gia, các địa phương ở ĐBSCL sẽ nhận được nhiều lợi ích thực tế, đặc biệt là việc cải thiện sinh kế của người dân nghèo, hạn chế các tổn thất do thiên tai và biến đổi khí hậu, giảm nhẹ các áp lực tiêu cực do di cư thiếu kế hoạch lên các các đô thị và các khu công nghiệp lớn, bảo vệ tốt hơn môi trường và tài nguyên thiên nhiên và kiểm soát tốt hơn các tệ nạn và bất công xã hội.


• Mời xem thêm tại TBKTSG Online:


http://www.thesaigontimes.vn/Home/xahoi/doisong/78197/


Thứ Hai, 11 tháng 6, 2012

Ngày một mình



* Ngọc

Anh xâu lại buổi chiều rơi rụng
Đã lăn tròn trên bờ bãi hoang vu
Thành chuỗi hạt ngọc ngà thơ mộng
Vòng tay em âu yếm mịt mù




* Tắm

Trong dòng nước nóng
Anh nhìn thấy em
Tòa sen lấp lánh
Thân tâm bình an



* Ngủ

Rủ bỏ một ngày suy nghĩ
Một ngày hành hạ lẫn nhau
Những nô lệ và phi lý
Ta lang thang trôi tự do



* Đọc

Đánh dấu trang sách đọc dở
Bằng chuỗi hạt vừa xâu lại
Mười bốn giọt lệ đá núi
Thì thầm trò chuyện biển khơi



* Quên

- Chắc một ngày nào đó
Em quên hết mọi người

- Có những người đáng quên
Vì chẳng cần phải nhớ




 

Giải bài toán giống lúa IR 50404

GS.TS Bùi Chí Bửu
Vụ lúa hè thu năm nay, nhiều nơi bà con nông dân ĐBSCL vẫn thích gieo sạ giống lúa IR 50404. Có nơi làm gần 30% diện tích, có nơi lên tới 40% diện tích trong khi Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn khuyến cáo chỉ nên làm 10% diện tích vì giống này cho gạo phẩm cấp thấp, khó cạnh tranh với gạo xuất khẩu cùng cấp của Ấn Độ. Chúng tôi đã phỏng vấn GS.TS BÙI CHÍ BỬU, Viện trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, xoay quanh chuyện này…

* Thưa Giáo sư, vì sao giống lúa IR 50404 vẫn được nông dân sản xuất nhiều?
- GS.TS BÙI CHÍ BỬU: Giống lúa IR 50404 được nông dân sản xuất nhiều năm qua trên diện rộng vì giống này có thời gian sinh trưởng ngắn, 90-95 ngày khi gieo sạ thẳng; năng suất cao, dễ canh tác, nhẹ phân; khả năng quang hợp nhanh nên không bị lép; có thị trường cho nhà sản xuất bún, bánh tráng… Nhưng nhược điểm của giống lúa này là gạo có hàm lượng amylose cao nên cứng cơm và độ bạc bụng lớn không thích hợp với thị hiếu quốc tế; dễ bị gãy khi xay chà làm tỷ lệ gạo nguyên thấp, nhất là canh tác trong vụ hè thu; và giá trị thương phẩm rất thấp.
Giống IR 50404 tồn tại trong sản xuất một cách không mong muốn là câu chuyện dài của lúa gạo ĐBSCL. Khi nền nông nghiệp phát triển theo chiều rộng, có nghĩa là chúng ta phát triển nhiều về số lượng thì năng suất và sản lượng được nhấn mạnh hàng đầu. Chiến lược xuất khẩu gạo “trên cơ sở hạt lúa” bị xem nhẹ mà phổ biến là xuất khẩu “trên cơ sở hạt gạo” với chuỗi giá trị được phân ra quá nhiều công đoạn. Gạo ngon Jasmine, OM 4900 bị đánh đồng giá trị với gạo phẩm cấp thấp IR 50404, OM 576.
  
Ra thị trường thì thương lái trộn lẫn nhiều mẫu gạo làm mình không biết chắc đó là giống lúa gì. Chúng tôi là nhà chuyên môn về giống lúa nhưng khi ra chợ vẫn không thể phân biệt gạo đang bán xuất xứ từ giống lúa nào; với tên lạ hoắc qua hàng chục mẫu gạo ghi trên nhãn như gạo Đài Loan, gạo Mỹ, gạo Thái hương lài, gạo Lựa v.v… Nhưng cái lỗi này không phải do bà con nông dân.

* Như vậy liệu mô hình cánh đồng mẫu lớn đang làm có giúp thay đổi được thói quen sản xuất này hay không?
- Mô hình cánh đồng mẫu lớn là bài tập ban đầu để doanh nghiệp thay đổi chiến lược xuất khẩu gạo ngay từ hạt lúa. Có nghĩa là nông dân được giúp đỡ từ trên đồng ruộng, đến lúc thu hoạch, xử lý sau thu hoạch một cách bài bản. Giấc mơ thương hiệu gạo Việt chắc chắn sẽ thành hiện thực. Cái cốt lõi của vấn đề chính là tổ chức lại sản xuất từ qui mô nông hộ nhỏ thành trang trại lớn, hợp tác hóa hiện đại.
Bây giờ là lúc nông nghiệp Việt Nam chuyển mình sang phát triển theo chiều sâu. Có nghĩa là chất lượng cao và tính cạnh tranh của nông sản lớn là yếu tố quyết định đến sự giàu nghèo của bà con nông dân.

* Nhưng sao ta không xuất khẩu gạo IR 50404 với giá cạnh tranh với Ấn Độ?  
- Gạo phẩm cấp thấp có thị trường lớn trên thế giới, nhưng tính chất cạnh tranh khá quyết liệt khi kho dự trữ gạo đã tăng trên 140-160 triệu tấn/năm. Mà khả năng lưu kho của ta hiện chưa tới 2 triệu tấn/năm. Trong khi gạo lưu thông trên thị trường quốc tế ở mức trên dưới 30 triệu tấn/năm. Bây giờ Ấn Độ, Myanmar và các nước khác vào cuộc, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn về cạnh tranh giá. Đây chỉ là lý do trước mắt. Về lâu dài, Việt Nam phải xuất khẩu gạo phẩm cấp trung bình - cao mới giúp cho nông dân cải thiện bài toán thu nhập thấp từ rất nhiều năm qua. Nghĩa là nếu mãi xuất khẩu gạo phẩm cấp thấp thì nông dân vẫn tiếp tục nghèo.

* Vậy nhà khoa học có bảo đảm đủ các giống lúa tốt hơn thay cho giống IR 50404 không?
- Chúng ta có bộ giống lúa mới thay thế IR 50404, đáp ứng yêu cầu thị trường mới, hấp dẫn về giá và tăng thu nhập cho nông dân thực sự; chứ không phải xuất khẩu chỉ tăng thu nhập cho doanh nghiệp vì không có sự phân phối lại một cách công bằng thì nông dân nghèo vẫn nghèo. Đó là giống OM 4900 (gạo thơm), OM 6162, OM 6161 cho vùng Tây sông Hậu, chịu hạn, OM 6677 cho vùng đất phèn, OM 4498, OM 6976 cho vụ hè thu vốn rất kén giống và chịu mặn; giống OM 7347 (Cần Thơ 1) rất thích hợp cho vùng Cần Thơ nhờ phẩm chất gạo trắng hạt dài hơn hẳn Pathum Thani 1 của Thái Lan, hoặc bộ giống ST của Sóc Trăng. Đây mới là thế mạnh của hạt gạo Việt Nam.


* Sắp thu hoạch vụ hè thu 2012, rồi lại chuyển sang một vụ lúa mới, Giáo sư có khuyến cáo gì với bà con nông dân không?
- Nếu có lời khuyên cho bà con nông dân, tôi xin nói rằng bà còn nông dân hãy mạnh dạn đổi mới giống lúa mới đang được Cục Trồng trọt, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia khuyến cáo cho từng mùa vụ, cho từng chân đất, để thực hiện mục tiêu phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, để luôn luôn được an tâm với bốn chữ “trúng mùa, được giá”.
 
* Xin cảm ơn Giáo sư.


* Mời xem thêm tại Báo Cần Thơ:
http://baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&id=107124