Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Nước và văn hóa chia sẻ ở ĐBSCL



Nước là của trời đất, nước không là của riêng ai, nên nước phải được chia sẻ. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ



Dương Văn Ni


(TBKTSG) - Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ lúc mở mắt chào đời là đã thấy nước. Mọi người đều tin nước là của trời đất, nước không là của riêng ai, nên nước phải được chia sẻ.

Các hoạt động sinh kế của người dân nơi đây đều dựa trên nguồn nước. Người nghèo thì dựa vào mùa nước nổi để mò cua, bắt ốc hay giăng lưới, thả câu; người có đất đai thì tận dụng nguồn nước để trồng lúa, trồng màu, nuôi tôm, cá.

Từ muôn đời trước, người dân ĐBSCL xem nước và đất là một. Nơi nào có đất, có nước là có người cất nhà, khai khẩn đất hoang và canh tác sản xuất. Từ đó, đi đâu cũng thấy nhà cửa cất san sát dọc theo sông rạch, kênh đào. Nơi nào mùa nước nổi không ngập sâu thì cất nhà trệt, nơi nào ngập sâu thì cất nhà sàn. Ghe xuồng đậu ngay dưới sàn nhà vừa tiện cho việc đi lại vừa để tránh mưa tránh nắng.

Các hoạt động vui chơi, giải trí của cộng đồng cũng gắn liền với sông nước. Lễ hội đua ghe ngo của người Khmer dần dà cũng biến thành lễ hội trong khu vực và nó đã hấp dẫn đông đảo người dân bốn phương tụ tập về ĐBSCL.

Những khi ưu tư phiền muộn, những lúc làm ăn thất bát hay con cái thường xuyên ốm đau, người ta cũng nhờ dòng nước mang đi những điều xui xẻo. Đồ cúng kể cả nhang đèn đều đặt trên một cái bè làm bằng thân cây chuối có trang trí xanh đỏ cờ hoa, rồi đem thả xuống sông, gọi là cúng hà bá!

Ngày xưa phương tiện giao thông ở ĐBSCL chủ yếu là ghe xuồng và người dân chỉ sử dụng sức người để chèo chống. Vì vậy mà người ta thuộc lòng là khúc sông nào vào mùa nào thì nước ròng hay nước lớn, để nương theo dòng nước mà đi, đỡ tốn công chèo chống. Nhưng đôi khi cũng bị lỡ con nước, đành phải neo ghe lại chờ và người ta thường tụ họp trao đổi hàng hóa, chia sẻ kinh nghiệm sống với nhau, rồi dần biến những nơi này thành chợ. Nơi nào có nhiều kênh rạch gặp nhau là nơi đó có chợ, như chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ, chợ Ngã Bảy ở Phụng Hiệp, Hậu Giang. Nơi nào sông, lộ gặp nhau cũng biến thành chợ.

Cũng giống như con người, nguồn nước của ĐBSCL cũng thường xuyên tìm cách “họp chợ”. Nhờ các dòng sông, lớn nhất như sông Tiền, sông Hậu đến những luồng lạch chằng chịt khắp nơi, giống như mạch máu trong cơ thể con người hay như cành nhánh chi chít của một cái cây. Nhờ hệ thống sông rạch đó mà cả ba nguồn nước là nước mặt, nước mưa, và nước mặn hòa lẫn với nhau. Mùa khô thì nước chảy theo luồng, theo lạch còn mùa mưa thì vượt bờ vượt đồng chảy tràn lan. Nhờ đó mà hạt phù sa li ti, hạt các loại cây cỏ, và con tôm, con cá cũng theo dòng nước mà đi, muốn đến nơi nào thì đến.

Chúng ta đã quên mất cái vai trò “liên kết” của nước. Nước không chỉ liên kết về mặt môi trường sinh thái mà còn là liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa các cộng đồng và giữa các quốc gia.
Nhưng thật ra, trong dòng chảy tự do đó không phải là không có những quy luật. Chẳng hạn, nước chỉ chảy vào nơi nào trũng; hạt phù sa chỉ lắng đọng khi nước chảy chậm dần; hạt cây cỏ nảy mầm ở nơi nào đất đai màu mỡ; tôm cá chọn nơi đủ nước và thức ăn; và cuối cùng là con người, chọn nơi mà trước đó từng dòng nước, từng hạt phù sa, hay tôm cá đã chọn! Sự tự do chính là bản chất của dòng nước và con người ở ĐBSCL.

Sự hòa quyện giữa đất - nước - con người qua hàng trăm năm đã ngấm sâu vào máu thịt người dân ở ĐBSCL để tạo cho họ có được bản chất tự do, nghị lực bền bỉ và tinh thần bất khuất. Kinh nghiệm sống quý báu đó đã được người xưa đúc kết và truyền lại cho con cháu đời sau bằng những câu nói đậm tính dân gian như: “Nước chảy, đá mòn” hay “tức nước, vỡ bờ”.

Dù chỉ là kinh nghiệm truyền miệng trong dân gian, nhưng những câu nói đó chứa đầy triết lý giáo dục con người trong tu luyện bản thân, xử sự đối với người khác cũng như đối với thiên nhiên. Đặc biệt là không bao giờ được “ngăn sông, cấm chợ” bởi vì nó trái với tinh thần tự do mà thiên nhiên và con người ở ĐBSCL đã dày công xây đắp.

Ngày nay, cái văn hóa chia sẻ nguồn nước đã phần nào bị mai một! Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích chuyện này, như các phương tiện khoa học đã dần thay thế cho những kinh nghiệm truyền thống.

Người nuôi tôm sú thì chỉ quan tâm đến nước mặn, người dân thành phố và doanh nghiệp xài nước máy, nước giếng thì quên chuyện còn hàng ngàn hộ nghèo hàng ngày phải sử dụng nước sông.

Như một hệ quả tất yếu, mỗi bên đều chọn cho mình giải pháp an toàn và có lợi nhất về nguồn nước. Người nuôi tôm sú tìm cách giữ nước mặn trong vuông mình càng lâu càng tốt nên đất đai dần dần bị mặn thấm xuyên qua đê và làm cho cả khu vực bị mặn hoàn toàn. Người dân trồng lúa sống trong khu vực này thì hoặc là phải chuyển qua nuôi tôm, hoặc là phải sang bán đất đai để chuyển đi nơi khác. Nước thải, rác thải của các khu đông dân cư cứ nhắm dòng sông mà đổ xuống; doanh nghiệp thì đặt ống chìm ống nổi để xả lén chất thải xuống sông nhằm giảm bớt chi phí sản xuất.

Khi mà cái văn hóa chia sẻ nguồn nước không còn thì những người nghèo là đối tượng bị ảnh hưởng và tổn thương nhiều nhất. Trước tiên là nhóm người sống nhờ vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như mò cua bắt ốc, câu lưới, lọp lờ với sản phẩm thu hoạch càng ngày càng ít đi, không đủ bù đắp cho sức lao động đã bỏ ra. Rồi đến nhóm nông dân bị tổn thất trong sản xuất như hoa màu, cây trái, vật nuôi bị ngộ độc nguồn nước mà chết hàng loạt. Tác động âm thầm và dai dẳng nhất là nguồn nước ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Đây là nguồn lực duy nhất để họ có thể kiếm sống hàng ngày. Thiếu sức khỏe thì con đường thoát nghèo của người dân hoàn toàn bị bế tắc!

Sự mất mát về vật chất thì còn có thể cân đo đong đếm, nhưng tổn thương tâm hồn và mất mát văn hóa mới là điều to tát nhất của một con người.

Những nỗ lực để gầy dựng lại cái văn hóa chia sẻ thông qua nguồn nước và cộng đồng thì cần có thời gian để đúc kết và đánh giá. Tuy nhiên với những gì đã và đang xảy ra ở ĐBSCL thì e rằng mục tiêu cần đạt sẽ còn rất xa.

Việc xây dựng những bờ kè kiên cố ven sông của các thành phố đang làm mất khả năng trao đổi nước trong đất và dòng sông; hậu quả là làm cho thành phố ẩm ướt hơn, dễ dàng ngập lụt hơn và lún sụt nhanh hơn. Việc xây dựng những cống đập, đê biển kiên cố làm gián đoạn sự trao đổi của dòng nước ngọt, mặn giữa đất liền và biển; để rồi phần bên trong đê ô nhiễm tích lũy nhiều hơn, phần ngoài đê rừng ngập mặn bị chết lần chết mòn; các cửa sông, rạch thì do dòng chảy bị chặn, nước mặn không vào được nên lục bình phát triển dày đặc, giao thông thủy trở nên khó khăn hơn.

Chung quy là vì chúng ta đã quên mất cái vai trò “liên kết” của nước. Bởi vì nước không chỉ liên kết về mặt môi trường sinh thái mà còn là liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau nhờ vào phong tục tập quán, liên kết giữa các cộng đồng sống rất xa nhau nhờ vào giao thương kinh tế, và nói rộng hơn là liên kết giữa các quốc gia nhờ vào việc sử dụng cùng một dòng sông. Vì vậy, nếu cái văn hóa chia sẻ bị mai một, thì “tình làng, nghĩa xóm” giữa các cá nhân trong một cộng đồng ắt sẽ phai nhạt; xung đột lợi ích giữa các cộng đồng sẽ trở nên gay gắt và bất ổn trong toàn khu vực do mâu thuẫn giữa các quốc gia là điều khó tránh khỏi!

Tài liệu tham khảo:

Phạm Duy Tiễn và Dương Văn Ni, 2014. A wise use of flood water resource at The Mekong Delta of Vietnam, overview paper Spate Irrigation # 11, www.spate-irrigation.org


Bài đã đăng tại:
http://www.thesaigontimes.vn/143634/Nuoc-va-van-hoa-chia-se-o-DBSCL.html


Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

Không nên sạ lúa hè thu khi Trung Quốc xả nước!



(TBKTSG Online) – "Không nên khuyến khích sạ lúa hè thu trước thông tin xả đập từ Trung Quốc" - đó là khuyến cáo của nhiều chuyên gia khi trao đổi với TBKTSG Online trước sự kiện có nhiều cán bộ nông nghiệp và nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang chuẩn bị đất và mạ để gieo trồng vụ lúa hè thu vì tin chắc là Trung Quốc xả nước thủy điện sẽ đẩy lùi được hạn, mặn.

Trao đổi với TBKTSG Online vào sáng nay 19-3, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó giám đốc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) cho biết: “Căn cứ vào diễn biến thuỷ văn ở các trạm đo các ngày trước, vẽ lên biểu đồ Excel, ta cũng có thể biết thời gian truyền nước từ trạm Chiang Sean về đến Tân Châu là 17 ngày, đến Châu Đốc là 18 ngày. Do phía Trung Quốc không cung cấp số liệu thuỷ văn ở trạm Cảnh Hồng (Jinghon) nên từ đây có thể ước đoán lượng nước xả từ thuỷ điện Cảnh Hồng về đến bien giới Việt Nam - Campuchia khoảng 21 ngày, và đến các vùng ven biển sẽ mất thêm 3-4 ngày nữa”.

Hình 1: Biểu đồ diễn biến thuỷ văn trên sông Mekong từ Chaing Sean đến Tân Châu và ChâuĐốc.

Cung cấp cho chúng tôi biểu đồ xả nước đợt 3 này (xem biểu đồ hình 1), PGS. TS Lê Anh Tuấn nhận định: “Biểu đồ cho thấy việc xả nước từ thuỷ điện Cảnh Hồng không có tác dụng làm gia tăng mực nước ở đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu tại Tân Châu (Đồng Tháp) và Châu Đốc (An Giang)”.

“Tôi vừa xem số liệu mực nước trạm Chiang Sean ngày 18-3 thì lại thấy mực nước đang giảm, chứng tỏ Trung Quốc không xả nước liên tục. Việc xả nước này cũng không phải là tăng cường cho ĐBSCL vì những ngày trước đó Trung Quốc có xả nước nhiều hơn để phát điện (xem hình 2). Nói cách khác, thực tế là Trung Quốc chỉ xả cầm chừng và gián đoạn. Với kiểu xả nước như vậy thì mục tiêu xả nước cứu hạn cho ĐBSCL sẽ mang tính "chính trị" nhiều hơn ý nghĩa chống hạn mặn”, PGS.TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh.

Hình 2: Biểu đồ xả nước theo dõi mực nước tại trạm Chaing Sean. Nguồn: Trạm Quan trắc thủy văn ĐBSCL
TS Dương Văn Ni, Trưởng Bộ môn Quản lý môi trường (khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên - Đại học Cần Thơ), trả lời email với chúng tôi, phân tích: “Chế độ thủy văn của sông Mekong là khi có nguồn nước (nước mưa, nước tan băng) thì nó sẽ bão hòa các tầng đất khô, lấp đầy các vùng trũng phía thượng nguồn trước khi chảy nhiều về phía hạ lưu. Ai cũng biết là đầu mùa mưa, nước sông Mekong chủ yếu chảy vào Biển Hồ, một số rất ít chảy xuống ĐBSCL, đến khi gần cuối mùa mưa thì Biển Hồ đã chứa đầy nước và lúc này lượng nước trên sông Mekong mới chảy nhiều về ĐBSCL”.

TS Dương Văn Ni cho biết tiếp: “Vì vậy, giả sử hiện nay Trung Quốc có xả một lượng nước đủ lớn như là vào đầu mùa mưa, thì lượng nước này cũng sẽ chảy vào các vùng trũng (wetlands) ở phía thượng nguồn trước, trong đó có Biển Hồ, và chỉ một ít chảy xuống ĐBSCL thôi”.

“Việc Trung Quốc sốt sắng xả nước thủy điện là một động thái tích cực của nước láng giềng, nhưng chúng ta không nên trông đợi lượng nước đó sẽ cứu hạn, mặn cho ĐBSCL, để tránh những quyết định chưa chính xác”, TS Dương Văn Ni khuyến cáo.

Hiện nay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang triển khai thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại hội nghị ngày 17-2 với các tỉnh ĐBSCL về ứng phó với hạn, mặn. Trong đó, giải pháp trước mắt với cây lúa, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý với ngành nông nghiệp là lùi thời hạn gieo sạ vụ hè thu tới đầu mùa mưa; ngoài ra, nơi nào không có đủ nước ngọt thì không nên làm lúa và ở những vùng ven biển chỉ nên tập trung nuôi trồng thủy sản.


Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/143783


Thứ Năm, 17 tháng 3, 2016

Không ai qua sông của Nguyễn Ngọc Tư




Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư tự giới thiệu về tập truyện ngắn mới nhất của mình: “Chuỗi truyện về những con người không biết và không muốn buông bỏ. Sống và chết trong sân hận, vướng bận, cùng với những tổn thương, sang chấn không sao nhìn thấy bằng mắt thường”. Và: “Thuyền đã sẵn, nhưng không ai qua sông”. 

Ở bìa bốn, NXB Trẻ giới thiệu với bạn đọc: “Một xóm Nhơn Thành hư hư thực thực… người chết và người sống, bằng cách nào đó, sẽ song hành cùng nhau. Một xã hội thu nhỏ, với lòng tham, thù hận và sức phản kháng… Tất cả được kể bằng giọng điệu thản nhiên và bông lơn. Sự dữ dội của câu chuyện cứ tăng dần cho đến lúc người đọc khép sách lại”.

Khép sách lại, tôi vẫn còn bị ám ảnh câu chuyện của nhân vật Nhí trong truyện ngắn Lời yêu. Đó là đời một cô gái quê lấy chồng Hàn Quốc; ngày đi, phơi phới, ngày về, là nắm tro tàn trong giỏ xách tay của mẹ. Truyện mở đầu: “Nhí quay lại Nhơn Thành, người trong xóm ra trước nhà chờ đón. Mẹ Nhí đi cùng con cả một đoạn đường dài, không biết trên máy bay có khóc, nhưng đến đầu xóm mặt giăng một màn nước mắt, chân bước hụt bước hao. Ai cũng kêu mau quá, đám gã Nhí như mới đây thôi, bữa đó nó còn giòn rụm nói cười, hát “60 năm cuộc đời”, giờ thành tro nguội bụi lạnh”. Gần cuối truyện, là đoạn văn này: “…Tụi con gái trong xóm đi tìm những anh Hi-ếc khác. Ngay cả Nhí, người ra đi đầu tiên đã trở về, trong giỏ mẹ. Bà vẫn băn khoăn con nhỏ bốn mưới bảy ký, giờ sao chỉ còn vài nắm, không biết người ta có đốt sót mẩu nào không”.

Không ai qua sông vừa được NXB Trẻ in lần đầu 30.000 cuốn, giá bìa 80.000 đồng; gồm 13 truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư sáng tác trong vòng hai năm qua. Sách đã có mặt tại các hiệu sách trong nước và sẽ tham gia Hội sách TP.HCM 2016 vào cuối tháng 3 này.


• Bài đã đăng báo Thanh Niên Thứ Hai, 14-3-2016:



Thứ Tư, 16 tháng 3, 2016

Hạn, mặn ở ĐBSCL: Có nên trông chờ vào thuỷ điện TQ?



Lê Anh Tuấn (*)


(TBKTSG Online) - Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) đang đối mặt với trận khô hạn nặng nề nhất trong khoảng 100 năm qua. Nước mặn theo thủy triều từ Biển Đông và Biển Tây đang một ngày tiến sâu hơn vào đất liền làm ít nhất 40% diện tích tự nhiên vùng đồng bằng bị xâm nhập mặn.

Diện tích lúa bị thiệt hại ở nhiều địa phương tăng lên rất nhanh. Trong ảnh là một ruộng lúa bị ảnh hưởng bởi hạn, mặn ở ĐBSCL. Ảnh: Trung Chánh

Đã có ít nhất 8 tỉnh ở ĐBSCL công bố thiên tai xâm nhập mặn. Nhiều nơi như Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang người dân chưa hề quen với hơi mặn của nước biển, nay bắt đầu nhận thấy vị lờ lợ cuả muối trong nguồn nước. Rất nhiều cuộc họp khẩn trương bàn biện pháp giải cứu hạn – mặn. Các phương tiện truyền thông cả nước gần như hằng ngày đã liên tục cập nhật tình hình khô hạn này. Cũng khá nhiều nhà khoa học tìm cách lý giải nguyên nhân của hiện tượng khô nóng bất thường như năm nay, cả lập luận nghiêng về thiên tai lẫn nhân tai, hoặc cả hai.

Một thông tin mới nhất là ngày 14-3 vừa qua, Phó Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Phạm Thu Hằng, cho biết Việt Nam đã đề nghị phía Trung Quốc gia tăng lưu lượng xả nước từ thủy điện Cảnh Hồng (Vân Nam, Trung Quốc) xuống hạ lưu sông Mê Kông để khắc phục tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn tại một số tỉnh ĐBSCL. Lượng nước xả theo yêu cầu là nhiều đợt từ tháng 3 đến tháng 6, tháng 8, mỗi đợt kéo dài khoảng 7 ngày với lưu lượng tối thiểu là 2.300 m3/s.

Thông tin ngày 16-3 của phát ngôn viên Lục Khảng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, do Xinhua dẫn tin, cho biết họ sẽ xả nước từ hồ chứa Nhà máy Thuỷ điện Cảnh Hồng từ ngày 15-3 tới ngày 10-4. Thông tin không nói rõ là Trung Quốc sẽ xả bao nhiêu nước và có phải xả liên tục hay gián đoạn trong khoảng thời gian trên. Thực tế xưa nay, tin tức và số liệu thủy văn từ phía Trung Quốc bao giờ cũng là những con số rời rạc và mơ hồ cho các nước phía hạ nguồn sông Mê Kông như vậy.

Đoạn thượng nguồn sông Mê Kông, theo tên gọi của Trung Quốc là sông Lan Thương (Lancang), đóng góp hằng năm khoảng 21% tổng lượng nước xuống vùng trung và hạ lưu sông Mê Kông, trong đó phân bố xấp xỉ 16% vào mùa mưa và 24,1% vào mùa khô (số liệu của MRC, 2003). Xin lưu ý đến con số 21% này!

Đập nước của nhà máy thủy điện Cảnh Hồng (Jinghon) thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc là đập thủy điện gần Lào nhất hiện nay, phía trên đó còn năm đập nước khác trong chuỗi 14 đập thủy điện mà Trung Quốc có kế hoạch phát triển ở vùng này.

Đập Cảnh Hồng cao 108 mét, có chiều dài 705 mét, ngăn sông Lan Thương. Hồ chứa của nhà máy thủy điện này có diện tích mặt thoáng khoảng 510 km2, dung tích hữu dụng để phát điện là 249 triệu mét khối nước. Nhà máy vận hành với chế độ điều tiết theo mùa, nghĩa là nước sẽ được tích chủ yếu vào mùa mưa và sẽ sử dụng dần vào mùa khô trong năm theo một lịch vận hành dựa vào nhu cầu sử dụng điện của Trung Quốc. Hiện nay, hầu hết các hồ chứa thủy điện ở vùng Vân Nam đang trong tình trạng ít nước do ảnh hưởng của hiện tượng El Nino hoành hành ở cả khu vực Đông Nam Á và một phần phía Tây Nam Trung Quốc.

Giả sử hồ chứa Cảnh Hồng đang trong tình trạng lý tưởng là đầy nước tối đa với dung tích phát điện là 249 triệu m3 nước, nếu xả theo yêu cầu của Việt nam là tối thiểu 2.300 m3/s thì chỉ sau 30 giờ là cạn hồ. Như vậy chỉ sau hơn một ngày xả nước là hồ hết nước, lấy đâu ra mà xả tiếp mấy ngày sau như yêu cầu xả nước 7 ngày liên tiếp? Lưu lượng đến hồ Cảnh Hồng hiện nay rất ít. Do vậy mong đợi việc xả nước thủy điện từ đập Cảnh Hồng để cứu hạn cho ĐBSCL là rất mong manh.

Việc Bộ Ngoại giao Việt Nam yều cầu Trung Quốc xả lũ cứu hạn mặn ở ĐBSCL, theo tôi, đây là việc "lợi bất cập hại" vì các lý do sau:

1 - Chắc gì Trung Quốc không lợi dụng yêu cầu này để tuyên truyền theo kiểu là thủy điện của họ đã cứu người dân ĐBSCL và các nước hạ lưu Mê Kông? Nếu Trung Quốc xả nước, chắc chắn là họ xả cầm chừng, cho có lệ, vì họ cũng cần nước để phát điện cho các tháng mùa khô kế tiếp.

Và với hơn 4.000 km từ đó xuống ĐBSCL, chẳng lẽ Thái Lan, Lào, Campuchia không "hớt" trước lượng nước chảy qua lãnh thổ của họ trước khi nước đến được vùng ven biển ĐBSCL? Các vùng trũng, dòng nhánh, khu Biển Hồ, các vùng đất ngập nước rất rộng lớn dọc theo lưu vực sẽ tiếp tục gom các nước còn thừa, dòng chảy đến ĐBSCL còn được bao nhiêu?

2 - Hầu hết các vùng canh tác lúa, hoa màu hiện nay ở ven biển đã bị thiệt hại gần hết rồi, đưa một lượng nước ít ỏi như vậy vào chẳng cứu được bao nhiêu và không còn ý nghĩa nữa. Nếu như sau thời gian 10-4, Trung Quốc không xả nước tiếp nữa (vì thời gian này trong khu vực hoàn toàn không còn có giọt mưa nào, ít nhất cho đến đầu tháng 5) thì việc khô hạn sẽ lập lại nặng nề hơn.

Ở nhiều nước khác, kể cả những quốc gia phát triển trên thế giới như Mỹ, Úc, … khi có hiện tượng khô hạn nặng xảy ra, họ đều chấp nhận sự thiệt hại, không dùng mọi biện pháp tốn kém quá mức để chuyển nước từ những khác đến để cứu hạn hán vì lúc đó hiệu quả kinh tế rất thấp, không có ý nghĩa. Các nước này đều có những quỹ phòng tránh thiên tai và cứu trợ khẩn cấp, các quỹ này thực tế là nguồn thuế đóng góp của người dân từ nhiều năm được mùa, làm nên ăn ra, dùng cho những năm khó khăn, thiên tai.

Trong hoàn cảnh Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng, khô hạn và xâm nhập mặn năm nay, dù rất nghiêm trọng nhưng cũng là cơ hội, là một thước đo kinh nghiệm để rà soát lại chính xác những phỏng đoán biến đổi khí hậu và nước biển dâng, những đánh giá trước đó về những tác động mọi mặt của chuỗi các đập thủy điện ở thượng nguồn và phân tích tính hiệu quả của những công trình thủy lợi như thoát lũ ra Biển Tây, ngọt hóa vùng ven biển, công trình đê biển, mở rộng đê bao tăng diện tích lúa ba vụ ở hai hồ chứa nước lũ tự nhiên lớn nhất của vùng châu thổ Cửu Long là Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười cũng như việc thu hẹp các vùng đất ngập nước quý giá.

Việc suy nghĩ chuyển đổi chủ trương sản xuất lúa, màu hoặc các phương án sản xuất tiêu thụ nhiều nước qua nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn cũng rất cần nghiêm túc xem xét, cả về chính sách, kinh tế - kỹ thuật và điều kiện xã hội cho người dân.

(*) Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu – Đại học Cần Thơ


Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/143651

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Phản biện MDS




Đắp đê cứu lúa trong mùa lũ ở An Giang.



(TBKTSG) - Báo cáo Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông (MDS)* hiện đang chờ được Chính phủ thông qua.

Tuy nhiên, tại hội thảo khoa học “Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mêkông” do Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (Đại học Cần Thơ) và Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh - GreenID tổ chức vào cuối tuần qua, nhiều chuyên gia đã phân tích về tính thiếu thực tiễn của báo cáo này.


Thiếu biển, thiếu con người




TS. Dương Văn Ni, Trưởng bộ môn Quản lý môi trường - khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (Đại học Cần Thơ), nêu rõ quan điểm vì sao ông tham gia phản biện MDS: “Việc các nước ở thượng nguồn sông Mêkông xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính có thể ảnh hưởng đến vùng châu thổ sông Mêkông bao gồm ĐBSCL. Nhận thức rõ điều này nên Chính phủ Việt Nam đã đặt hàng cho tổ chức tư vấn quốc tế DHI thực hiện nghiên cứu này. Vì vậy, một khi kết quả của báo cáo MDS được Chính phủ Việt Nam thông qua, nó có ý nghĩa khoa học và pháp lý và cũng như ý nghĩa đây là quan điểm chính thức của Chính phủ Việt Nam về các đập thủy điện đối với các quốc gia trong lưu vực sông Mêkông và trên thế giới”.

Phản biện về mảng đa dạng sinh học trong MDS, ông Ni cho biết khi chọn khu vực địa lý để nghiên cứu, các tác giả chỉ chọn vùng ngập lụt. Trong khi mặc dù không ngập lụt hàng năm nhưng các vùng khác của ĐBSCL lại có tác động trao đổi vì cùng hệ sinh thái. “Nghiêm trọng hơn là tác giả báo cáo loại bỏ phần diện tích biển tiếp giáp đất liền, đây là phần hoàn toàn thuộc hệ sinh thái ĐBSCL. Vì hàng năm nước biển xâm nhập đất liền trong mùa nắng và nước sông mang nước ngọt và phù sa ra biển vào mùa khô. Ở vùng này, sự trao đổi vật chất xảy ra nhiều hơn vùng ngập lụt theo mùa”, ông Ni phân tích.

Về việc MDS chọn nhóm loài để đánh giá tác động đối với đa dạng sinh học, ông Ni cũng cho là “chưa chính xác vì các loài này không đại diện cho sự phong phú của đa dạng sinh học vùng ĐBSCL”.

Ông Ni nhấn mạnh: “Việc chọn diện tích để đánh giá tác động này đã làm ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả liên quan, trong đó có đa dạng sinh học. Vì diện tích đã chọn nhỏ hơn so với thực tế nên thuật ngữ “hệ sinh thái” trong báo cáo MDS không còn chính xác. Đặc biệt là những tác động trong báo cáo này có giá trị nhỏ hơn rất nhiều so với thực tế”.

GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, nhiều lần nói đến việc MDS bỏ qua các yếu tố biển, con người, biến đổi khí hậu và nước biển dâng. “Tác động của các đập thủy điện lên châu thổ Mêkông không thể tách rời tác nhân biển và tác nhân con người. Mặt khác, tác động của các đập không chỉ tức thì, trước mắt, mà còn tích lũy theo thời gian. Vì vậy không thể tách rời yếu tố biển đổi khí hậu, nước biển dâng”, GS. Trân nhấn mạnh.

Dẫn chứng về việc xói lở, GS. Trân cho rằng tốc độ xói lở và bồi đắp ngày càng bị tác động không chỉ do sụt giảm lượng phù sa về đồng bằng, mà còn do ảnh hưởng của nước biển dâng và khai thác nước ngầm quá mức. Đáng tiếc là “MDS chưa phân tích chi tiết các biến động này”.

Về sản xuất nông nghiệp, GS. Trân bức xúc: “Tôi cho rằng với cả ba tiêu chí sản lượng, diện tích canh tác và thời vụ, đánh giá của MDS là không đáng tin cậy, kết quả mô phỏng trên máy tính khác rất xa thực tế, cần được đánh giá lại. Bởi lẽ các kết quả mô phỏng là phiến diện, ngắn hạn, không tính đến đất tích lũy vì thiếu phù sa và những tác động dây chuyền”.


Thiếu hiểu biết thực tế 


Nhận xét chung về báo cáo MDS, ThS. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái, cho biết: “Chất lượng của nghiên cứu MDS, về khung nghiên cứu, phương pháp và kết quả như hiện nay là chưa đạt độ tin cậy. Báo cáo thiên về đơn giản hóa vấn đề, đánh giá thiếu và thấp các tác động đối với ĐBSCL. MDS chủ yếu dựa vào mô hình máy tính. Bản báo cáo cho thấy MDS thiếu hiểu biết thực tế về ĐBSCL và thiếu dữ liệu đầu vào”.

Ông Thiện dẫn chứng: “Ví dụ MDS nói mũi Cà Mau hiện nay đang vươn ra khoảng 20-100 mét/năm là không đúng thực tế”. MDS cũng dự báo 11 đập thủy điện này sẽ gây sạt lở 4-12 mét/năm với vùng cửa sông và sạt lở rất thấp, ít hơn 0,5 mét/năm với vùng biển phía Nam (từ Sóc Trăng xuống) nhưng “không rõ MDS tính toán các con số này như thế nào”.

Về nông nghiệp, ông Thiện nói MDS đơn giản hóa và đánh đồng phù sa với phân bón. “MDS chọn hai loại cây để đánh giá là lúa và bắp trong khi chính MDS thừa nhận sản lượng bắp không đáng kể (250.000 tấn/năm) và bỏ qua cây ăn trái ĐBSCL chiếm 80% sản lượng cả nước”. Và: “MDS sử dụng phần mềm Excel để quy đổi sự giảm năng suất lúa tại 1.596 xã ở ĐBSCL thông qua các yếu tố N, P, K trong phân bón mà bỏ qua dinh dưỡng do phù sa đem lại. MDS không thấy rằng ĐBSCL có được sự màu mỡ và là vựa lúa chính của Việt Nam là nhờ sông Mekông và sự thiếu phù sa này sẽ dẫn đến suy thoái đất”.

Về sinh kế, ông Thiện phân tích: “Cách phân vùng nghiên cứu của MDS nhầm lẫn: xếp Tam Bình (Vĩnh Long) vào vùng ngập sâu, chung với Hồng Ngự (Đồng Tháp); vùng nước ngọt, độ phèn cao lại bao gồm cả biển Đông ở Bạc Liêu và một phần Cà Mau cùng toàn bộ vùng biển Tây thuộc Kiên Giang. Việc phân loại vùng nhầm lẫn sẽ đưa đến kết quả phân tích nhầm lẫn giữa các vùng”.

Với mảng kinh tế, ThS. Nguyễn Hữu Thiện cho rằng MDS thiếu toàn diện và sai số: “MSD sử dụng con số của năm 2007 để làm nền tính toán (thí dụ giá cá trắng 35.000 đồng/ki lô gam và giá cá đen 18.000 đồng/ki lô gam)”. Và: “Nhầm lẫn số liệu thủy sản nội địa và thủy sản biển khi cho rằng Kiên Giang đứng đầu về thu nhập từ thủy sản, Bạc Liêu nhì, Cà Mau ba”.  Ông còn cho biết: “Ngoài ra không hiểu tại sao MDS lại chọn cá lau kiếng là một trong 10 loài có giá trị kinh tế nhất ĐBSCL chịu tác động của đập thủy điện trong khi đó là cá ngoại lai, không có giá trị?”.

Ông Thiện nói MDS không thấy được đất và nước là hai trụ cột chính của nền kinh tế ĐBSCL nên đã làm đơn giản hóa bức tranh tác động của đập thủy điện đối với ĐBSCL. “Vì tất cả lý do trên, kết luận của MDS rằng các đập thủy điện sẽ gây tổn thất 2,2% GDP ĐBSCL và 0,3% GDP cả nước (tương đương 85 triệu đô la Mỹ xuất khẩu gạo) là không đáng tin cậy”, ThS. Nguyễn Hữu Thiện nhấn mạnh.


* * *

Kết thúc bản báo cáo dài 22 trang chủ đề “Các vấn đề xuyên biên giới do tác động thủy điện ở thượng nguồn sông Mêkông”, PGS.TS. Lê Anh Tuấn, Phó giám đốc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu, đề nghị do tầm quan trọng của ĐBSCL, báo cáo MDS cần có sự đánh giá rộng rãi hơn từ cấp Chính phủ, Quốc hội, các tỉnh ĐBSCL, các nhà khoa học am hiểu về châu thổ, các nhà báo, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. Theo ông Tuấn: “Ủy ban Sông Mêkông Việt Nam và Bộ Tài nguyên và Môi trường cần cầu thị với tất cả phản hồi và góp ý kiến để điều chỉnh báo cáo. Không đi tiếp giai đoạn tới (đề xuất giải pháp tác động) khi những giai đoạn trước đó chưa thông”.

Trong khi đó, GS.TS. Nguyễn Ngọc Trân kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường phải có báo cáo tài chính về dự án và Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phải yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường giải trình về dự án.


(*) Báo cáo MDS là dự án cấp quốc gia trị giá 4,3 triệu đô la Mỹ do Bộ Tài nguyên và Môi trường và Ủy ban Sông Mêkông Việt Nam chủ trì, thuê hai đơn vị tư vấn DHI (Đan Mạch) và HDR (Mỹ) thực hiện.

________________________________
Bài đã đăng tại:

Thứ Ba, 8 tháng 3, 2016

KIẾN NGHỊ XEM LẠI Báo cáo tác động của thủy điện trên sông Mekong (Mekong delta study - MDS)




Ngày 4-3, các chuyên gia dự hội thảo khoa học "Tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong" tổ chức tại Đại học Cần Thơ, đã đồng loạt kiến nghị phải xem xét lại Báo cáo Nghiên cứu tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mekong (Mekong delta study - MDS).

KIẾN NGHỊ

Đây là dự án cấp quốc gia, trị giá 4,3 triệu đô-la Mỹ, do Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) và Ủy ban sông Mekong Việt Nam chủ trì, thuê đơn vị tư vấn DHI (Đan Mạch) thực hiện trong vòng 30 tháng, đã được nghiệm thu ngày 29-1-2016, đang chờ Chính phủ thông qua.

GS TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và kỹ thuật nhà nước, kiến nghị Bộ TN&MT 5 điểm: "Công bố các báo cáo cuối cùng, chính thức của công ty tư vấn; công bố kết quả nghiệm thu với các tài liệu liên quan (danh sách hội đồng nghiệm thu, các báo cáo phản biện, trả lời của công ty tư vấn…); công bố TOR (điều khoản tham chiếu của hợp đồng) mà Bộ TN&MT đặt hàng cho công ty tư vấn; công bố văn bản hợp đồng đã ký giữa Bộ TN&MT với công ty tư vấn; báo cáo tài chính về dự án MDS". Giáo sư Trân cũng "kiến nghị với Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường của Quốc hội, yêu cầu Bộ TN&MT giải trình về dự án MDS".

Kết thúc bản báo cáo dài 22 trang chủ đề "Các vấn đề xuyên biên giới do tác động thủy điện ở thượng nguồn sông Mekong", PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó giám đốc Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu (ĐH Cần Thơ), nhấn mạnh: "Kết quả tính toán của MDS phải được kiểm định bằng cách so sánh những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trước đó. Phải tìm ra những điểm phù hợp và những khác biệt, và cần có lý giải về những khác biệt vì báo cáo MDS không thực hiện việc này". Ông Lê Anh Tuấn kiến nghị: "Do tầm quan trọng của ĐBSCL, báo cáo MDS cần có sự đánh giá rộng rãi hơn từ cấp Chính phủ, Quốc hội, các tỉnh ĐBSCL, các nhà khoa học am hiểu về châu thổ, các nhà báo, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng". Và: "Ủy ban sông Mekong Việt Nam và Bộ TN&MT cần cầu thị với tất cả phản hồi và góp ý kiến để điều chỉnh báo cáo. Không đi tiếp giai đoạn tới (đề xuất giải pháp tác động) khi những giai đoạn trước đó chưa thông". 

TS Dương Văn Ni, Trưởng Bộ môn Quản lý môi trường - Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên (ĐH Cần Thơ) nhấn mạnh lý do phải xem xét lại báo cáo MDS ngay trong mở đầu tham luận của mình: "Việc các nước ở thượng nguồn sông Mekong xây dựng các đập thủy điện trên dòng chính có thể ảnh hưởng đến vùng châu thổ sông Mekong bao gồm ĐBSCL. Nhận thức rõ điều này nên Chính phủ Việt Nam đã đặt hàng cho tổ chức tư vấn quốc tế DHI thực hiện nghiên cứu này, gọi tắt là MDS (Mekong delta study). Vì vậy, một khi kết quả của báo cáo MDS này được Chính phủ Việt Nam thông qua, nó có ý nghĩa khoa học và pháp lý và cũng có ý nghĩa đây là quan điểm chính thức của Chính phủ Việt Nam về các đập thủy điện đối với các quốc gia trong lưu vực sông Mekong và trên thế giới".

Sơ đồ các đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong. 


Tương tự, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái, nêu lý do MDS phải được xem xét lại trước khi trình Chính phủ thông qua: "Chất lượng của nghiên cứu MDS, về khung nghiên cứu, phương pháp và kết quả như hiện nay là chưa đạt độ tin cậy. Báo cáo thiên về đơn giản hóa vấn đề, đánh giá thiếu và thấp các tác động đối với ĐBSCL. MDS chủ yếu dựa vào mô hình máy tính. Bản dự thảo báo cáo cho thấy ở nhiều mảng, MDS thiếu hiểu biết thực tế về ĐBSCL và thiếu dữ liệu đầu vào. Có những phần cho thấy MDS chưa thể hiện sự nỗ lực xứng tầm với một công trình nghiên cứu lớn, có ý nghĩa quan trọng đối với ĐBSCL".


VÌ SAO?


GS Nguyễn Ngọc Trân cho biết nhiều kết luận của MDS về đánh giá tác động của 11 đập thủy điện trên dòng chính sông Mekong là thiếu thực tế vì được mô hình máy tính mô phỏng. "Kết quả mô phỏng, tức là cho một số liệu đầu vào sẽ có một số liệu đầu ra. Mà từ kết quả đến kết luận, phải đối chiếu với thực tế. Nếu không thì cũng như một bài tập trên máy tính cho sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, chứ không phải là một dự án nhà nước, tiêu tốn 4,3 triệu đô-la Mỹ", ông nhấn mạnh.

Trong hai bản báo cáo dài gần 50 trang, GS Trân còn cho biết MDS chưa tính đến các yếu tố con người, biển, biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở ĐBSCL: "Tác động của các đập thủy điện lên châu thổ Mekong không thể tách rời tác nhân biển và tác nhân con người. Mặt khác, tác động của các đập không chỉ tức thì, trước mắt, mà còn tích lũy theo thời gian, vì vậy không thể tách rời yếu tố biến đổi khí hậu, nước biển dâng". Về sản xuất nông nghiệp, GS Trân bức xúc: "Tôi cho rằng với cả ba tiêu chí sản lượng, diện tích canh tác và thời vụ, đánh giá của MDS là không đáng tin cậy, kết quả mô phỏng trên máy tính khác rất xa thực tế, cần được đánh giá lại, bởi lẽ các kết quả mô phỏng là phiến diện, ngắn hạn, không tính đến đất tích lũy vì thiếu phù sa và những tác động dây chuyền". 
"Nói cách khác, các kết quả của MDS chỉ là một lát cắt tại thời điểm mô phỏng, trong đó không có tác nhân con người và tác nhân biển", GS Nguyễn Ngọc Trân khái quát.

Nhận xét về MDS, ThS Nguyễn Hữu Thiện, sau khi phân tích, đã đưa ra kết luận cho từng nội dung. Về khung nghiên cứu chung, ông cho là "thiếu sót"; về phù sa và sạt lở: "không logic và thiếu thực tế"; nông sản thì "không toàn diện"; về đa dạng sinh học: "hàm lượng kiến thức sinh thái thấp"; về nông nghiệp: "đơn giản hóa vấn đề, đánh đồng phù sa với phân bón"; về sinh kế: "kết quả chưa đáng tin cậy"; về kinh tế: "thiếu toàn diện, lan truyền sai số". 

Cảnh đắp đê cứu lúa vụ 3 trong mùa lũ năm 2011 ở Châu Phú - An Giang. 


Ví dụ với mảng kinh tế, ông Thiện cho biết: "MDS sử dụng con số của năm 2007 để làm nền tính toán (thí dụ giá cá trắng 35.000 đồng/ký-lô-gam và giá cá đen 18.000 đồng/ký-lô-gam)". Và: "Nhầm lẫn số liệu thủy sản nội địa và thủy sản biển khi cho rằng Kiên Giang đứng đầu về thu nhập từ thủy sản, Bạc Liêu nhì, Cà Mau ba". Ông cũng thắc mắc: "Không hiểu tại sao MDS lại chọn cá lau kiếng là một trong 10 loài có giá trị kinh tế nhất ĐBSCL chịu tác động của đập thủy điện trong khi đó là cá ngoại lai, không có giá trị?". 

Ông Thiện nói "MDS không thấy được đất và nước là hai trụ cột chính của nền kinh tế ĐBSCL nên đã làm đơn giản hóa bức tranh tác động của đập thủy diện đối với ĐBSCL". 

"Vì tất cả lý do trên, kết luận của MDS cho rằng các đập thủy điện sẽ gây tổn thất 2,2% GDP ĐBSCL và 0,3% GDP cả nước (tương đương 85 triệu đô-la Mỹ xuất khẩu gạo) là không đáng tin cậy", ThS. Nguyễn Hữu Thiện nhấn mạnh.

TS Dương Văn Ni cho biết khi chọn khu vực địa lý để nghiên cứu, các tác giả chỉ chọn vùng ngập lụt. Trong khi mặc dù không ngập lụt hàng năm nhưng các vùng khác của ĐBSCL lại có tác động trao đổi vì cùng hệ sinh thái. "Nghiêm trọng hơn là tác giả loại bỏ phần diện tích biển tiếp giáp đất liền, đây là phần hoàn toàn thuộc hệ sinh thái ĐBSCL. Vì hàng năm nước biển xâm nhập đất liền trong mùa nắng và nước sông mang nước ngọt và phù sa ra biển vào mùa khô; ở vùng này sự trao đổi vật chất xảy ra nhiều hơn vùng ngập lụt theo mùa", ông Ni phân tích.

Về việc MDS chọn nhóm loài để đánh giá tác động đối với đa dạng sinh học, theo ông Ni là "chưa chính xác, vì các loài này không đại diện cho sự phong phú của đa dạng sinh học vùng ĐBSCL".

TS Dương Văn Ni nhấn mạnh: "Như vậy việc chọn diện tích để đánh giá tác động này đã làm ảnh hưởng đến toàn bộ kết quả liên quan, trong đó có đa dạng sinh học. Vì diện tích đã chọn nhỏ hơn so với thực tế nên thuật ngữ "hệ sinh thái" trong báo cáo MDS không còn chính xác. Đặc biệt là những tác động trong báo cáo này có giá trị nhỏ hơn rất nhiều so với thực tế". 

Theo PGS.TS Lê Anh Tuấn thì số liệu về phù sa của MDS thấp hơn 10 lần so với số liệu được công bố chính thức của Ủy hội sông Mekong. MDS sử dụng bảng số liệu 8 điểm, khi đưa lên sơ đồ địa hình ĐBSCL lại là 11 điểm và kết quả đầu ra thì... 13 điểm. Ngoài ra, khi đánh giá tác động từ phía Trung Quốc, MDS chỉ xem xét 7 đập thủy điện trong khi Trung Quốc có 14 đập và dự án thủy điện.

Trong kết luận về MDS, PGS.TS Lê Anh Tuấn nhấn mạnh: "Lấy kết quả một mô hình thiếu chuẩn xác để suy ra những hệ quả tiếp theo về sinh cảnh, đa dạng sinh học, thủy sản, nông nghiệp, giao thông thủy… sẽ không tin cậy. Do vậy những đánh giá tiếp về sinh kế, kinh tế xã hội càng khó được chấp nhận". 

Bài đã đăng tại:
http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&id=176122