Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

Dòng Mekong đang hấp hối: Đến đập Cảnh Hồng thấy viễn cảnh đáng lo

QUỲNH TRUNG 
- NGUYỄN KHÁNH


TTO - Sau khi Trung Quốc thông báo nước này thông qua đập thủy điện Cảnh Hồng xả lượng nước lên đến 2.190m3/s từ 15-3 đến 10-4 giúp chống hạn ở hạ lưu sông Mekong, PV Tuổi Trẻ tìm đường đến đập thủy điện này.


Dòng Mekong đang hấp hối: Đến đập Cảnh Hồng thấy viễn cảnh đáng lo
Nước từ cửa xả của đập thủy điện Cảnh Hồng đang chảy xuống hạ lưu sông Mekong, phía Trung Quốc gọi là sông Lan Thương (ảnh chụp chiều 6-4) - Ảnh: Nguyễn Khánh

Cảnh Hồng là một trong sáu đập thủy điện thuộc tỉnh Vân Nam mà Trung Quốc đã hoàn tất xây dựng. Các con đập này nằm chắn ngang thượng nguồn sông Mekong, bao gồm: Cảnh Hồng, Nọa Trát Độ, Đại Triều Sơn, Mạn Loan, Tiểu Loan và Công Quả Kiều.


Xả nước 2.300m3/s


Đập Cảnh Hồng cách trung tâm du lịch Cao Trang khoảng 10-15 phút đi xe. Trên đường đến con đập thủy điện này là một khu vực dân cư thưa thớt, hai bên đường luôn trong tình trạng bụi bặm vì các xe trọng tải lớn liên tục di chuyển.

Bảo vệ thủy điện Cảnh Hồng khá cẩn thận vì cảnh sát đứng án ngữ ở tất cả những con đường dẫn vào đập và ra hiệu không cho người lạ vào bên trong.

Ở vị trí cách đập khoảng 2km, không như trí tưởng tượng của chúng tôi, mực nước sông Lan Thương (cách Trung Quốc gọi sông Mekong) khá thấp, nhiều khu vực nổi lên những bãi đá phủ đầy rêu, cỏ, dù được thông báo là đã xả nước nhưng dòng chảy vẫn không mạnh.

Ở trạm thủy văn Cảnh Hồng nằm bên bờ sông, chúng tôi gặp ông La, trưởng nhóm khí tượng thủy văn của trạm.

Ông La xác nhận từ ngày 15-3 đến 10-4 Trung Quốc xả nước với dung lượng từ 2.190-2.300m3/s xuống hạ lưu sông Mekong. Ông cho biết lưu lượng nước xả năm nay thấp hơn nhiều so với năm ngoái. Cụ thể, vào tháng 6-2015, lượng xả nước từ đập Cảnh Hồng đạt 3.800m3/s.

Vị trưởng nhóm khí tượng thủy văn của trạm khẳng định trạm 
này được thành lập vào tháng 6-1955, là điểm cuối khống chế lưu lượng nước trong nội địa Trung Quốc đối với dòng chảy chính của sông Mekong và cũng là trạm đo lường kiểm soát nước với diện tích lớn nhất của tỉnh Vân Nam, với diện tích tập trung nước gần 142 triệu m3.

“Một năm tại khu vực này chỉ có hai mùa là mùa khô và mùa mưa và lượng mưa trung bình hằng năm 1.142mm, trong đó có trên 85% lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10. Tại khu vực xung quanh đập thủy điện Cảnh Hồng chưa bao giờ xảy ra tình trạng hạn hán" - ông La chia sẻ thêm.

Theo các tài liệu chúng tôi thu thập được, đập thủy điện Cảnh Hồng được người trong ngành gọi là kiến trúc dẫn đầu trong “kiến trúc cốt cán của điện lực Vân Nam” trên sông Mekong. Đập này cao 108m, dài 705m. Nó có công suất 1.750 MW, gồm năm tuôcbin phát điện.

Đây là trạm cấp thứ 6 trong kế hoạch hai hồ chứa 8 cấp của quy hoạch thủy điện trên dòng chính trung hạ lưu sông Mekong.

Kế hoạch lúc đầu của trạm điện là bán điện sang Thái Lan, nhưng vì sớm đưa vào hoạt động và thúc đẩy xây dựng con đường “đưa điện từ tây sang đông”, tỉnh Vân Nam và Tập đoàn Hóa Năng sau khi thỏa thuận với bên Thái Lan đã quyết định sẽ xây dựng cả trạm Cảnh Hồng và trạm Nọa Trát Độ thành 1 tổ phát điện, do Tập đoàn Hóa Năng Mekong toàn quyền đầu tư xây dựng.

Trạm điện xây dựng xong sẽ đưa điện sang tỉnh Quảng Đông trước, sau đó căn cứ vào thị trường điện của Thái Lan sẽ do Mạng lưới Phương Nam với chức năng là cơ quan hợp tác đối ngoại đưa điện sang Thái Lan.



Dòng Mekong đang hấp hối: Đến đập Cảnh Hồng thấy viễn cảnh đáng lo
Một thiết bị quan trắc nước tại trạm thủy văn Cảnh Hồng - Ảnh: Q.Trung


Kề thủy điện 
mà không có điện


Dọc hai bên con đường vào thủy điện Cảnh Hồng khá vắng vẻ, lác đác vài căn nhà nhỏ ven sông.

Chúng tôi gặp ông Trương Liên Sinh, một trong những cư dân hiếm hoi sống gần khu vực đập thủy điện, khi ông đang giặt đồ trong ngôi nhà tranh lụp xụp.

Người đàn ông 50 tuổi thật thà cho biết ông không để ý đến việc xả nước từ đập thủy điện Cảnh Hồng. Ông kể cả gia đình ông đã sống ở khu vực này gần 20 năm.

Trước khi xây các đập thủy điện dọc sông Mekong, mực nước sông tại đây vào mùa mưa dâng rất cao, có khi ngập đến tràn bờ, tràn nước vào nhà ông nhưng bây giờ mực nước khá thấp.

Ông kể từng làm công nhân xây dựng đập thủy điện Cảnh Hồng và nay kiếm kế sinh nhai bằng trồng trọt, đốn củi, cạo mủ cao su, nuôi gà, nuôi dê.

Ông cho biết người dân khu vực xung quanh đập thủy điện đều mưu sinh bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi như ông, chứ không sống dựa vào dòng sông Mekong. Ngay cả nguồn nước ngọt mà gia đình ông Sinh dùng là lấy từ một dòng suối chảy ở khe núi gần đó.

Rồi ông than phiền về một điều vô cùng nghịch lý rằng trước khi có các đập thủy điện thì nhà ông có điện sử dụng thường xuyên, nhưng sau khi các đập thủy điện được xây xong thì nhà ông và các nhà lân cận phải sống trong bóng tối vì thiếu điện.

Ông chạy vào nhà lấy đèn pin và điện thoại giải thích cho chúng tôi xem, là cứ cách vài ngày lại chạy sang nhà một người bạn để sạc điện. Ông nói ước mơ duy nhất của ông chỉ là được cấp điện, để không còn sống trong bóng tối khi màn đêm buông xuống nữa.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Đào Trọng Tứ, giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển bền vững tài nguyên nước & thích nghi biến đổi khí hậu (CEWAREC), cho biết các thông tin gần đây trên các phương tiện truyền thông cho rằng Trung Quốc tăng gấp đôi lượng nước để xả xuống hạ lưu cứu hạn cho các nước Đông Nam Á là không chính xác. “Trên thực tế, theo thống kê của chúng tôi thì lượng xả nước của Trung Quốc so với cùng kỳ lại thấp hơn so với năm 2014 và chỉ bằng năm 2015" - TS Tứ giải thích.

TS Tứ cũng cho biết thêm rằng sông Mekong chảy qua sáu nước Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam.

Trong đó Trung Quốc chiếm 16% tổng lượng nước và 18% diện tích lưu vực của dòng sông Mekong.

“Dự kiến đến năm 2020 số lượng đập thủy điện của Trung Quốc sẽ là 8, hiện nay họ đã xây được 6 đập với tổng dung tích hồ chứa là 11 tỉ m3, con số này sẽ nâng lên thành 30 tỉ m3 khi Trung Quốc vận hành hết các con đập sau năm 2020” - TS Tứ nói với Tuổi Trẻ.


Ảnh hưởng tiêu cực với hạ lưu


Đánh giá về các đập thủy điện trên dòng sông Mekong tại lãnh thổ Trung Quốc, TS Đào Trọng Tứ khẳng định: Các đập thủy điện của Trung Quốc ở thượng lưu sông Mekong đã, đang và sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đối với sông Mekong.
Cụ thể, các con đập này đã làm thay đổi dòng chảy xuống hạ nguồn, đặc biệt trong các thời điểm các hồ thủy điện tích nước và xả nước, lượng nước thay đổi thất thường khiến cho các quốc gia phía hạ lưu chung dòng chảy sông Mekong luôn trong tình trạng bị động để điều phối dòng nước khi phục vụ nhu cầu của quốc gia.


Thứ hai, các con đập này trước khi chảy xuống khu vực hạ lưu sông đã giữ lại một lượng phù sa rất lớn, theo các phân tích thì lượng phù sa nằm phía thượng nguồn sông Mekong thuộc lãnh thổ Trung Quốc theo tính toán chiếm khoảng 50% lượng phù sa của sông MeKong.


Theo TS Tứ, nghề thủy sản của người dân sống xung quanh dòng sông sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.


Các đập thủy điện kéo dài dọc sông Mekong sẽ khiến các loài cá khó di cư từ vùng này sang vùng khác để sinh sản, nhiều loài có nguy cơ bị tiêu diệt, đặc biệt với các loài cá da trơn có trọng lượng lớn, một trong những “đặc sản” của dòng sông Mekong.


Hạn-mặn 2016: giải pháp thích ứng về lâu dài


Nguyễn Hữu Thiện


Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đối mặt với những thách thức và cơ hội mới, rất cần xem xét lại chiến lược an ninh lương thực để tránh chỉ tập trung vào cây lúa, tăng sản lượng bằng mọi giá. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ

(TBKTSG) - Tình trạng hạn - mặn gay gắt năm nay ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do hiện tượng El Nino cực đoan. Vậy ĐBSCL nên ứng phó như thế nào về lâu dài?

Không nên lấy hiện tượng cực đoan năm nay làm chuẩn cho chiến lược lâu dài.

Trước tiên cần phải phân biệt hiện tượng cực đoan và khuynh hướng lớn của nhiều năm. Hiện tượng hạn - mặn gay gắt năm nay là hiện tượng cực đoan, hiếm xảy ra, ít nhất là 90 năm nay mới có lần đầu (thật ra con số 90 tròn trịa là vì ta chỉ có số liệu từ năm 1926 do Pháp để lại). Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, những hiện tượng cực đoan được dự báo sẽ xảy ra thường xuyên hơn. Ví dụ hiện tượng 100 năm mới có một lần có thể xảy ra 20 năm một lần.

Nhưng dù gì đi chăng nữa, hiện tượng cực đoan không phải là khuynh hướng chung. Ngoài những năm có hiện tượng cực đoan sẽ là “khuynh hướng bình thường”. “Bình thường” ở đây có nghĩa là khuynh hướng diễn biến biến đổi khí hậu mà ta đã biết, nước biển dâng, nhiệt độ tăng...

Do năm nay tình trạng hạn - mặn gay gắt gây ra nhiều thiệt hại cho người dân nên chính quyền địa phương không thể ngồi yên, báo chí, dư luận cũng không thể đứng ngoài, và Chính phủ phải có hành động khẩn cấp. Cả xã hội lao vào vòng xoáy “phải làm điều gì đó” ngay. Hành động khẩn cấp là hoàn toàn đúng, cần thiết. Tuy nhiên, đối với chiến lược thích ứng lâu dài, không nên lấy tình hình của năm cực đoan, chưa khẳng định là khuynh hướng, như năm nay, làm chuẩn. Một chiến lược lâu dài nên dựa vào khuynh hướng chung nhiều năm, có dự trù chi cho tình huống cực đoan.


Thay đổi để thích ứng


Như đã đề cập ở trên, trừ những năm cực đoan, còn lại là những năm nằm trong khuynh hướng biến đổi khí hậu chúng ta đã biết là nhiệt độ ngày càng tăng, nước biển dâng cao dần dần, xâm nhập mặn xâm lấn dần.Vùng ven biển ĐBSCL có thể chia làm ba vùng, độ dày mỏng tùy theo địa hình, vị trí gần hay xa nguồn nước sông Cửu Long. Rìa nhất là vùng mặn quanh năm; kế tiếp là vùng nước lợ với sáu tháng ngọt, sáu tháng mặn; trên đó là vùng ngọt. Khuynh hướng hiện nay là hai vùng ngoài đang lấn dần vào vùng trong. Khuynh hướng này khó cưỡng lại.

Đối phó với những thay đổi thì có nhiều cách lựa chọn, hoặc là kiên cố chống lại sự thay đổi để duy trì tình trạng hiện tại; hoặc rút lui; hoặc thay đổi theo để phù hợp và tận dụng cơ hội mới. Thông thường, khi biết một khuynh hướng không thể chống lại, thay đổi theo cũng là cách thích ứng tốt. Vậy đối với vùng mặn hẳn và vùng nước lợ, không nên cố gắng duy trì hệ thống canh tác ngọt suốt năm mà nên thích nghi. Theo đó vùng mặn hẳn nên canh tác mặn quanh năm, vùng lợ nên có hệ thống canh tác mặn trong mùa mặn và canh tác ngọt trong mùa ngọt.


Hành động thích ứng cũng phải tính thiệt hơn



An ninh lương thực không chỉ là tự cung tự cấp mà miễn sao mọi người có thể tiếp cận được lương thực bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, có thể do dùng tiền mua mà có.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Nhật tài trợ 104 triệu đô la Mỹ nâng cấp ĐH Cần Thơ


(TBKTSG Online) - Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) sẽ cùng trường Đại học Cần Thơ thực hiện dự án nâng cấp hoạt động của trường này với gói tài trợ trị giá 104 triệu đô la Mỹ do chính phủ Nhật Bản tài trợ, đại diện JICA cho biết tại hội thảo giới thiệu dự án “Nâng cấp trường Đại học Cần Thơ” tổ chức ở Cần Thơ hôm nay, 1-4.

Ông Kakioka Naoki đang giới thiệu về dự án Nâng cấp trường Đại học Cần Thơ sáng ngày 1-4.
Ông Kakioka Naoki, Phó trưởng Văn phòng JICA tại Việt Nam, cho biết hỗ trợ Đại học Cần Thơ là một trong những hoạt động quan trọng nhất của JICA tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Dự án này do chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua JICA, gồm 100 triệu đô la Mỹ cho vay bằng đồng yên (lãi suất 0,3%/năm trong 40 năm) và 4 triệu đô la Mỹ hợp tác kỹ thuật (tài trợ không hoàn lại). Gói hợp tác kỹ thuật bắt đầu từ tháng 3-2016 và kết thúc vào năm 2020; gói cho vay kéo dài tới năm 2022.

Theo ông Kakioka Naoki, mục tiêu của dự án nhằm tăng cường năng lực nghiên cứu và đào tạo của Đại học Cần Thơ trong ba lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy hải sản và môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế; qua đó, nâng cao giá trị thặng dư cho sản phẩm và bảo vệ môi trường vùng ĐBSCL.

Trong khuôn khổ dự án, có các hoạt động hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực (trong đó có 72 suất bổng học thạc sĩ và tiến sĩ tại Nhật); có các hoạt động nghiên cứu, xây dựng cơ sở nghiên cứu - học thuật, cung cấp trang thiết bị nghiên cứu và có cả dịch vụ tư vấn.

Dự án cũng hỗ trợ tài chính cho các đề tài nghiên cứu (mỗi đề tài khoảng 50.000 đô la Mỹ) giữa Đại học Cần Thơ với các trường đại học và doanh nghiệp Nhật Bản theo hướng thúc đẩy liên kết giữa nhà trường – doanh nghiệp tư nhân – chính quyền địa phương – cộng đồng dân cư vùng ĐBSCL.

“Đại học Cần Thơ là một trong bốn trường đại học được chính phủ Việt Nam chọn xây dựng thành đại học mẫu tiêu chuẩn quốc tế với vai trò tiên phong trong nâng cao năng lực giáo dục và nghiên cứu khoa học”, ông Kakioka Naoki nhấn mạnh khi giải thích lý do JICA chọn hợp tác với Đại học Cần Thơ.

Ba trường còn lại, theo ông Kakioka Naoki, là Đại học Khoa học kỹ thuật Hà Nội (đã có Pháp và ADP hỗ trợ), Đại học Việt – Đức (Đức và Ngân hàng Thế giới hỗ trợ) và Đại học Đà Nẵng (Chính phủ Anh đang xem xét hỗ trợ).

Theo PGS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng trường Đại học Cần Thơ, nơi vừa kỷ niệm 50 năm thành lập trường hôm 31-3, đây là trường đa ngành đa lĩnh vực, có mạng lưới hợp tác mạnh với các địa phương vùng ĐBSCL, đặc biệt là có Trung tâm Ươm tạo doanh nghiệp mới thàng lập năm ngoái.

“Chúng tôi mong muốn thúc đẩy mạnh mẽ sự hợp tác với doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cũng như thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu thông qua dự án này”, ông Toàn nói.

Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/144472


PTT Vũ Đức Đam: Xóa chủ quản để đại học tự chủ, theo kịp quốc tế



(TBKTSG Online)- Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam vừa gửi đi thông điệp về đổi mới giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới: phải xóa cơ chế chủ quản và phát triển theo đúng xu thế quốc tế.

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh yêu cầu tự chủ cho đại học. Ảnh: Hoàng Nghĩa

Phát biểu tại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đại học Cần Thơ vào sáng nay, 31-3, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: “Cần xóa bỏ “chủ quản” đối với đại học để các trường đại học thực sự tự chủ cả về chuyên môn, tổ chức nhân sự và tài chính”.

Theo ông Đam, tiến trình này cần được thực hiện với quyết tâm cao, vượt qua những rào cản ngay từ trong trường đại học, tương tự như xóa bỏ chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước những năm đầu đổi mới.

Tự chủ, theo ông Vũ Đức Đam, phải gắn với trách nhiệm giải trình nhằm nâng cao chất lượng đầu ra cùng cơ chế đảm bảo cơ hội tiếp cận giáo dục đại học chất lượng cao của các đối tượng chính sách, người nghèo.

Về “chất lượng đầu ra”, ông Đam cho rằng cần gắn với đánh giá, thừa nhận của xã hội, của người sử dụng lao động, của đối tác quốc tế bởi vì lâu nay các trường chỉ chú trọng siết chặt đầu vào.

“Cũng có ý kiến cho rằng để các em vào đại học rồi mà phải lưu ban hay không tốt nghiệp thì sẽ là sự lãng phí lớn với nhiều gia đình, nhất là gia đình nghèo. Nhưng nếu các kỹ sư, cử nhân không đủ chất lượng, không có việc làm thì sự lãng phí đó không chỉ ở một số gia đình mà là toàn xã hội”, ông Đam phân tích.

Về vai trò của nhà nước trong cơ chế này, ông Đam nói: “Tự chủ không có nghĩa là nhà nước không tiếp tục tăng cường đầu tư cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng, nhưng chắc chắn không tiếp tục đầu tư theo kiểu cào bằng, không căn cứ hiệu quả”.

Tiếp đó, ông Đam cho rằng đổi mới, phát triển giáo dục đại học cần theo đúng xu thế phát triển giáo dục đại học quốc tế. “Mỗi quốc gia đều có đặc thù nên không thể sao chép máy móc từ nước ngoài, nhưng càng không thể vin vào đặc thù để đi ngược xu thế, để làm khác những gì đã có tính phổ quát trên thế giới”, ông Đam nhấn mạnh.

Phó Thủ tướng cũng cho biết cần có các tiêu chí cụ thể về nghiên cứu khoa học như số lượng các công trình công bố trên tạp chí khoa học uy tín, số lượng sáng kiến, phát minh, sáng chế... phục vụ cho công tác đánh giá giảng viên, sinh viên.

“Đây là một thách thức lớn đối với tuyệt đại đa số các trường đại học ở Việt Nam. Một nguyên nhân lớn thường được đề cập là do hạn chế về đầu tư, nhưng nguyên nhân không kém phần quan trọng là do các trường thiếu định hướng phát triển lâu dài”, Phó Thủ tướng nói.


Bài đã đăng tại:
http://mobile.thesaigontimes.vn/tinbaichitiet/144442

Đại học Cần Thơ sẽ mở rộng hợp tác quốc tế



Tại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) vào sáng nay, 31-3, PGS.TS Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng ĐHCT, cho biết để góp phần phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhà trường sẽ mở rộng hợp tác quốc tế.

Trả lời chúng tôi, PGS.TS Hà Thanh Toàn nói: “Muốn đạt được mục tiêu góp phần phát triển vùng ĐBSCL và cả nước trong thời gian tới, ĐHCT phải mở rộng hợp tác quốc tế; đây cũng là kết quả hoạt động từ 50 năm qua của nhà trường”.

Theo Hiệu trưởng Hà Thanh Toàn, đến nay, ĐHCT đang hợp tác với hơn 120 viện, trường và tổ chức quốc tế. Trong vòng 20 năm gần đây, các dự án hợp tác quốc tế đã đóng góp cho trường hơn 70 triệu đô la Mỹ; có một số dự án lớn như chương trình “Nâng cấp Khoa Nông nghiệp ĐHCT” từ viện trợ của Chính phủ Nhật Bản (khoảng 23 triệu đô la); chương trình MHO của Chính phủ Hà Lan (khoảng 19 triệu đô la); chương trình VLIR của Chính phủ Bỉ (khoảng 18 triệu đôa la); chương trình Trung tâm Học liệu của Tổ chức Atlantic Philanthropy (khoảng 8 triệu đô la)… 


Thí sinh ĐBSCL tại ĐH Cần Thơ trong mùa tư vấn tuyển sinh tháng 3-2016


Riêng chương trình “Mekong 1000” (đào tạo 1000 cán bộ khoa học kỹ thuật sau đại học ở nước ngoài cho 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL do ĐHCT khởi xướng và đảm trách từ năm 2005), đã có 575 ứng viên (521 thạc sĩ, 54 tiến sĩ) đã và đang được đào tạo tại 163 viện, trường thuộc 24 quốc gia trên thế giới. “Có thể nói, đây là bước đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ĐBSCL”, ông Toàn nói. 

ĐHCT cũng đang tham gia Mạng lưới Đại học Đông Nam Á (ASEAN University Network - AUN); trường đã tổ chức đánh giá nhiều chương trình hợp tác đào tạo, trong đó có 3 chương trình đào tạo đạt chuẩn AUN-QA.

Mới nhất, ĐHCT đang tiếp nhận Dự án Nâng cấp trường ĐHCT, sử dụng vốn vay ODA của Chính phủ Nhật Bản trị giá 105,9 triệu đôla Mỹ. Ông Toàn cũng cho biết, Chính phủ Nhật Bản cũng vừa phê duyệt viện trợ không hoàn lại Dự án Hợp tác kỹ thuật với Trường ĐHCT với kinh phí một triệu đô la/năm, kéo dài 5 năm.

Theo PGS.TS Hà Thanh Toàn, nội dung hợp tác quốc tế tới đây của trường là thuộc các lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và cải thiện đời sống nhân dân vùng ĐBSCL. 

Theo đó, trường sẽ nâng chất lượng, trình độ chuyên môn giảng dạy, mở rộng ngành nghề đào tạo theo nhu cầu xã hội, thu hút sinh viên quốc tế. Trong đó, có các chương trình nghiên cứu liên kết vùng, đa ngành nghề; nghiên cứu tổng hợp kinh tế - xã hội; nghiên cứu về giáo dục, biến đổi khí hậu.

Vẫn theo ông Toàn, cùng với hợp tác quốc tế, ĐHCT tiếp tục hợp tác với các đơn vị trong nước về nghiên cứu và đào tạo vì nhà trường đang là thành viên của nhóm các trường khối nông - lâm - ngư, mạng lưới Vifinet (thủy sản), khối các trường đào tạo kinh tế và các trường đại học kỹ thuật.

“Thực hiện các dự án này cũng nhằm mục đích xây dựng trường ĐHCT trở thành một trong những trường hàng đầu ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vào năm 2020”, PGS.TS Hà Thanh Toàn nhấn mạnh.

Nhìn lại 50 năm qua, Hiệu trưởng Hà Thanh Toàn cho biết, ĐHCT đã đào tạo hơn 90.000 kỹ sư, cử nhân, bác sĩ hệ chính quy và hơn 40.000 kỹ sư, cử nhân hệ ngoài chính quy; hơn 6.100 thạc sỹ và tiến sỹ. “Lực lượng này là nguồn nhân lực quan trọng của đất nước; nhiều người đã trở thành cán bộ khoa học đầu ngành, nhà quản lý, nhà sản xuất và kinh doanh giỏi tại các tỉnh, thành ở ĐBSCL và cả nước”, ông Toàn nói. 

Đến nay, ĐHCT là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực, gồm 16 khoa, 3 viện nghiên cứu, 18 trung tâm, 15 phòng ban chức năng. Hiện trường có 96 chuyên ngành đào tạo đại học với khoảng 56.000 sinh viên, trong đó có 32.000 sinh viên chính quy. Ngoài đào tạo đại học, ĐHCT cỏn có 38 chuyên ngành đào tạo thạc sỹ và 15 chuyên ngành đào tạo tiến sỹ, với gần 4.000 học viên đang theo học.


50 năm trước, đây là Viện Đại học Cần Thơ


PGS.TS Hà Thanh Toàn kể: 


“Những năm đầu thập niên 1960, vùng ĐBSCL có khoảng 5 triệu người (chiếm 40% tổng dân số miền Nam Việt Nam), nhưng trong hoàn cảnh thiếu thốn về vật chất, khó khăn về phương tiện đi lại nên sau khi đậu tú tài, đa phần con em của vùng đất này không đủ điều kiện để lên Sài Gòn học đại học. Vào giữa năm 1965, báo chí ở Sài Gòn xuất hiện đều đặn những bài viết bàn về sự cần thiết phải có một viện đại học cho miền Tây. Những bài viết tạo dư luận và các cuộc vận động lúc ấy đều xuất phát từ Cần Thơ, trong đó nòng cốt là Ban vận động thành lập Viện Đại học tại miền Tây, đứng đầu là bác sĩ Lê Văn Thuấn, Hội trưởng Hội Phụ huynh học sinh miền Tây, cùng với các nhân sĩ, trí thức và các tầng lớp nhân dân trong vùng. Cuộc vận động đạt thắng lợi với việc ra đời của Sắc lệnh số 62-SL/GD ký ngày 31/3/1966, khai sinh ra Viện ĐHCT (nay là Trường ĐHCT). Việc ra đời của Viện ĐHCT là phù hợp với nhu cầu cấp thiết của vùng, đã đánh dấu một bước ngoặc lịch sử trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và NCKH, CGCN phục vụ sự phát triển của vùng ĐBSCL. Ngày 1-4-1966, lễ công bố Sắc lệnh được tổ chức tại Phong Dinh, có phái đoàn 15 tỉnh miền Tây đến dự. Đây là viện Đại học thứ năm (sau các viện Đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Vạn Hạnh) và là viện Đại học duy nhất áp dụng quy chế tín chỉ ở miền Nam trước năm 1975. 


Viện ĐHCT  được thành lập vào ngày 31-3-1966 gồm Đại học Khoa học, Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa, Đại học Luật khoa, Trường Cao đẳng Nông nghiệp, Trung tâm Sinh ngữ và 8 phòng ban chức năng. Lễ khai giảng năm học đầu tiên được tổ chức vào ngày 30-9-1966 có 985 sinh viên. Viện ĐHCT mặc dù chỉ hoạt động từ năm 1966 đến năm 1975, nhưng Viện đã thành công trong việc mở ra một hướng đi mới trong lịch sử giáo dục ở ĐBSCL; đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực chuyên môn chất lượng cao cho sự phát triển của vùng ĐBSCL. Đồng thời với đào tạo nguồn nhân lực là việc đặt nền móng cho công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển của vùng, với việc chỉ một năm sau khi thành lập, Viện ĐHCT đã nhân thành công giống lúa IR8 của Viện Lúa Quốc tế cho năng suất tới 5 tấn/hecta, phá kỷ lục về năng suất thời đó (3 tấn/hecta), được ông Tôn Thất Trình (Bộ trưởng Bộ Canh nông) đặt tên là “Thần nông 8” vào tháng 10-1967”.


Thứ Tư, 23 tháng 3, 2016

Nước và văn hóa chia sẻ ở ĐBSCL



Nước là của trời đất, nước không là của riêng ai, nên nước phải được chia sẻ. Ảnh: LÊ HOÀNG VŨ



Dương Văn Ni


(TBKTSG) - Người dân ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ lúc mở mắt chào đời là đã thấy nước. Mọi người đều tin nước là của trời đất, nước không là của riêng ai, nên nước phải được chia sẻ.

Các hoạt động sinh kế của người dân nơi đây đều dựa trên nguồn nước. Người nghèo thì dựa vào mùa nước nổi để mò cua, bắt ốc hay giăng lưới, thả câu; người có đất đai thì tận dụng nguồn nước để trồng lúa, trồng màu, nuôi tôm, cá.

Từ muôn đời trước, người dân ĐBSCL xem nước và đất là một. Nơi nào có đất, có nước là có người cất nhà, khai khẩn đất hoang và canh tác sản xuất. Từ đó, đi đâu cũng thấy nhà cửa cất san sát dọc theo sông rạch, kênh đào. Nơi nào mùa nước nổi không ngập sâu thì cất nhà trệt, nơi nào ngập sâu thì cất nhà sàn. Ghe xuồng đậu ngay dưới sàn nhà vừa tiện cho việc đi lại vừa để tránh mưa tránh nắng.

Các hoạt động vui chơi, giải trí của cộng đồng cũng gắn liền với sông nước. Lễ hội đua ghe ngo của người Khmer dần dà cũng biến thành lễ hội trong khu vực và nó đã hấp dẫn đông đảo người dân bốn phương tụ tập về ĐBSCL.

Những khi ưu tư phiền muộn, những lúc làm ăn thất bát hay con cái thường xuyên ốm đau, người ta cũng nhờ dòng nước mang đi những điều xui xẻo. Đồ cúng kể cả nhang đèn đều đặt trên một cái bè làm bằng thân cây chuối có trang trí xanh đỏ cờ hoa, rồi đem thả xuống sông, gọi là cúng hà bá!

Ngày xưa phương tiện giao thông ở ĐBSCL chủ yếu là ghe xuồng và người dân chỉ sử dụng sức người để chèo chống. Vì vậy mà người ta thuộc lòng là khúc sông nào vào mùa nào thì nước ròng hay nước lớn, để nương theo dòng nước mà đi, đỡ tốn công chèo chống. Nhưng đôi khi cũng bị lỡ con nước, đành phải neo ghe lại chờ và người ta thường tụ họp trao đổi hàng hóa, chia sẻ kinh nghiệm sống với nhau, rồi dần biến những nơi này thành chợ. Nơi nào có nhiều kênh rạch gặp nhau là nơi đó có chợ, như chợ nổi Cái Răng ở Cần Thơ, chợ Ngã Bảy ở Phụng Hiệp, Hậu Giang. Nơi nào sông, lộ gặp nhau cũng biến thành chợ.

Cũng giống như con người, nguồn nước của ĐBSCL cũng thường xuyên tìm cách “họp chợ”. Nhờ các dòng sông, lớn nhất như sông Tiền, sông Hậu đến những luồng lạch chằng chịt khắp nơi, giống như mạch máu trong cơ thể con người hay như cành nhánh chi chít của một cái cây. Nhờ hệ thống sông rạch đó mà cả ba nguồn nước là nước mặt, nước mưa, và nước mặn hòa lẫn với nhau. Mùa khô thì nước chảy theo luồng, theo lạch còn mùa mưa thì vượt bờ vượt đồng chảy tràn lan. Nhờ đó mà hạt phù sa li ti, hạt các loại cây cỏ, và con tôm, con cá cũng theo dòng nước mà đi, muốn đến nơi nào thì đến.

Chúng ta đã quên mất cái vai trò “liên kết” của nước. Nước không chỉ liên kết về mặt môi trường sinh thái mà còn là liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng, giữa các cộng đồng và giữa các quốc gia.
Nhưng thật ra, trong dòng chảy tự do đó không phải là không có những quy luật. Chẳng hạn, nước chỉ chảy vào nơi nào trũng; hạt phù sa chỉ lắng đọng khi nước chảy chậm dần; hạt cây cỏ nảy mầm ở nơi nào đất đai màu mỡ; tôm cá chọn nơi đủ nước và thức ăn; và cuối cùng là con người, chọn nơi mà trước đó từng dòng nước, từng hạt phù sa, hay tôm cá đã chọn! Sự tự do chính là bản chất của dòng nước và con người ở ĐBSCL.

Sự hòa quyện giữa đất - nước - con người qua hàng trăm năm đã ngấm sâu vào máu thịt người dân ở ĐBSCL để tạo cho họ có được bản chất tự do, nghị lực bền bỉ và tinh thần bất khuất. Kinh nghiệm sống quý báu đó đã được người xưa đúc kết và truyền lại cho con cháu đời sau bằng những câu nói đậm tính dân gian như: “Nước chảy, đá mòn” hay “tức nước, vỡ bờ”.

Dù chỉ là kinh nghiệm truyền miệng trong dân gian, nhưng những câu nói đó chứa đầy triết lý giáo dục con người trong tu luyện bản thân, xử sự đối với người khác cũng như đối với thiên nhiên. Đặc biệt là không bao giờ được “ngăn sông, cấm chợ” bởi vì nó trái với tinh thần tự do mà thiên nhiên và con người ở ĐBSCL đã dày công xây đắp.

Ngày nay, cái văn hóa chia sẻ nguồn nước đã phần nào bị mai một! Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích chuyện này, như các phương tiện khoa học đã dần thay thế cho những kinh nghiệm truyền thống.

Người nuôi tôm sú thì chỉ quan tâm đến nước mặn, người dân thành phố và doanh nghiệp xài nước máy, nước giếng thì quên chuyện còn hàng ngàn hộ nghèo hàng ngày phải sử dụng nước sông.

Như một hệ quả tất yếu, mỗi bên đều chọn cho mình giải pháp an toàn và có lợi nhất về nguồn nước. Người nuôi tôm sú tìm cách giữ nước mặn trong vuông mình càng lâu càng tốt nên đất đai dần dần bị mặn thấm xuyên qua đê và làm cho cả khu vực bị mặn hoàn toàn. Người dân trồng lúa sống trong khu vực này thì hoặc là phải chuyển qua nuôi tôm, hoặc là phải sang bán đất đai để chuyển đi nơi khác. Nước thải, rác thải của các khu đông dân cư cứ nhắm dòng sông mà đổ xuống; doanh nghiệp thì đặt ống chìm ống nổi để xả lén chất thải xuống sông nhằm giảm bớt chi phí sản xuất.

Khi mà cái văn hóa chia sẻ nguồn nước không còn thì những người nghèo là đối tượng bị ảnh hưởng và tổn thương nhiều nhất. Trước tiên là nhóm người sống nhờ vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên như mò cua bắt ốc, câu lưới, lọp lờ với sản phẩm thu hoạch càng ngày càng ít đi, không đủ bù đắp cho sức lao động đã bỏ ra. Rồi đến nhóm nông dân bị tổn thất trong sản xuất như hoa màu, cây trái, vật nuôi bị ngộ độc nguồn nước mà chết hàng loạt. Tác động âm thầm và dai dẳng nhất là nguồn nước ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Đây là nguồn lực duy nhất để họ có thể kiếm sống hàng ngày. Thiếu sức khỏe thì con đường thoát nghèo của người dân hoàn toàn bị bế tắc!

Sự mất mát về vật chất thì còn có thể cân đo đong đếm, nhưng tổn thương tâm hồn và mất mát văn hóa mới là điều to tát nhất của một con người.

Những nỗ lực để gầy dựng lại cái văn hóa chia sẻ thông qua nguồn nước và cộng đồng thì cần có thời gian để đúc kết và đánh giá. Tuy nhiên với những gì đã và đang xảy ra ở ĐBSCL thì e rằng mục tiêu cần đạt sẽ còn rất xa.

Việc xây dựng những bờ kè kiên cố ven sông của các thành phố đang làm mất khả năng trao đổi nước trong đất và dòng sông; hậu quả là làm cho thành phố ẩm ướt hơn, dễ dàng ngập lụt hơn và lún sụt nhanh hơn. Việc xây dựng những cống đập, đê biển kiên cố làm gián đoạn sự trao đổi của dòng nước ngọt, mặn giữa đất liền và biển; để rồi phần bên trong đê ô nhiễm tích lũy nhiều hơn, phần ngoài đê rừng ngập mặn bị chết lần chết mòn; các cửa sông, rạch thì do dòng chảy bị chặn, nước mặn không vào được nên lục bình phát triển dày đặc, giao thông thủy trở nên khó khăn hơn.

Chung quy là vì chúng ta đã quên mất cái vai trò “liên kết” của nước. Bởi vì nước không chỉ liên kết về mặt môi trường sinh thái mà còn là liên kết giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau nhờ vào phong tục tập quán, liên kết giữa các cộng đồng sống rất xa nhau nhờ vào giao thương kinh tế, và nói rộng hơn là liên kết giữa các quốc gia nhờ vào việc sử dụng cùng một dòng sông. Vì vậy, nếu cái văn hóa chia sẻ bị mai một, thì “tình làng, nghĩa xóm” giữa các cá nhân trong một cộng đồng ắt sẽ phai nhạt; xung đột lợi ích giữa các cộng đồng sẽ trở nên gay gắt và bất ổn trong toàn khu vực do mâu thuẫn giữa các quốc gia là điều khó tránh khỏi!

Tài liệu tham khảo:

Phạm Duy Tiễn và Dương Văn Ni, 2014. A wise use of flood water resource at The Mekong Delta of Vietnam, overview paper Spate Irrigation # 11, www.spate-irrigation.org


Bài đã đăng tại:
http://www.thesaigontimes.vn/143634/Nuoc-va-van-hoa-chia-se-o-DBSCL.html