Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2018

Bàn thêm về nông nghiệp 4.0

Làm gì để sản xuất nông nghiệp 4.0 hiệu quả, nhất là với bà con nông dân? Đây là câu chuyện mà Giáo sư Tiến sĩ Võ-Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ, chuyên gia nông nghiệp, vừa trao đổi với Báo Cần Thơ.


Giáo sư Tiến sĩ Võ -Tòng Xuân. Ảnh: H.KIM

Nông nghiệp 4.0 là gì?

Nói nông nghiệp 4.0, là nói chuyện người nông dân có tham gia với nhà khoa học, nhà doanh nghiệp để ứng dụng được công nghệ 4.0 trong sản xuất. Yếu tố nền của nó là công nghệ tin học; từ căn cứ dữ liệu lớn, số liệu rất nhiều cho tới tất cả vạn vật trong Internet phối hợp lại cho từng điều kiện để áp dụng. Thí dụ điều khiển được môi trường để sản xuất trong khi môi trường không thích hợp; như làm được cây trồng, vật nuôi trong điều kiện tuyết rơi ở bên ngoài.

Công nghệ này giúp nông dân không cần ở tại chỗ vẫn có thể dùng điện thoại thông minh, máy tính tạo cho cây trồng có những điều kiện về nước, về nhiệt độ, về việc bón phân… để phát triển tốt. Như ở Đà Lạt, bà con nông dân đã áp dụng hằng thập kỷ nay. Trong những nhà màng, nhà kính, người ta đã trồng được nhiều sản phẩm ngăn được các loại sâu bệnh từ ngoài vào. Nông nghiệp 4.0 ở Đà Lạt không thua gì ở các nước khác.

Với Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thì chưa có nhiều. Vì không khí ở đây vốn rất thuận lợi, có thể trồng không cần có nhà màng, không cần điều khiển nhiệt độ không khí hoặc nước tưới riêng bên trong. Nhưng sau này, khi bón phân hóa học quá nhiều, làm cho đất đai chai đi, cây trồng bị hụt hẫng; các loại vi sinh vật, đáng lẽ rất phong phú trong môi trường đất để cây trồng hấp thụ, có sức đề kháng khi sâu bệnh vào không dám ở lại, thì nay đã không còn. Khi cây trồng đề kháng tự nhiên như xưa không còn nữa mới nghĩ ra việc phải trở về khung cảnh không có sâu bịnh. Vậy là phải có nhà màng ngăn sâu bịnh để có thể vẫn bón phân hóa học mà không có sâu bịnh và vẫn đạt được năng suất cao mà cây trồng vẫn sạch.

Cần tận dụng hết 3.0

Tại ĐBSCL, với nông nghiệp 3.0 (cơ giới hóa, tự động hóa), mình chưa xài hết khâu trồng trọt. Thí dụ với cây lúa, chúng ta đã hoàn toàn cơ giới hóa hết các khâu cày, bừa, trục, bón phân, sạ lúa, thu hoạch. Nhưng bà con vẫn còn mắc nhược điểm là bón phân hóa học quá nhiều làm cho chất lượng sản phẩm chưa ngon, không sạch cho nên có khi gạo xuất khẩu cũng bị trả về.

Ngoài ra, khi sử dụng phân hóa học nhiều như hơn 40 năm nay thì phải sử dụng thuốc trừ sâu bịnh nhiều, dẫn tới việc nông dân tốn quá nhiều tiền và giá thành sản xuất thường cao hơn ở nước ngoài. Thí dụ với lúa, 1 kg lúa làm theo kiểu này hiện phải tốn từ 3.800 – 4.200 đồng. Tốn kém tiền phân, thuốc, hạt giống và sự lãng phí về phân bón lại tạo ra hiệu ứng nhà kính. Có tới 40-60% phân đạm bón xuống đất, cây lúa ăn không kịp, bay lên trời làm ra khí nhà kính, góp thêm vô việc làm cho trái đất nóng lên, làm biến đổi khí hậu. Trong khi đó, lượng phân thấm xuống nước, dưới đất cũng đã làm ô nhiễm cho nước, cho đất. Cho nên phải cung cấp thêm cho bà con nông dân kỹ thuật mới; cũng xài phân hóa học nhưng phải kèm theo phân vi sinh và bón trước khi sạ. Như thế có thể hạn chế thất thoát phân vào không khí, không vào trong nước, trong đất nhiều mà phần lớn được cây lúa, cây xoài, cây bắp… hấp thụ. Và nhờ sức đề kháng của cây trồng nhiều hơn do có kèm phân vi sinh, giảm xài phân thuốc, giá thành sản xuất sẽ hạ; thí dụ cây lúa chi phí sản xuất chỉ còn chừng 2.000 đồng/kg.

Đây là việc mà chúng ta cần đẩy mạnh cho nông nghiệp 3.0 cộng với kỹ thuật mới này. Các nhà khoa học Thái Lan cũng đang đẩy mạnh như vậy và họ nói đó là 4.0 của họ. Họ dùng mọi biện pháp để hạ giá thành lúa. Mình cũng đang có những mô hình này rồi và tới đây phải đẩy mạnh hơn. Nếu chúng ta đẩy mạnh cái 3.0 cải tiến này về cây lúa thì chắc chắn là mình sẽ xuất khẩu gạo tăng được lợi nhuận hơn.
Trồng rau thủy canh ở Cần Thơ. Ảnh: LÊ ANH TUẤN

Làm tiếp 4.0

Với nông nghiệp 4.0 ở ĐBSCL, hiện vài nơi cũng đã sử dụng nhà màng, nhà lưới trồng dưa lưới, trồng rau sạch, nuôi tôm. Có mô hình như của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Mỹ ở Trà Vinh, Đồng Tháp; giúp nông dân có thể điều khiển bằng điện thoại thông minh, khi nào bơm nước vô, lúc nào tháo nước ra, rồi cải tiến bón phân để hòa tan chậm hơn. Cái này có thể nói cũng là 4.0 nhưng mới manh nha chứ chưa áp dụng rộng rãi.

Nông nghiệp 4.0 của Việt Nam hiện so với các nước thì chậm hơn vì chưa thích nghi và cái 3.0 mình xài chưa hết. Với 4.0, nếu làm thì phải làm thế nào để đông đảo bà con nông dân có thể hưởng lợi được. Mà điều này khó, vì đầu tư lớn thì do các đại gia đầu tư và họ đưa hàng vô siêu thị bán chớ người nông dân đại trà chưa làm được.

Ở ĐBSCL, nếu sản xuất dưa lưới tốt có thể xuất qua Nhật, Hàn Quốc. Rồi tôm và các loại trái cây nhiệt đới, rau cải cũng có thể làm được. Đặc biệt là những cây hoa quý như phong lan, cây cảnh bon-sai chưng văn phòng, có thể trồng trong nhà màng và áp dụng kỹ thuật tưới 4.0 để xuất khẩu. Như Hà Lan, nơi những vùng đất ngập nước được biến thành những vùng nhà màng sản xuất hoa xuất khẩu ra khắp thế giới với giá rất cao, chỉ sau Mỹ.

Mở thị trường

Phải biết kết hợp với các doanh nghiệp tìm đầu ra cho sản phẩm. Mở thị trường thì dứt khoát phải có chiến lược. Ở trong nước, hiện nay gần như tỉnh nào cũng có triển lãm về nông nghiệp nhưng chỉ mới bán được với nhau chứ chưa kết nối được với mấy đại gia chuyên triển lãm. Nhà nước phải đứng ra liên lạc với họ. Thí dụ Thái Lan có nhiều triển lãm quốc tế do những công ty chuyên về triển lãm của châu Âu sang thành lập; họ đều có danh sách khách hàng lớn trên thế giới và chỉ họ mời người ta mới.

Cơ quan xúc tiến thương mại của ta phải kết nối mở thị trường với Bangkok hoặc Tokyo, sắp tới là Đài Loan. Giai đoạn này, chúng ta nên tích cực tham gia những hội chợ nông nghiệp quốc tế để giới thiệu sản phẩm của mình. Kế tiếp là mời những tổ chức chuyên nghiệp nổi tiếng thế giới qua Việt Nam làm triển lãm như bên Thái Lan hoặc Nhật.

Giúp nông dân

Nông dân mình khó làm nông nghiệp 4.0 vì họ không đầu tư được. Nói tới công nghệ cao là phải có đầu tư. Nông dân sẽ là thành người tham gia trong chuỗi cung ứng. Các nhà doanh nghiệp muốn đầu tư thì phải có đất rộng. Nhưng đất rộng, đất nạc giờ đâu còn nhiều. Mà đi đâu thì cũng có nông dân. Vậy thì sự khéo léo của chính quyền địa phương là phải biết cách làm cho doanh nghiệp bắt tay với nông dân. Thí dụ ông doanh nghiệp này muốn xây nhà máy chế biến sản phẩm cần mấy trăm héc-ta đất để sản xuất ra nguyên liệu thì chính quyền giải thích làm sao để nông dân góp đủ mấy trăm héc-ta đất đó. Phải bàn với nông dân là từ đây, đầu ra của bà con sẽ ổn định nhờ ông doanh nghiệp này. Rồi bà con làm y chang như quy định ổng đưa ra để sản phẩm luôn có đủ tiêu chuẩn cho thu hoạch. Làm như thế nông dân mới làm được.

Nông dân tham gia chuỗi cung ứng nguyên liệu này và lên mức cao nữa thì phải đầu tư nguyên liệu cho hợp tác xã (HTX) kiểu mới. HTX vừa cung cấp nguyên liệu vừa đầu tư để có sản phẩm bán giá cao, hai bên có lời.

Chính quyền không nên chạy đua làm nông nghiệp 4.0 thiếu suy tính. Phải làm vừa có ích cho nông dân và cho doanh nghiệp. Không nên để doanh nghiệp tự mua đất rồi “đuổi” nông dân đi để muốn làm bao nhiêu nhà màng thì làm. Phải làm thế nào để đưa cái 4.0 này cho người nông dân tham gia được. Thí dụ với những cây trồng ngắn trong nhà màng thì có thể đầu tư nhà màng cho một nhóm nông dân để họ cùng làm. Hoặc đầu tư cho cây lúa thì nên bón phân lót bằng phân hữu cơ vi sinh do doanh nghiệp cung cấp để nông dân làm ra lúa có chất lượng tốt nhứt.

Còn nhà khoa học thì phải làm việc với cả hai. Vì nhà doanh nghiệp phải tham khảo nhà khoa học trước để sau đó nhà khoa học và nông dân ngồi lại thỏa thuận ra được quy trình VietGAP hay GlobalGAP sao cho sát thực tế để giúp nông dân làm đúng quy trình này chớ không được làm theo cái cũ nữa.
HUỲNH KIM (ghi)
* Đã đăng báo Cần Thơ 16-10-2018:


Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018

ĐBSCL: Triều cường và lũ sẽ xuống sau ba ngày tới


Huỳnh Kim

(TBKTSG Online) - Triều cường từ biển kết hợp nước lũ sẽ còn gây ngập ở nhiều tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và sẽ xuống dần sau ngày 14-10.

Cảnh ngập lụt trên đường Mậu Thân, thành phố Cần Thơ sáng ngày 11-10. Ảnh: Huỳnh Kim
Theo Ban Chỉ huy Phòng chống Thiên tai – Tìm kiếm cứu nạn thành phố Cần Thơ, mực nước trên sông Hậu đang lên cao và sẽ rút dần sau ngày 14-10. Hôm nay và ngày mai, 12-10, nước tiếp tục lên trên báo động 3 từ 0,15m đến 0,35m, gây ngập lụt nhiều đường phố nội ô và ven đô Cần Thơ vào sáng sớm và chiều tối.


Các tỉnh khác như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Trà Vinh, Tiền Giang, Long An, Bến Tre… nhiều nơi cũng đã và đang bị ngập như Cần Thơ. Sau ba ngày tới, nước sông Tiền, sông Hậu sẽ xuống theo nhịp triều cường và lũ trên sông Mekong đang thấp dần.

Cảnh ngập lụt trên đường Trần Văn Hoài, thành phố Cần Thơ sáng ngày 11-10. Ảnh: Huỳnh Kim
Tình trạng ngập lụt ở đô thị ĐBSCL năm nay được cho là nặng nhất từ trước tới giờ, dù mực nước lũ không cao hơn lũ năm 2011. Giải thích về việc này, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu, Đại học Cần Thơ, cho rằng sự bất thường này có hai lý do.

Về tự nhiên, nước lũ về là tràn vào các vùng trũng lớn ở đầu nguồn như Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên nhưng nay khu vực này đã xây rất nhiều bao đê để sản xuất nên nước lũ đổ nhanh xuống hạ nguồn. Với các đô thị hạ nguồn như Cần Thơ, do nhiều tuyến đường được nâng cấp không đồng bộ, có chỗ cao chỗ thấp nên khi triều cường lên lúc lũ về, nước tràn vào các chỗ thấp gây ngập sâu. Ngoài ra, tình trạng sụt lún do khai thác nước ngầm quá mức ở ĐBSCL cũng gây ngập như hiện tại.

Ngập lụt ở phường Cái Khế và cồn Khương:





* Đã đăng TBKTSG Online 11-10-2018:


Thứ Tư, 10 tháng 10, 2018

Bệnh viện quốc tế Phương Châu cập nhật tiến bộ về an toàn sản khoa


Huỳnh Kim
Chủ Nhật,  7/10/2018, 19:32 

(TBKTSG Online) - Trong nhiều nội dung báo cáo tại Hội nghị Khoa học thường niên của Bệnh viện quốc tế Phương Châu (ACP) tại Cần Thơ hôm nay 7-10, việc kết nối những tiến bộ trong an toàn sản khoa trên thế giới được nhiều chuyên gia trong nước và Nhật Bản nhấn mạnh.


Sáu bác sĩ thuộc Tập đoàn Y tế Kishokai (Nhật Bản) và gần 20 bác sĩ, chuyên gia trong nước đã trình bày trước gần 800 đại biểu 42 báo cáo liên quan đến sản - phụ khoa, hiếm muộn, nam khoa, nhi - sơ sinh, đa khoa, quản lý chất lượng bệnh viện và điều dưỡng tại Bệnh viện quốc tế Phương Châu năm nay.

Riêng sản - phụ khoa có 4 phiên thảo luận với 19 báo cáo kết nối những tiến bộ mới nhất trên thế giới trong an toàn sản khoa. Các bác sĩ của Bệnh viện quốc tế Phương Châu, Bệnh viện Phụ sản Cần Thơ, Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Đại học Y dược TPHCM, Bệnh viện Bình Dân… có cơ hội chia sẻ kinh nghiệm với các đồng nghiệp Nhật Bản, nơi đang có tỷ lệ sinh non và tử vong sơ sinh thấp nhất thế giới.


Theo bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hồ, Giám đốc Bệnh viện Quốc tế Phương Châu, mục tiêu của bệnh viện năm nay nhằm hoàn thiện chuỗi giá trị chăm sóc sức khỏe sinh sản toàn diện cho người dân và hướng tới việc đạt tiêu chuẩn quốc tế JCI (tổ chức giám định chất lượng bệnh viện quốc tế tại 90 quốc gia).


Bệnh viện quốc tế Phương Châu Cần Thơ đã ký kết hợp tác y tế toàn diện với Tập đoàn Y tế Kishokai Nhật Bản vào ngày 7-7-2018 và được chọn báo cáo Poster tại Diễn đàn Quốc tế về chất lượng và an toàn trong chăm sóc sức khỏe tại Melbourne, Australia vào tháng 9-2018.

* Đã đăng TBKTSG Online 7-10-2018:

Phuong Chau hospital capitalizes on global advancements in obstetrics safety

By Huynh Kim
Sunday,  Oct 7, 2018,14:14 (GMT+7)

Delegates join the Annual Conference of Phuong Chau International Hospital in Cần Thơ City on October 7 - PHOTO: HUỲNH KIM
CAN THO – Capitalizing on advancements in the global obstetrics safety was emphasized at an annual scientific conference, ACP 2018, held by Phuong Chau International Hospital in the Mekong Delta city of Can Tho today, October 7.

At the conference, some 800 delegates heard and discussed 42 reports related to the fields of obstetrics, pediatrics and infertility among others as presented by six doctors from Japan’s Kishokai Medical Corporation and 20 local doctors and experts.

Discussing the obstetrics field, there were four sessions of discussion with 19 reports on utilizing the latest advancements in obstetrics safety.

At the conference, doctors of ACP, Can Tho Obstetrics Hospital, Tu Du Maternity Hospital in HCMC, the University Medical Center HCMC, and Binh Dan Hospital exchanged their experiences with doctors from Japan, which has the world’s lowest premature birth and neonatal death rate.

Dr. Nguyen Thi Ngoc Ho, director of Phuong Chau International Hospital, said that the conference was aimed at completing comprehensive reproduction health care chain and helping the hospital speed up meeting the JCI standard.

Phuong Chau International Hospital in the Mekong Delta City of Can Tho earlier signed a comprehensive cooperation agreement with Japan’s Kishokai Medical Corporation on July 7 to promote reproductive health services in Vietnam, and was chosen to make a Poster presentation at the International Forum on Quality and Safety in Healthcare in Melbourne, Australia in September.

* Đã đăng Saigon Times Daily 7-10-2018:
https://english.thesaigontimes.vn/63241/phuong-chau-hospital-capitalizes-on-global-advancements-in-obstetrics-safety.html

Nông nghiệp công nghệ cao không phải cây đũa thần!

Huỳnh Kim thực hiện
Thứ Sáu,  5/10/2018, 10:36 

(TBKTSG) - Nông nghiệp công nghệ cao hiện được xem là một định hướng chiến lược trong phát triển kinh tế tại nhiều địa phương, đặc biệt ở những địa phương mà kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn như khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Bên cạnh vai trò của Nhà nước về mặt chính sách, việc mạnh dạn tham gia đầu tư của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng. Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Hồng Quang, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Nông trại sinh thái (Ecofarm), đã trao đổi với TBKTSG về vấn đề này.
Trong nhà lưới trồng dưa lê của Ecofarm ở Đồng Tháp. Ảnh: Văn Sơn
TBKTSG: Cơ duyên nào đưa ông đến Phú Quốc lập Ecofarm từ năm 2007 để làm “nông nghiệp sạch” trong khi lúc bấy giờ việc này còn khá mới với chúng ta?

- Ông Nguyễn Hồng Quang: Giữa năm 2007 tôi ra Phú Quốc vài lần để nghiên cứu đầu tư một dự án du lịch nghỉ dưỡng. Nhưng khi chứng kiến cảnh hòn đảo du lịch xinh đẹp này lại thiếu hụt trầm trọng nguồn rau củ quả xanh sạch có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, nhất là trong mùa mưa bão, tôi đã nảy ra ý định đầu tư vào sản xuất rau củ quả sạch ngay tại đây, dù lúc đó tôi không có kinh nghiệm về việc này. May mắn là sau đó tìm được một số nhà khoa học và cộng sự cùng chí hướng, tôi đã mạnh dạn thành lập Công ty cổ phần Nông trại sinh thái (Ecofarm) tại Phú Quốc ngay trong tháng 8-2007 với định hướng chính là hoạt động sản xuất nông nghiệp bền vững gắn với trách nhiệm xã hội và môi trường.

Tiếp đó, vào đầu năm 2008, cùng các nhà khoa học này, chúng tôi đã lặn lội vài tuần ở Israel để khảo sát các mô hình nông nghiệp tiên tiến và quyết định nhập khẩu từ Israel một nhà màng trồng rau sạch diện tích 4.200 mét vuông với hệ thống tưới nhỏ giọt và phun sương đồng bộ. Hệ thống này bắt đầu hoạt động từ tháng 1-2009 với sự hiện diện của Đại sứ Israel trong ngày khai trương. Lúc đó, đây là hệ thống nhà màng lớn và hiện đại nhất tại ĐBSCL.


TBKTSG: Đến nay thì Ecofarm đã “nở nồi” ra Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp cũng với công nghệ này của Israel. Có phải ông muốn khai thác đặc sản ở các địa phương này?

- Ở Phú Quốc, hiện nay khu nông trại Ecofarm 6,5 héc ta với hệ thống 11.000 mét vuông nhà màng trồng rau đồng bộ và vườn cây ăn trái đa dạng đang được đầu tư toàn diện để có thể chuyển mình thành một điểm du lịch nông nghiệp hàng đầu tại đảo ngọc này. Ở huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang, có khu nông nghiệp hữu cơ 84 héc ta, đang từng bước đi vào hoạt động.

Ở Đồng Tháp thì tỉnh đã giao cho Ecofarm quy hoạch và đầu tư khu nông nghiệp công nghệ cao tại huyện Thanh Bình với diện tích ban đầu trên 10 héc ta. Ở đây hiện có khu nhà màng 3 héc ta nhập khẩu đồng bộ từ Công ty Netafim (Israel) chuyên sản xuất dưa lê, dưa lưới và các giống cây con sạch bệnh phục vụ bà con nông dân địa phương.

Còn tại Long An, Ecofarm hiện tập trung vào việc nghiên cứu và sản xuất các loại phân hữu cơ vi sinh thế hệ mới trên nền than sinh học (Biochar) cũng như các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học thân thiện với môi trường.


TBKTSG: Kết quả ra sao?

- Các loại giống cây con sạch bệnh của Ecofarm Đồng Tháp đang được bà con địa phương tín nhiệm. Sản phẩm dưa lê, dưa lưới Ecofarm đang tiêu thụ mạnh trong hệ thống siêu thị Co.opmart ở ĐBSCL.

Có sản phẩm và thị trường nhưng chúng tôi không đầu tư nông nghiệp công nghệ cao theo hướng “cửa đóng then cài”. Ecofarm luôn mở rộng cửa đón bà con nông dân vào tham quan học hỏi kinh nghiệm thực tế. Ngoài ra, Ecofarm cũng thường xuyên tổ chức hội thảo khoa học và tập huấn kỹ thuật canh tác tiên tiến, bền vững, giảm lệ thuộc vào phân thuốc hóa học cho bà con nông dân các địa phương.


TBKTSG: Như vậy, theo ông thì vốn, công nghệ, thị trường hay chính sách đã tạo nên thành công của Ecofarm?

- Tôi chưa dám nói chúng tôi đã thành công. Đối với Ecofarm, thành công không phải là đích đến mà là một quá trình phấn đấu, cống hiến và hy sinh. Tuy nhiên qua quá trình hoạt động, Ecofarm đã tạo được niềm tin tưởng đối với chính quyền, bà con nông dân và người tiêu dùng tại các địa phương.

Theo tôi thì vốn, công nghệ, thị trường hay chính sách đều có tầm quan trọng đối với các doanh nghiệp nông nghiệp. Tuy nhiên, sự tăng trưởng rất nhanh chóng và toàn diện của Ecofarm Đồng Tháp, đơn vị thành viên trẻ tuổi nhất trong hệ thống các công ty thành viên Ecofarm, đã cho thấy chính sách thông thoáng, cởi mở, nhất quán, đồng bộ từ trên xuống dưới của tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh PCI cao, đi đầu trong quá trình tái cơ cấu nông nghiệp như Đồng Tháp, là có tác động hết sức tích cực đối với sự phát triển của một doanh nghiệp ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao theo hướng sinh thái và bền vững như Ecofarm.


TBKTSG: Riêng thị trường thì sao? Và làm sao để bà con nông dân bán được sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao có giá cao hơn sản phẩm bình thường?

- Phú Quốc đang chuyển mình thành một trung tâm du lịch tầm cỡ quốc tế. Ecofarm đang tiến hành chuẩn bị đầu tư trung tâm giống nông lâm nghiệp công nghệ cao tại xã Bãi Thơm, hướng tới đáp ứng nhu cầu cây cảnh ngày một gia tăng tại đây. Ở Đồng Tháp, Ecofarm đang liên kết với các hội quán nông dân Sa Đéc phát triển ứng dụng các công nghệ nhà màng, tưới nhỏ giọt và chế phẩm sinh học chuyên dụng cho cây hoa. Sản phẩm hoa cảnh Ecofarm sẽ được cung cấp cho TPHCM và các tỉnh lân cận trong tương lai gần.

Để có thể bán sản phẩm nông nghiệp giá cao hơn thì chắc chắn chất lượng phải cao hơn và phải có thương hiệu. Muốn vậy, người nông dân phải kiên trì áp dụng các quy trình sản xuất theo hướng sinh thái hữu cơ. Bà con nông dân cũng phải liên kết với nhau chặt chẽ để xây dựng thương hiệu nông sản địa phương. Quá trình này không thể thiếu sự đồng lòng dốc sức của các cấp chính quyền, nhà khoa học, các doanh nghiệp và các tổ chức nông dân. Ecofarm đang từng bước tham gia tích cực vào quá trình liên kết này.


TBKTSG: Có ý kiến cho rằng vùng ĐBSCL khó áp dụng nông nghiệp công nghệ cao thành công. Ông có chia sẻ không?

- Theo tôi, khái niệm nông nghiệp công nghệ cao không phải là cái gì đó xa vời. Công nghệ nào khi ứng dụng mà mang lại chất lượng cao hơn, năng suất ổn định, giảm lệ thuộc vào hóa học, môi trường được gìn giữ, lợi ích kinh tế gia tăng bền vững thì sẽ được người nông dân quan tâm và ứng dụng.

Ví dụ như việc ứng dụng hệ thống tưới nhỏ giọt trên cây ăn quả, rau củ và hoa cảnh có thể mang lại lợi ích kinh tế bền vững cho nhiều vùng tại ĐBSCL thông qua quản lý dinh dưỡng đồng bộ. Việc ứng dụng chế phẩm sinh học có thể giúp gia tăng hiệu suất phân bón, ngừa bệnh trong rễ, trong đất, hay ứng dụng bảo vệ thực vật sinh học là những công nghệ có thể giúp giảm sử dụng phân và thuốc hóa học, tăng chất lượng sản phẩm, cũng như giúp xây dựng thương hiệu nông sản xanh sạch một cách bền vững.

Những công nghệ này không quá đắt đỏ, không quá phức tạp nhưng mang lại hiệu quả cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, không thể có một công thức rập khuôn cho nông nghiệp công nghệ cao. Vấn đề là chúng ta cần chọn công nghệ phù hợp với từng vùng đất, từng cây trồng vật nuôi, khả năng tài chính, trình độ kỹ thuật của bà con nông dân ĐBSCL.

TBKTSG: Vậy ông có đề xuất gì thêm với Nhà nước hay khuyến cáo gì với bà con nông dân?

- Nông nghiệp công nghệ cao không phải là cây đũa thần. Đầu tư nông nghiệp công nghệ cao cũng không phải là một phong trào đầu tư ngắn hạn mang lại hiệu quả tức thời. Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích ưu đãi hợp lý đối với các doanh nghiệp hay tổ chức nông dân mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp.

Tuy nhiên, bà con nông dân cần hết sức thận trọng trong việc quyết định đầu tư. Bà con nên mạnh dạn tìm tòi, học hỏi từ các mô hình đi trước. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Bà con sẽ tự tìm ra cho mình hướng đi phù hợp với điều kiện của mình. Hãy luôn nhớ, sự liên kết trong nội bộ nông dân và sự liên kết với các doanh nghiệp, với các tổ chức nông dân khác là điều vô cùng cần thiết. Xin đừng sản xuất nông nghiệp đơn thuần mà hãy làm kinh tế nông nghiệp dựa trên ứng dụng công nghệ cao một cách hợp lý.

Công nghệ cao không chỉ ở khâu sản xuất. Mong bà con sẽ ứng dụng công nghệ một cách hiệu quả trong khâu xây dựng thương hiệu và tiếp thị bán hàng.

* Đã đăng TBKTSG Online 5-10-2018:
https://www.thesaigontimes.vn/279567/nong-nghiep-cong-nghe-cao-khong-phai-cay-dua-than-.html

Bàn về Dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé

Sau các hội thảo về Dự án thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé (CLCB) tại Cần Thơ, TPHCM và Kiên Giang, đến nay vẫn còn nhiều ý kiến phản biện về hiệu quả của dự án này. Báo Cần Thơ ghi nhận một số nội dung chính xoay quanh dự án này.

Huỳnh Kim

Tóm tắt dự án

Dự án thủy lợi CLCB được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư giai đoạn 1 ngày 17-4-2017, dựa theo tờ trình của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) ngày 5-4-2017. Công trình do Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng Thủy lợi 10 – thuộc Bộ NN&PTNT làm chủ đầu tư. Đơn vị tư vấn lập báo cáo đầu tư dự án là Liên danh Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam – Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam – Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi 2. Cơ quan lập Báo cáo Đánh giá tác động môi trường là Viện Kỹ thuật Biển, Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam. Dự án là sự kế thừa của các đề tài nghiên cứu từ năm 2000 và dự án được lập từ năm 2010 đến nay.


Một cống ở Phụng Hiệp (Hậu Giang) đã xây 2 năm nhưng chưa hề được sử dụng. (Ảnh chụp ngày 12-7-2018). Ảnh: LÊ ANH TUẤN

Dự án nằm chủ yếu ở vùng Bán đảo Cà Mau; phía bắc là kênh Cái Sắn, phía Nam và Đông Nam là kênh Quản lộ-Phụng Hiệp, phía Đông Bắc là sông Hậu và phía Tây là Vịnh Thái Lan. Tổng diện tích đất tự nhiên vùng dự án là 909.248 ha thuộc Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ.

Dự án CLCB giai đoạn này có 4 mục tiêu: Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông CLCB, đồng thời góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang; Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định; Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn; Kết hợp phát triển giao thông thủy bộ trong vùng dự án.

Về công trình của dự án giai đoạn này, có cụm công trình cống CLCB (với cống Cái Lớn, cống Cái Bé, tuyến đê nối 2 cống và quốc lộ 63 kèm các cống dưới đê, tuyến kênh nối 2 sông CLCB); công trình nạo vét kênh Thốt Nốt và kênh KH6; sửa chữa cống, âu Tắc Thủ; cụm công trình bờ Đông kênh Chắc Băng và sông Trẹm; xây cống Lương Thế Trân, cống Ông Đốc,; cống Xẻo Rô, cống Ngọn Tắc Thủ và Trạm bơm Tắc Thủ. Dự kiến vốn cho giai đoạn 1 của dự án là 3.309,5 tỉ đồng.

Vị trí dự án thủy lợi CLCB ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Ý kiến phản biện

Theo Giáo sư Tiến sĩ (GS TS) Nguyễn Ngọc Trân, nguyên chủ nhiệm Chương trình khoa học nhà nước Điều tra cơ bản tổng hợp ĐBSCL, trước tiên dự án này phải được điều chỉnh theo tinh thần Nghị quyết 120/CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, ban hành ngày 17-11-2017. Ông đề nghị: “Chúng tôi cho rằng các bước phê duyệt dự án CLCB phải tuân thủ nghiêm túc Luật Đầu tư công và Nghị quyết 120 về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Đó là, mọi dự án công trình phải được tính toán thật kỹ, được phản biện khách quan, khoa học bảo đảm không hối tiếc đầu tư; và trước khi chọn một giải pháp công trình, phải tính toán cán cân được – mất  trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường”.

Riêng nhóm chuyên gia ở Trường Đại học Cần Thơ là Phó GS TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, TS Nguyễn Hồng Tín, TS Đặng Kiều Nhân và chuyên gia độc lập về sinh thái, Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, đã công bố báo cáo phản biện 37 trang: “Đánh giá các hệ thống mặn vùng ven biển châu thổ Cửu Long và Dự án Thủy lợi sông CLCB. Theo TS Dương Văn Ni, có thể tóm tắt:

Về mục tiêu kiểm soát nguồn nước mặn, phải trả lời được 2 câu hỏi: Nguồn nước mặn nào? Tại sao phải kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển? Vì ở ĐBSCL không có nhánh sông tự nhiên nào từ sông Hậu chảy ra biển Tây. Đất vùng bán đảo Cà Mau không phải do phù sa sông Hậu bồi lắng trực tiếp mà do phù sa từ phía biển bồi tụ; trong đất có muối. Mỗi năm khi mùa khô đến thì muối trong đất bị mao dẫn lên mặt đất; vào mùa mưa, nước mưa hòa tan muối và đổ vào sông rạch. Như vậy là có hai nguồn nước mặn: nước mặn từ phía biển và nước mặn hình thành tại chỗ. Vậy mục tiêu của dự án chỉ kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển (xây cống) liệu có đúng?

Ở vùng bán đảo Cà Mau, mỗi năm lượng nước mưa >2.000mm và người dân biết tận dụng nước mưa rửa mặn lớp đất mặt (20-30 cm) để trồng lúa hoặc lên liếp, sau vài năm hết mặn trồng rau màu hay cây ăn trái. Cũng vì đất được phù sa bồi lắng trong môi trường nước mặn hoặc lợ nên trong đất hình thành vật liệu sinh phèn, gọi là đất phèn tiềm tàng. Ở môi trường yếm khí thì vô hại, nhưng nếu tiếp xúc với không khí thì bị oxy hóa, sinh ra phèn làm nước và đất rất chua, cây trồng và vật nuôi không sống được. Tại các vùng này, người dân đã biết cách đưa nước mặn vào ruộng vừa để “ém phèn”, vừa để khai thác thủy sản tự nhiên như cá kèo, cá đối, cua, tép bạc và nuôi tôm sú. Vậy kiểm soát nguồn nước mặn từ phía biển thì ảnh hưởng nguồn lợi thủy sản này ra sao? Nếu không cho nước mặn vào thì phải có nguồn nước khác thay thế để ém phèn. Nguồn nước ngọt từ sông Hậu thì chảy không tới nên chỉ còn nước mưa, vậy nếu hạn hán xảy ra thì lấy nguồn nước nào để ém phèn?

Nhờ năng lượng dòng nước ngọt từ phía thượng nguồn (mũi tên màu xanh) và năng lượng dòng nước mặn (mũi tên màu đỏ) mà môi trường tự nhiên của ĐBSCL được tẩy rửa hằng ngày (con nước lớn-ròng), hằng tháng (con nước rong-kém) và hằng năm (mùa nước nổi-cạn). Nguồn năng lượng này cũng giúp cho nước chảy được trong các kênh rạch vì địa hình ĐBSCL quá bằng phẳng.
Về mục tiêu giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Kiên Giang, Hậu Giang, Bạc Liêu và Sóc Trăng thuộc lưu vực sông CLCB. Theo đề cương dự án thì đó là mâu thuẫn mặn - ngọt. Nhưng thực tế ở đây, nơi nào đất gò hơn thì bà con xẻ mương phèn trồng lúa do dễ tiêu thoát nước còn nơi nào đất trũng thấp (đất láng) thì bao vuông nuôi tôm sú, nên đất nông nghiệp xen kẽ với đất nuôi trồng thủy sản. Cách sử dụng nước là nếu cần bơm nước ngọt cho lúa thì người dân chọn lúc nước ròng và nếu cần bơm nước mặn cho tôm thì người ta chọn lúc nước lớn. Có mâu thuẫn gì đâu? Trong thời gian qua có xảy ra xung đột là do các hộ nuôi tôm thâm canh giữ nước mặn quanh năm, nên lúc xung quanh người ta trồng lúa thì họ vẫn giữ mặn và làm mặn xì ra ảnh hưởng đất nông nghiệp xung quanh. Nếu giữ cách canh tác truyền thống là trên cùng một thửa ruộng, mùa nắng thì lấy nước mặn vào nuôi tôm, mùa mưa xổ mặn xong trồng lúa (mô hình lúa-tôm), tức là người dân biết cách canh tác theo mặn-ngọt ngay trên cùng một thửa ruộng và cả xóm làng làm nhịp nhàng hết vụ lúa đến vụ tôm nên mấy chục năm qua thì không có mâu thuẫn gì. Bây giờ kiểm soát mặn trên sông rạch để giữ nước ngọt nhiều hơn, liệu người dân có đồng thuận?

Bài học về việc người dân đòi phá bỏ cống Láng Trâm (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau) để có đủ nguồn nước mặn cho nuôi trồng thủy sản vẫn còn nguyên giá trị.

Về mục tiêu góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang. Thủy sản này là nuôi trồng hay đánh bắt tự nhiên? Năng suất thủy sản nuôi trồng của khu vực này là rất thấp so với thủy sản đánh bắt tự nhiên trên sông rạch và vùng biển tiếp giáp. Trong đó có rất nhiều loài thủy sản sử dụng sông rạch như là bãi đẻ và vùng biển tiếp giáp là bãi ăn, và nhiều loài thì sử dụng ngược lại. Vì vậy lúc nước lớn là lúc nhiều loài thủy sản từ biển vào sông rạch để sinh sôi và kiếm ăn. Vậy việc đóng cống lúc này sẽ làm ảnh hưởng ra sao?

Với mục tiêu chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn ngọt cho vùng ven biển. Nếu xảy ra hạn hán kéo dài, mặn-phèn trong đất xì lên làm ảnh hưởng cây trồng thì nguồn nước ngọt giữ được trong các sông rạch liệu có đủ để bơm vào đồng ruộng mà pha loãng độ mặn-phèn này không? Rồi rửa lượng mặn - phèn này đi đâu? Giả như hạn hán kiểu năm 2015-2016 thì mực nước sông Hậu thấp hơn bình thường, vậy nếu có xây thêm trạm bơm bổ sung từ Cần Thơ, chưa chắc có đủ nước ngọt để bơm. Nếu có, chưa chắc nước chảy được vì nếu bơm thì phải bơm lúc nước ròng từ sông Hậu để không bị mặn, nhưng phía biển Tây coi chừng lại là nước lớn vì có hai chế độ triều khác nhau. Những tình huống này, trong đề cương của dự án chưa đưa ra được giải pháp.

Với mục tiêu tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn. Đây là mục tiêu mà từ các giải pháp đến tính khả thi đều kém thuyết phục. Vì sự di chuyển nước của vùng bán đảo Cà Mau là nhờ hai chế độ triều khác nhau giữa biển Đông (bán nhật triều) và biển Tây (nhật triều) và mực nước trên sông Hậu, mà chúng tạo ra lực hút - đẩy rất nhịp nhàng, làm cho nước di chuyển trong toàn vùng và di chuyển theo hướng từ Đông sang Tây.

Hệ thống cống đập trên quốc lộ 1 (dự án Ngọt hóa bán đảo Cà Mau), vận hành theo cách đóng cống lúc nước lớn và mở cống lúc nước ròng trong mùa khô, đã làm mất sức đẩy nước từ biển Đông sang biển Tây rất nhiều, nên tạo ra những vùng nước không chảy (giáp nước). Do các khu vực đông dân cư, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản… của nơi đây chưa có hệ thống xử lý nước thải, nên đã gây ra ô nhiễm nguồn nước trầm trọng. Bây giờ thêm cống CLCB cũng vận hành như vậy thì sẽ mất luôn sức đẩy của nước từ phía biển Tây, vậy tình trạng ô nhiễm nguồn nước nơi đây sẽ ra sao?

Tốc độ lún sụt hiện nay của khu vực Cà Mau nhanh hơn nơi dự kiến xây cống CLCB, tức là trong tương lai rất gần, vùng Cà Mau sẽ thấp hơn. Vậy làm sao cho nước chảy từ chỗ thấp lên chỗ cao mà gọi là tiêu úng? Rồi có phải xây thêm trạm bơm không?
Vùng Tây Nam sông Hậu đã có ba dự án thủy lợi lớn là Thoát lũ ra biển Tây, Ô Môn – Xà No và Ngọt hóa bán đảo Cà Mau. Vậy dự án CLCB Bé này sẽ có những tác động tích cực và tiêu cực nào đối với các dự án kia?

Nhóm chuyên gia phản biện này khẳng định: “Dự án Thủy lợi Cái Lớn - Cái Bé sẽ phá hủy tinh thần Nghị quyết 120/CP, Quy hoạch tích hợp ĐBSCL do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang chủ trì soạn thảo đến 2020 và Chiến lược nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu do Bộ NN&PTNT soạn thảo nhằm triển khai NQ 120/CP”. Đồng thời đề nghị Bộ NN&PTNT, cơ quan chủ trì dự án, sớm công bố tất cả các tài liệu liên quan về dự án lên cổng thông tin điện tử cho mọi người được tham gia đóng góp ý kiến.

* Đã đăng báo Cần Thơ 1-10-2018: